8/6/11

MÙI CỦA TIỂU THUYẾT



Đọc sách, trong chừng mực nào đó, là một công việc dũng cảm. Thừa nhận rằng bạn mua, và tệ hơn, đọc tiểu thuyết lại cần nhiều dũng cảm hơn.

Phần lớn bạn bè tôi có nhiều sở thích khác nhau: chụp ảnh, lái xe caravan, câu cá, chơi tennis, sưu tầm đồ kỹ thuật số. Bạn chụp ảnh say sưa chụp ảnh mọi người, mọi vật, mỗi khi có dịp hội họp lại thấy bạn với một lô ống kính, chân đế, lăng xăng chạy tới chạy lui. Bạn chơi tennis gặp ai cũng thao thao bất tuyệt về Nadal, về Federer, về các giải to và nhỏ. Bạn đi thi tennis cấp phường, cấp quận, cấp công ty mình và công ty khác. Giống như vậy là tình yêu của bạn mê câu cá, bạn lái xe caravan, bạn chơi đồ kỹ thuật số. Các bạn có thể thoải mái huyên thuyên về tình yêu của mình giữa đám đông.

Giữa đám đông, chưa bao giờ tôi dám thú nhận mình mê tiểu thuyết. Ai căn vặn tôi thích gì, tôi làm gì trong thời gian rảnh, tôi cười cười, hoặc hạ giọng, à, mình đọc. Vâng, đọc nói chung nghe còn được, vì nó bao hàm đọc báo, đọc sách pháp luật, và kinh tế. Kinh tế thì tốt, chứng khoán thậm chí còn tốt hơn, mà nếu làm cho người ta nghĩ rằng mình chỉ đọc về bí mật các quốc gia thì tốt hơn nữa. Nhưng, tôi biết rất rõ rằng chớ nên nói đam mê của mình là đọc tiểu thuyết, vì tôi hoàn toàn không muốn được người ta nhìn thương hại, như thể tôi là kẻ lạc hậu, yếu ớt, hay chán ốm. Nếu không thế thì cuộc trò chuyện cũng sẽ rơi vào khoảng lặng, gượng gạo, không lối thoát.

Khi chuyển sang căn hộ mới, tôi gọi thợ đóng một loạt kệ sách, để chất tất cả sách của tôi lên, phần lớn trong đó là tiểu thuyết. Anh trưởng nhóm mộc, khi nhìn thấy đống sách của tôi, không ngừng bình luận, a, anh có nhiều sách quá, anh đọc hết chưa, anh có nhớ hết không. Anh chỉ ngớt hỏi khi nhìn thấy cuốn Rừng Na Uy: A, em biết cuốn này. Ít ra tiểu thuyết của Murakami cũng phổ biến đến tận thợ mộc ở Việt Nam.

Trước đó, tôi đã trải qua một quãng thời gian dài không gặp mặt những cuốn tiểu thuyết của mình. Khi chuẩn bị chuyển nhà, chúng tôi cho đi những kệ sách cũ, nên phải đóng thùng hầu hết sách. Những trục trặc trong khi chuẩn bị cho căn hộ mới khiến đống sách ấy nằm yên trong thùng cáctông gần hai tháng. Kệ sách được đóng xong, khi mở thùng ra, tôi hớn hở. Bìa những cuốn sách ấy, những tác giả này, bao lâu rồi tôi không nhìn thấy. Và mùi của chúng. Khi sách đã sắp hết lên kệ, tôi đi lại thư thái trong phòng, cảm thấy ổn thoả, cảm giác đây là nhà.

Khi đọc một tiểu thuyết, cùng với việc đọc tôi cũng thu vào mình thời tiết, cảnh vật xung quanh, ghi nhận lại vị trí, thời gian khi đọc. Rồi sau, khi tôi giở lại đúng cuốn tiểu thuyết đó, mùi dậy về. Chẳng hạn bây giờ, mỗi khi mở lại cuốn Hội hè miên man (*) tôi sẽ nhớ cái ngày chủ nhật mưa từ sáng sớm, bầu trời xám, mùi không khí ẩm, và tôi thấy tôi ngồi co ro trong phòng khách của căn hộ cũ, nơi giấy dán tường đã đầy những nét màu sáp nguệch ngoạc và bắt đầu bong ra. Còn khi mở cuốn Phía núi bên kia (**) lập tức trí óc tôi trôi về căn nhà gỗ của ba mẹ tôi ở Đơn Dương, và thấy tôi ngồi vắt vẻo trên khung cửa sổ gỗ thông mục, bên ngoài có mùi hăng hắc của hoa dong riềng.

Tôi nhớ Mario Vargas Llosa có viết rằng ông không ưa sách điện tử. Tôi không nhớ rõ ông không ưa vì lý do nào, nhưng với tôi, trên máy tính hoặc các thiết bị đọc điện tử khác, tôi chỉ có thể đọc sách tham khảo. Riêng với tiểu thuyết, tôi phải đọc sách in, vì tôi có nhu cầu sờ vào trang giấy, hít thở mùi của chúng, cùng mùi của khoảng không gian và thời điểm khi tôi đọc, và khi đọc xong, tôi muốn nhìn thấy cuốn sách ấy hiện diện trong nhà.

Làm sao trong đám đông, hoặc trong những câu chuyện xã giao, tôi có thể nói rằng, trong thời gian rảnh của tôi, tôi thích đọc tiểu thuyết, vì những lý do hết sức riêng tư ấy?

Lâm Vũ Thao

Nguồn:
Mùi của tiểu thuyết



MƯA HUẾ



Mưa Huế là một cách nói, chứ thực ra, từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch, cả ba tỉnh Bình - Trị - Thiên đều có những đợt mưa dai dẵng, dài đến mấy chục ngày đêm. Trừ khi sắp có bão hay ngay trong cơn bão sẽ có mưa như trút nước, còn bình thường, mưa Huế, mưa Bình - Trị - Thiên cứ rỉ rả, như thể nếu mưa lớn quá thì trời sẽ hết nước!

Mưa Huế là một loại mưa dầm dề, ủ ê, thúi trời thúi đất, mà chỉ có ở khúc giữa của miền Trung Việt Nam. Tháng 9, tháng 10 âm lịch chưa phải mùa rét, nhưng khi bắt đầu có mưa thì Huế trở lạnh, đất trời, cảnh quan chìm trong màn nước đùng đục, tà áo dài trắng học trò, tà áo dài tím thiếu nữ, tà áo dài nâu của các o, các mệ phải ủ trong áo choàng, áo len; sông Hương thôi trong xanh mà bàng bạc nước dâng, những con đò như bơi giữa mây mù.

Nếu là những ngày mưa bụi, hạt mưa nhỏ như hạt bụi giăng kín trời kín đất, nếu không phải lo kiếm sống thì có thể đầu trần đi dạo một vòng cho mưa ướt tóc, sẽ thấy như mình được thiên nhiên ấp ủ, tâm hồn nhẹ tênh.

Mưa lất phất kèm gió bấc đầu mùa, dù chưa hun hút, nhưng vào công sở, vào lớp học, cứ xuýt xoa kêu lạnh, cũng là một cái thú. Anh xích lô, chị hàng gánh, bác cày ruộng quen với mưa Huế như là nhu cầu, bởi có mưa Huế khách mới đông, ruộng không thiếu nước.

Mưa Huế làm người ta nhớ nhung, khi thì mông lung, lúc lại rất cụ thể. Như tôi, Thu Đông 1975, lần đầu về Huế hưởng hòa bình, thấy mưa, lại quay quắt nhớ trắng rừng trắng suối mưa giăng trong những năm đánh giặc dọc Trường Sơn; lại bồn chồn hơi ấm của em những đêm chung mưa từ chiến khu vượt quốc lộ 1A, len lỏi giữa các ổ phục kích của quân Đại Hàn, quân Cộng hòa để về đồng bằng Trị - Thiên làm phóng sự chiến tranh.

Nỗi nhớ mưa rừng của em, mà không nói ra, những cô gái ngày nay không hiểu, là nếu không hong bằng than củi thì phơi hằng tháng trời áo quần vẫn không khô, do hơi nước trong lán cũng ngang bằng với mưa lâm thâm ngoài rừng...

Mưa Huế làm ta thèm hơi ấm người thân, thèm hơi ấm ngọn lửa, thèm được quây quần...
Nhu cầu thưởng ngoạn mưa Huế là có thật, nhưng thưởng ngoạn một cách tự nhiên như bấy lâu nay thì đâu có gì đặc biệt. Có phải vì thế mà có người đưa ra ý tưởng lấy mưa Huế làm sản phẩm du lịch, hay nói cách khác, dùng mưa Huế để thu hút du khách.

Nhiều nước trên thế giới đã có loại hình du lịch thiên tai (như du lịch trong bão, lụt), du lịch trách nhiệm (du lịch cứu trợ đồng loại vì thiên tai, địch họa) và du lịch trải nghiệm (du lịch trong không gian bất thường). Mưa Huế chỉ có thể tạo ra sản phẩm du lịch trải nghiệm bởi rất hiếm nơi có hiện tượng thiên nhiên này và bởi nó tạo ra rất nhiều cung bậc cảm xúc tùy tâm trạng con người.

Hãy hình dung... Trong một sảnh mở (có thể có vách kính di động) ở một tầng lầu nào đó, du khách có thể vừa nhâm nhi cà phê và ngắm kinh thành xưa mờ ảo trong mưa bay la đà. Hãy hình dung...

Trong một nhà vườn nào đó ở Kim Long, du khách được thưởng trà pha bằng chính nước mưa đang tý tách ngoài hiên, trên tay là một quyển sách ưa thích. Hãy hình dung...

Trong một ngôi nhà rường bên sông Hương, du khách có thể vừa nghe nhạc, vừa hưởng chiều mưa phố buồn trôi qua khung cửa mà thấm thía sự lẻ loi, cô đơn của con người, để rồi vấn vương hoài với kỷ niệm ấy.

Hãy hình dung... Trên một con đò ngược sông Hương lên bến Tuần, lên nữa, sao cho càng xa phố thị càng tốt, du khách ngồi trên chiếu như ngồi thiền, vừa nghe ca Huế, vừa thả hồn trong mưa sa nước sỉa giăng mờ tỏ đôi bờ, mờ tỏ những đỉnh núi Trường Sơn...

Nhưng bấy nhiêu không đủ làm nên những tour du lịch trải nghiệm. Phải tổ chức cho du khách mặc áo mưa đạp xe đạp ra vùng nông thôn Huế để họ biết thế nào là “mưa thúi trời thúi đất”, để họ có thể cùng nông dân Hương Thủy, Hương Trà trồng rau, đơm cá, cùng ăn với nông dân bữa cơm đạm bạc trong cảnh mưa phùn gió bấc, với bếp lửa củi quyện hơi ấm bên thềm nhà.

Nhà văn Trần Thùy Mai từng đề xuất với ngành du lịch xây dựng những vỉa đường ngắm mưa, có mái che, trên những vỉa đường ấy có quán cà phê, có quán rượu với thức ăn nhẹ, để nếu muốn, du khách tha hồ thong dong với Huế trong những ngày mưa não nề.

Và từ những vỉa đường ngắm mưa ấy, du khách có thể lang thang phố này sang phố khác để biết thêm thế nào là “mưa lá”, mà như một người Huế xa xứ, khi nhớ Huế, đã mô tả: Đang đi dưới những tàn cây xanh, bỗng nghe tiếng gió ào qua biển lá, vô số mảnh nước đọng trên lá sẵn chờ gió lay, ồ ạt rơi xuống phủ lấy con người, phủ lấy mặt đường. Tiếng lá ướt xào xạc kéo dài trong gió, nghe như tiếng thở dài kỳ bí của hồn mưa.

Mưa là đặc sản kỳ thú của Huế. Nhưng làm sao để “đãi khách” món đặc sản này cho khách vừa lòng đây?...

PHƯƠNG HÀ

Nguồn:
Mưa Huế



7/6/11

ĐAU ĐẦU CHUYỆN NHẬP SIÊU TỪ TRUNG QUỐC


Chợ VN tràn ngập hàng hóa TQ - những mặt hàng mà VN thừa sức sản xuất.

NGUYỄN QUANG A

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (TCTK), 5 tháng đầu năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là 34 tỉ 746 triệu USD, trong khi kim ngạch nhập khẩu lên đến 41 tỉ 335 triệu USD, nhập siêu 6 tỉ 589 triệu USD.

Nhập siêu với Trung Quốc tăng rất nhanh từ mức 2,67 tỉ USD năm 2005 lên đến 12,7 tỉ USD năm 2010 (gấp 4,76 lần!)

Xuất nhập khẩu của Việt Nam 4 tháng 2011 (đơn vị: tỉ USD, nguồn: TCTK)

Thị trường

Hoa Kỳ

EU

ASEAN

Trung Quốc

Nhật Bản

Tổng

Xuất khẩu

4,8

4,8

4,1

3

2,8

27,246

Nhập khẩu

1,3

2,1

6,7

7,1

3,1

32,135

Cán cân thương mại

3,5

2,7

– 2,5

– 4,1

– 0,3

- 4,889

Nhập siêu của tháng 5.2011 ước tính 1,7 tỉ USD, nhưng rất tiếc TCTK không phân số liệu ra các thị trường chính như của 4 tháng đầu năm kể trên. Có thể thấy nhập siêu từ Trung Quốc là rất lớn và việc giảm nhập siêu từ Trung Quốc là vấn đề đau đầu.

Từ Thúy Anh và Nguyễn Bình Dương trong Báo cáo Kinh tế Việt Nam 2011 của trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR), trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã có một báo cáo tương đối chi tiết về “phân tích cấu trúc thâm hụt cán cân thương mại Việt Nam - Trung Quốc”.

Theo báo cáo của Từ Thúy Anh và Nguyễn Bình Dương, tỷ lệ thâm nhập của Trung Quốc năm 2008 trên thị trường Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất như sau: sản xuất máy móc thiết bị (85,9%); sản xuất than cốc và dầu mỏ tinh chế (71,8%); radio, TV, thiết bị truyền thông (28,6%); thiết bị văn phòng, máy tính (27,7%); sản xuất sản phẩm dệt (20,3%); sản xuất thiết bị điện (10,7%); sản xuất sửa chữa xe có động cơ (10,4%).

Cũng theo báo cáo trên, cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2008, tính bằng tỉ USD (+ xuất siêu, – nhập siêu) phân theo các loại mặt hàng chính như sau: phương tiện vận tải phụ tùng (–5,37); hàng chế biến phân theo nguyên liệu (–5,08); hóa chất, sản phẩm liên quan (–1,82); nguyên liệu thô và nhiên liệu (+1,53); thực phẩm và động vật tươi sống (+0,19).

Có thể thấy chúng ta xuất siêu nguyên liệu thô, khoáng sản, nông lâm thủy sản, còn nhập siêu chủ yếu là phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, hàng chế biến phân theo nguyên liệu (vải, chất dẻo)...

Theo TCTK, năm 2010 Việt Nam nhập từ Trung Quốc 20,02 tỉ USD hàng hóa, trong đó các mặt hàng chính gồm: máy móc thiết bị, phụ tùng (22,37%); bông, vải, sợi, nguyên phụ liệu dệt may, da giầy (15,64%); sắt thép, sản phẩm từ sắt thép, kim loại (11,39%); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện (8,41%); xăng dầu, khí hóa lỏng, sản phẩm từ dầu mỏ (6,97%); hóa chất, sản phẩm hóa chất (4,56%); chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm (2,9%); phân bón, thuốc trừ sâu (2,25%).

Nguyên nhân cơ bản của nhập siêu với Trung Quốc là các công ty của họ thắng phần lớn các hợp đồng EPC (Engineering, procurement and construction - Thiết kế, mua sắm và xây dựng) tại Việt Nam. Loại hợp đồng này thường được dùng trong xây dựng các nhà máy điện và các nhà máy cũng như công trình khác. Và trong lĩnh vực xây cất các nhà máy điện (của EVN và TKV), mỏ (như bauxit Tân Rai, Nhân Cơ, đồng của TKV), hóa chất (phân đạm Hà Bắc), giao thông (như xây, cải tạo đường sá ở TP. Hồ Chí Minh, đường sắt trên cao ở Hà Nội) các hợp đồng đều do các công ty Trung Quốc thắng. Thắng thầu, họ nhập máy móc, thiết bị, vật liệu, sắt thép…, thậm chí cả nhân công (các số liệu trên chỉ là về xuất nhập khẩu hàng hóa, chưa nói đến dịch vụ, nếu tính cả dịch vụ, nhập siêu của Việt Nam còn cao hơn). Và đấy là một nguyên nhân chính của nhập siêu. Và vai trò của các tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam trong thành tích xấu này là rất nổi bật.

Phần nhập khẩu nguyên liệu, bán thành phẩm để tiêu thụ hay sản xuất các mặt hàng tiêu thụ trong nước (thay thế hàng nhập khẩu) cũng chiếm tỷ lệ đáng kể (điện tử, máy tính, xăng, phân bón, thuốc trừ sâu). Và phần này cũng đóng góp vào thành tích xấu về nhập siêu với Trung Quốc.

Một nguyên nhân quan trọng nữa của tình hình nhập siêu với Trung Quốc là nhập các mặt hàng chế biến phân theo nguyên liệu (vải, sợi, nguyên liệu da giày) để chế biến hàng xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Các loại mặt hàng may mặc, da giày, thủy sản Việt Nam xuất nhiều hơn nhập, như vậy nhập siêu các nguyên liệu này từ Trung Quốc được bù lại với xuất siêu các thành phẩm sang các thị trường khác (như Mỹ, EU). Một phần của nhập khẩu điện tử, máy tính cũng có thể liệt kê vào đây. Tuy nhiên giá trị gia tăng do các doanh nghiệp Việt Nam tạo ra thấp, nên thực chất là “xuất khẩu hộ” các doanh nghiệp Trung Quốc (mà một phần là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc).

Có thể thấy nguyên nhân sâu xa của căn bệnh nhập siêu lớn với Trung Quốc là từ chính sách phát triển và cơ cấu nền kinh tế, do chưa sử dụng tốt các rào cản kỹ thuật. Và như thế việc giảm nhập siêu với Trung Quốc là vấn đề nan giải và chủ yếu vẫn là thay đổi cơ cấu nền kinh tế, cải tổ các doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp Việt Nam.

Nguồn:
Đau đầu chuyện nhập siêu từ Trung Quốc



5/6/11

CON RƠI CỦA SẾP



Ông là tổng giám đốc của công ty mẹ nên thường xuống họp với các công ty con, trong đó có công ty do tôi làm giám đốc. Thường thì ông ngồi nghe ban giám đốc chúng tôi bàn bạc công việc từ đầu đến cuối, khi thấy thật cần, chỉ hỏi anh em tổng công ty có thể giúp đỡ được gì.

Khi biết được những cái cần, cái nào trong thẩm quyền cá nhân, ông giải quyết liền, cái nào phải bàn bạc với ban tổng giám đốc hay hội đồng quản trị, ông cũng không ngâm quá vài ngày.

Chưa bao giờ tôi nghe ông dùng từ “chỉ đạo”, “chỉ đạo quyết liệt” để chỉ đạo chúng tôi. Có lần ông tâm sự với tôi: “Cấp dưới họ có quyền trong phạm vi của họ thì cứ để họ tự chủ. Chỉ đạo là chỉ đường, họ có lạc đường đâu mà chỉ. Dùng từ ấy vừa trịch thượng, vừa thiếu niềm tin.

Tiếc rằng, bây giờ có quá nhiều người ưa “chỉ đạo” mà chỉ chỉ chung chung, rất chung chung, chẳng biết đường đâu mà lần, nặng phần hô khẩu hiệu để chứng tỏ quyền uy.

Cậu nhớ có lần tôi rầy cậu không? Trong cuộc họp với công ty cậu hôm ấy, tôi chỉ đưa ra định hướng công việc trong quý của tổng công ty, cậu lại “Vô cùng cám ơn sự chỉ đạo của tổng giám đốc, công ty chúng em xin lãnh hội đầy đủ sự chỉ đạo ấy”. Tôi rầy cậu vì tôi thấy mình bị tâng bốc đến phát ngượng”.

Tôi cho rằng cách dự họp với cấp dưới của sếp tổng như vậy là một trong những phẩm chất mà người lãnh đạo cần có.

Tôi nhớ mãi chuyện ông với công ty trúng thầu (bên B) xây dựng tòa nhà kinh doanh của tổng công ty. Trong quá trình bàn thảo hợp đồng, vị giám đốc bên B nói thẳng: “Chúng tôi sẽ chuyển vào tài khoản riêng của anh một tỷ rưỡi, không biết như vậy đã được chưa?”.

Tổng giám đốc tỉnh bơ: “Nếu được 2 tỷ thì càng tốt. Chúng tôi đang cần tiền”. Suy nghĩ một hồi, vị giám đốc bên B đồng ý. Tổng giám đốc nói: “Anh đã hứa thì cứ vậy mà thực hiện, nhưng thực hiện bằng cách trừ đi 2 tỷ đồng trong giá thành mà hai bên đã chấp nhận”.

Giám đốc bên B không có cách nào để lãng được số tiền ấy, nhưng sau khi công trình hoàn thành đúng tiến độ và đạt chất lượng cao, tổng công ty chúng tôi đã thưởng cho bên B nửa tỷ đồng.

Phải thừa nhận, sép tổng của chúng tôi là người giữ lời hứa tuyệt đối. Một hôm ông xuống công trường, thấy mũ bảo hộ của nhiều công nhân bị sứt sẹo, cong vênh, ông nói chiều sẽ có mũ mới.

Ông không chỉ thị cho chúng tôi mua mũ mà cử người của văn phòng tổng công ty mang đến. Thì ra số mũ ấy là hàng dự trữ trong kho, cùng với khá nhiều áo quần, găng tay bảo hộ, dụng cụ lao động để chi ngay khi cần.

Tôi cũng được chứng kiến cách ông giữ lời hứa với hai con gái, một lên 15, một lên 10. Chiều thứ 7 cuối năm, công ty tôi tổng kết, gọi điện thoại mời ông, ông nhận lời xuống đúng 2 tiếng đồng hồ (trong nội bộ tổng công ty, ông không cho dùng thư mời mà chỉ được gọi điện thoại, nhắn tin, e-mail, như ông nói, để tiết kiệm và bảo vệ môi trường).

Biết tính ông, chúng tôi tổng kết đúng một tiếng rưỡi để còn chút thời gian mời ông dùng cơm. Ông uống đúng một ly vang rồi xin phép về để đưa hai con đi chơi như đã hẹn.

Tôi nghiệm ra, giữ lời hứa cũng là cách làm việc khoa học, đúng giờ giấc.

Vậy mà vừa rồi, ông nhất khoát xin từ chức!

Theo tôi thì nguyên nhân từ chức của tổng giám đốc là “lãng xẹt”.

Hôm ấy ông tiếp hai vị quan chức khá to trong ngành xây dựng từ Hà Nội vào TP.HCM. Ăn cơm ở nhà hàng xong, hai vị khách ấy đòi đi “mát mẻ”. Đang có mấy công trình lớn “cần Hà Nội hỗ trợ”, ông không thể không đáp ứng yêu cầu ấy.

Thế là ông dẫn khách vào một quán bia kín bưng. Cô gái ngồi cùng nói với ông đã ly dị chồng dưới quê, quá khổ, phải bồng con lên Sài Gòn kiếm sống.

Ông chưa từng đi “bia kín”, chỉ nghe nói là phải cảnh giác với các cô phục vụ, nhưng cô gái này trông mặt hiền lành, phảng phất nét quê mùa của dân làm ruộng, thì có gì mà phải “cảnh giác”.

Đặc biệt cô gái còn nhờ ông kiếm cho một việc làm để thoát cảnh phải say tối ngày, phải chiều khách tối ngày. Thấy tội nghiệp, ông nghĩ có thể bố trí cho cô ta làm tạp vụ ngay trong tổng công ty của mình, nên cho địa chỉ.

Hai tháng sau, trong khi ông đang ở Úc thì cô gái ấy ẳm đứa con trai lên ba tìm đến nhà ông. Cô gái nói với vợ ông, đây là đứa con của hai người mà vì danh dự của ông, vì hạnh phúc gia đình ông bà mà cô đã bí mật nuôi nấng, bây giờ xin trả lại.

Vợ ông không sao liên lạc được với chồng, vì khi ra nước ngoài ông không bao giờ mang theo điện thoại (như ông nói, để tiết kiệm tiền cho tổng công ty), cần việc gấp thì ghé bưu điện gọi.

Bà bình tĩnh bảo cô gái ráng đợi ông về và cô ta nghe theo. Nhưng ngay tối ấy, cô ta trốn đi, để lại mấy chữ nói là nhờ bà chăm con cho mấy bữa để về Cà Mau thăm ba má.

Ông về, tất nhiên là rất ngạc nhiên với “đứa con trên trời rơi xuống”, nhưng nói gì bà cũng không nghe, cứ khăng khăng đó là con ông.

Bà biểu ông đem thằng bé đi thử ADN, ông nói không cần vì đó không phải là con ông và ông cũng chưa bao giờ chung đụng với ai ngoài vợ. Ông còn nói, danh dự là quan trọng nhất, bà không tin thì đó là quyền của bà.

Cô gái đi mất tăm. Có thể cô ta vì hoàn cảnh nào đó, phải dứt ruột giao con vào tay những người xa lạ.

Tin đồn sếp tổng lén “ăn phở” mà có con riêng lan truyền trong tổng công ty, trong ngành xây dựng, trong bà con nội ngoại. Kẻ ác ý còn nói bây giờ sếp tổng mới lộ mặt đạo đức giả. Ngoài vợ và hai con, ông không hề nói sự thật với ai.

Có lẽ tính cực đoan và lòng tự trọng thái quá đã ngăn ông. Và thế là ông quyết từ chức.

Thỉnh thoảng đến thăm, tôi thấy thằng bé đã trở thành thành viên trong gia đình ông, đặc biệt hai chị rất cưng chiều. Còn bà thì nói, không đẻ mà có thằng con trai cũng vui cửa vui nhà...

MINH ĐĂNG

Nguồn:
Sếp tổng của tôi
Entry liên quan:
CÓ NGƯỜI CON RƠI TÌM ÔNG...



3/6/11

BIỂN ĐÔNG NHỎ CHƯA HẲN YẾU



TS NGUYỄN NGỌC TRƯỜNG

Có thể coi vụ cắt cáp tàu Bình Minh II ngày 26.5, qua phân tích của TS Nguyễn Ngọc Trường, là một mũi tên nhắm tới nhiều đích như thăm dò phản ứng của ASEAN, của Mỹ và là một kiểu chiến tranh cân não. Từ phản ứng của các bên liên quan về phép thử, người bắn tên sẽ phải cân nhắc hành động trong giai đoạn tới.

Không khó để nhận ra các động cơ của Trung Quốc khi cho ba tàu hải giám Trung Quốc gây sức ép và phá những thiết bị nghiên cứu, cắt đứt dây cáp nối tàu Việt Nam với các thiết bị khảo sát đáy biển tại khu vực đặc quyền kinh tế Việt Nam ngày 26.5 vừa rồi. Cùng với vụ này là hàng loạt các vụ tàu đánh cá Trung Quốc kéo vào đánh, cướp nguồn tài nguyên biển trong hải phận Việt Nam, hành hung ngư dân Việt Nam.

Vụ 26.5 phơi bày ý đồ của Trung Quốc đẩy mạnh kế hoạch lấn chiếm Biển Đông. Và nó sặc mùi dầu lửa.

Sặc mùi dầu lửa

Ba ngày trước đó, một giàn khoan dầu khổng lồ hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ở vùng nước sâu 3.000m đã được một xưởng đóng tàu ở Thượng Hải bàn giao cho tập đoàn Dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC). Trước đây, CNOOC chỉ khai thác ở vùng biển có độ sâu từ 300m trở lại. Với giàn khoan mới vừa hạ thuỷ, Trung Quốc tiến từ thềm lục địa ra biển sâu, giành quyền chủ động trong khai thác dầu khí ở Biển Đông, góp phần giải quyết cơn khát năng lượng của Trung Quốc. Phương châm là, “ai đến trước thì được trước”.

Với việc ráo riết gây sức ép với Việt Nam và Philippines, Trung Quốc bắt đầu triển khai giai đoạn mới cụ thể hoá việc đòi chủ quyền theo “đường lưỡi bò”, chiếm 80% Biển Đông. Kế hoạch này kết hợp với ngoại giao quân sự và ngoại giao tiền bạc diễn ra suốt từ cuối năm ngoái đến nay để tập hợp lực lượng tại Đông Nam Á, nhằm gây trở ngại cho ASEAN đưa ra lập trường chung tại các cơ chế ASEAN-2011. Vụ 26.5 là một động thái thăm dò mức độ phản ứng của ASEAN về vấn đề Biển Đông.

Thăm dò Mỹ

Điệu kèn của ASEAN tuy có đôi phần ngập ngừng nhưng nhận thức chung, như được phản ánh qua xã luận của báo Dân Tộc (Thái Lan): Quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc đang bị thử thách mạnh mẽ và sẽ bị ảnh hưởng xấu nếu xảy ra xung đột Biển Đông. Tuyên bố của hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Jakarta ngày 31.5, thống nhất nhận định Biển Đông là vấn đề đa phương, đồng thời khẳng định chủ quyền lãnh hải với “đường chín điểm” trên bản đồ của Trung Quốc đã bị cộng đồng quốc tế chỉ trích và là không phù hợp.

Trung Quốc cũng muốn thăm dò phản ứng Mỹ sau các cuộc tiếp xúc ngoại giao và quân sự dồn dập vừa qua tại Washington. Nhưng người phát ngôn bộ Ngoại giao Mỹ ngày 31.5, khẳng định Mỹ phản đối việc sử dụng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực của bất kỳ bên nào ở Biển Đông và ủng hộ tuyên bố của ASEAN và Trung Quốc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông. Ngày 31.5, tư lệnh bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ, đô đốc Robert F. Willard, nói với bộ trưởng Quốc phòng Malaysia, cho biết người Mỹ muốn tham gia đối thoại phi chính thức với các bên đòi chủ quyền trên Biển Đông để giải thích lý do quân Mỹ có mặt tại vùng biển này. Qua đối thoại, người Mỹ “muốn bảo đảm tài nguyên khoáng sản có thể được chia sẻ và sử dụng để phát triển các nước và vùng lãnh thổ liên quan”.

Đài Tiếng nói nước Nga bình luận rằng, bằng hành động cứng rắn ngang nhiên của mình, Trung Quốc thực sự đang buộc các nước láng giềng phải tìm kiếm một đối trọng để cân bằng với thế lực ngày càng tăng của Bắc Kinh trong khu vực. Trong cuộc tìm kiếm đó, các nước ASEAN đang thể hiện mong muốn Mỹ không chỉ duy trì mà còn tăng thêm sự hiện diện tại khu vực. Nguyện vọng đó hiển nhiên được Washington hoan nghênh.

Một kịch bản khác cũng được các nhà nghiên cứu thông thạo về Trung Quốc lưu tâm liên quan đến tình hình căng thẳng đang gia tăng tại Nội Mông (Trung Quốc). Joseph Cheung, giáo sư khoa học chính trị tại trường đại học Hong Kong, nói rằng các vấn đề ở Nội Mông là một khu vực sắc tộc nhạy cảm tương tự như Tây Tạng và Tân Cương thường xảy ra các biến động, phản ánh các bất mãn ngày càng tăng trong xã hội chính mạch Trung Quốc.

Xưa nay Bắc Kinh vẫn thường chủ trương “thiên hạ đại loạn, Trung Quốc đại trị”. Họ thường xuất khẩu xung đột ra bên ngoài để đánh lạc hướng sự chú ý dư luận trong nước mỗi khi có vấn đề nội bộ. Biển Đông với những tranh chấp lãnh thổ phức tạp, muốn làm cho dậy sóng lúc nào chẳng được.

Vụ 26.5 còn là cách người Trung Quốc nắn gân các nước láng giềng, một kiểu chiến tranh cân não theo kiểu cổ điển nhất. Trung Quốc mấy năm vừa qua áp dụng hàng loạt biện pháp “an ninh (chiến tranh) phi truyền thống” đối phó với các nước láng giềng trên Biển Đông. Sắp tới nhiều khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục leo thang các hành động khiêu khích nghiêm trọng hơn nữa.

Nhưng nước nhỏ chưa hẳn là yếu, nước lớn chưa hẳn là mạnh. Xung đột trên biển thắng thua khó phân định. Nếu trả giá thì hai bên cùng phải trả giá. Cho nên chưa có nước nhỏ nào mất một tấc thềm lục địa chỉ vì nước lớn có nhiều tàu to súng lớn. Nếu các bên liên quan như Việt Nam, Philippines, Malaysia không bày tỏ lập trường kiên quyết thì Trung Quốc sẽ lấn tới.

Một vài cách nhìn thiển cận của dân mạng hay các học giả nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa ở Trung Quốc vừa qua chắc rằng không đại diện cho lý trí và quan điểm thực tiễn của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh. Trên Biển Đông còn có cục diện chính trị – an ninh thế giới. Trên Biển Đông còn có đại cục của Trung Quốc. Và còn có các mối liên hệ quan trọng mà Trung Quốc với các nước láng giềng phương Nam, trong đó có Việt Nam, dày công xây đắp trong gần hai thập kỷ vừa qua.

Nguồn:
Biển Đông nhỏ chưa hẳn yếu
Entry liên quan:
TÀU TRUNG QUỐC NGANG NGƯỢC VI PHẠM LÃNH HẢI VIỆT NAM
TRUNG QUỐC PHẢI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
HẢI QUÂN VIỆT NAM BẢO VỆ VÙNG LÃNH HẢI VIỆT NAM
TRUNG QUỐC CÒN MUỐN BẮT NẠT ASEAN THÊM NỮA
NGOẠI GIAO NHÂN DÂN CHO BÀI TOÁN BIỂN ĐÔNG
BÁM BIỂN



2/6/11

BÁM BIỂN



LÊ THANH PHONG

10h58 ngày 31.5, Đài thông tin duyên hải Đà Nẵng nhận được tin cấp cứu của tàu cá QB 91435 của thuyền trưởng Nguyễn Hưng bị một tàu không rõ xuất xứ đâm chìm trên biển, 6 thuyền viên rơi xuống biển.

Các tàu gần khu vực đã cứu được 5 thuyền viên, còn 1 người bị mất tích. Cùng ngày, tàu cá PY 92305 của thuyền trưởng Lê Văn Giúp bị 3 tàu Trung Quốc bắn cảnh báo, xua đuổi.

Cả hai tàu cá trên đều hoạt động trên vùng đặc quyền kinh tế VN, nhưng lại bị “tàu lạ” đâm chìm và “tàu quen” bắn xua đuổi. Ngư dân đang ra biển trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, nguy hiểm. Nhiều ngư dân bị cướp, bị đâm chìm tàu, trở về tay trắng, thậm chí đánh cược cả mạng sống trên biển.

Nhưng có một sự chuyển biến rất mạnh mẽ trong nhận thức của ngư dân VN, đó là từ khi có sự kiện tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp của tàu thăm dò dầu khí VN, ngư dân lại mạnh mẽ, quyết tâm hơn trong việc ra khơi bám biển. Những người dân chài hồn hậu, chất phác lại lên tiếng cho rằng không phải đi biển chỉ để kiếm sống, mà lúc này đây, còn vì góp phần khẳng định chủ quyền của quốc gia trên biển Đông.

Theo Dân Việt, Ngư đội trưởng Ngư đội Trường Sa 1 Mai Thành Phúc nói: “Chúng tôi thường xuyên gặp hải đoàn, hải giám của Trung Quốc trên vùng biển của mình. Tàu của họ to, hung hăng lắm, nhưng chúng tôi không sợ. Bởi, chúng tôi đang đánh bắt tại vùng lãnh hải của tổ quốc mình.

Ngoài đánh cá, chúng tôi còn có ý thức cản bước tiến của họ khi xâm lấn vào lãnh hải thuộc chủ quyền của đất nước. Chúng tôi thà chịu thiệt hại ngư cụ chứ nhất định không lùi bước trước tàu Trung Quốc”. Nhiều ngư dân Quảng Ngãi, Phú Yên khảng khái lên tiếng, vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa là do cha ông khai phá, hàng trăm năm nay ngư dân VN khai thác hải sản trên vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia mình. Ngày nay con cháu cũng tiếp tục bám biển để làm giàu cho đất nước và để khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển. Không một sức mạnh nào ngăn cản được tàu của ngư dân VN ra khơi.

Lòng dân với đất đai biển đảo tổ quốc là vậy, ngàn năm nay chưa khi nào xao nhãng, sợ hãi. Lãnh thổ, lãnh hải của VN tồn tại đến hôm nay cũng chính là nhờ vào sức mạnh của lòng dân, điều đó còn khắc ghi trong lịch sử ngàn năm của Đại Việt – Việt Nam.

Nhưng để ngư dân ra khơi hiệu quả, an toàn cần phải có hệ thống tàu kiểm ngư hiện đại để hỗ trợ kịp thời khi gặp các sự cố trên biển. Tàu của ngư dân phải được trang bị thêm những thiết bị liên lạc hiện đại để thông báo tin tức, kêu gọi ứng cứu khẩn cấp. Không thể để ngư dân bơ vơ trên biển.

Nguồn:
Bám biển
Entry liên quan:
TÀU TRUNG QUỐC NGANG NGƯỢC VI PHẠM LÃNH HẢI VIỆT NAM
TRUNG QUỐC PHẢI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
HẢI QUÂN VIỆT NAM BẢO VỆ VÙNG LÃNH HẢI VIỆT NAM
TRUNG QUỐC CÒN MUỐN BẮT NẠT ASEAN THÊM NỮA
NGOẠI GIAO NHÂN DÂN CHO BÀI TOÁN BIỂN ĐÔNG



1/6/11

NGOẠI GIAO NHÂN DÂN CHO BÀI TOÁN BIỂN ĐÔNG


Tàu cá xa bờ huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). Ảnh: M.Đ

NGUYỄN CHÍNH TÂM

Chủ quyền trên khu vực Biển Đông là một cuộc đấu tranh lâu dài trên nhiều mặt trận. Theo tác giả, ngoại giao nhân dân kết hợp với ngoại giao nhà nước tạo nên sức mạnh tổng hợp.

Hiện nay, cơ chế “sức mạnh cứng” thông qua so sánh khả năng quân sự, tiềm lực hải quân hay cân bằng lực lượng đang chiếm ưu thế trong các cuộc tranh luận. Ngoại giao phòng ngừa hay ngoại giao liên kết – phát triển rất nhanh trong thời gian gần đây – cũng thường nhấn mạnh tính “vĩ mô” của tác nhân nhà nước trong vai trò giải quyết. Với quan điểm cho rằng, chủ quyền trên khu vực Biển Đông là một cuộc đấu tranh lâu dài trên nhiều mặt trận mà mỗi cấu trúc cần mỗi hình thức nguồn lực khác nhau, quan điểm về ngoại giao nhân dân hứa hẹn mở thêm những tiếp cận chính sách bổ sung.

Từ quốc tế hoá

Đầu tiên hãy bàn về xu hướng “quốc tế hoá”. Bên cạnh việc đưa vấn đề ra thế giới chủ yếu thông qua các biện pháp cân bằng chiến lược và ngoại giao, quốc tế hoá về mặt học thuật đang là lãnh vực đóng vai trò tiên yếu. Khẳng định này dựa trên hai lý do. Một mặt, tranh luận trước tiên phải dựa vào lý lẽ, lý lẽ bắt nguồn từ một khuôn khổ nghiên cứu và dữ liệu có hệ thống.

Trong quan hệ quốc tế, một sức mạnh thường được các học giả nêu ra như một vũ khí, đó là tính “hợp lý hơn” của lập luận. Một lập luận có tính hợp lý hơn không những tạo sự chính đáng cho các quan điểm, mà còn là một tiền đề quan trọng góp phần xây dựng kiến thức chung về vấn đề tranh cãi ("common knowledge").

Từ tranh chấp lãnh hải, đàm phán biến đổi khí hậu đến quản trị thị trường tài chính quốc tế – các chủ đề chính trị quốc tế ngày càng trở nên phức tạp. Trên bàn đàm phán, điểm đầu tiên của mọi câu chuyện là phải làm sao định nghĩa lại những khái niệm cần giải quyết. Vì thế, trước khi trình bày hay bảo vệ lợi ích riêng, việc chuyển hoá quan điểm hay cách tiếp cận của mình thành kiến thức chung được đông đảo chấp nhận sẽ là một lợi thế lớn.

Thí dụ điển hình là tranh luận về đổi tên từ “Biển Nam Trung Hoa” thành “Biển Đông Nam Á”. Rõ ràng, đây không phải chỉ là vấn đề cái tên, mà là một khẳng định về danh từ chung đang và sẽ được dùng trong việc xác định một khu vực đang tranh chấp. Tên gọi nội hàm sự chính danh, yếu tố không lan toả sức mạnh, nhưng là cầu nối dẫn đến tính hợp pháp của sức mạnh.

Đến dân sự hoá

Bên cạnh đó, nếu “học thuật hoá” từ bên ngoài mang lại lý lẽ trên mặt trận thương thuyết, thì từ bên trong, nó là nguồn khơi của những đồng thuận. Gần đây công tác tuyên truyền biển đảo được đánh giá như một bước đi cần thiết để mang các đề tài phức tạp trở thành đơn giản đến quần chúng số đông. Tuyên truyền, tuy vậy, chỉ giới hạn ở mức độ phát động từ trên xuống, và cần tiếp lực bằng những hỗ trợ theo chiều rộng từ các sáng kiến từ dưới lên. Vì thế, “học thuật hoá” đi trước, “dân sự hoá” cần phải tiếp bước theo sau.

Bài học lịch sử tại đàm phán Paris 1973 nhấn mạnh tính “nhân dân” đóng vai trò rất quan trọng trong thắng lợi ngoại giao chung, như trưởng đoàn chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình khẳng định: “Đặc điểm lớn nhất của ngoại giao Việt Nam là sự kết hợp giữa ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân. Ngoại giao nhà nước có chiến lược chiến thuật rất tốt nhưng đối ngoại nhân dân cũng là vũ khí khá sắc bén để chúng ta tranh thủ sự ủng hộ của thế giới đối với cuộc kháng chiến”.

Qua nhận định trên có thể thấy, nếu ngoại giao nhân dân đã từng là lưỡi liềm đỏ trong chiến tranh Việt Nam, thì ở thế kỷ 21, nó cũng là một tiếng vọng lương tri quy lòng người về một mối. Hiện nay, một trong những vấn đề cấp thiết của bài toán Biển Đông đang nằm ở việc làm sao phải mổ xẻ tiếp những điểm còn khúc mắc, tìm ra được cái “hợp lý hơn” của lý lẽ.

Điều này không chỉ là nhiệm vụ của nhà hoạch định chính sách, học giả mà còn là trách nhiệm của mỗi người con đất Việt. Từ gia đình chài lưới ở Lý Sơn với công hàm còn lưu của chúa Nguyễn, đến người chiến sĩ đang đứng gác tuổi xuân ở vọng đảo Trường Sa. Từ em học sinh thắp đèn cặm cụi “Thư cho hải đảo”, đến bà mẹ thầm lặng ầu ơ con bằng ca dao lịch sử nước nhà. Đặc biệt, khi câu chuyện càng phức tạp, càng nhạy cảm thì sức hậu thuẫn của toàn dân tộc nhịp theo từng bước chính sách mới càng mang giá trị.

Xin khép lại bài viết bằng hai nhận xét. Thứ nhất, sẽ ảo tưởng, nếu nghĩ rằng chỉ bằng những câu chuyện hấp dẫn sẽ giải quyết hết mọi xung đột vũ trang. Cũng sẽ là ảo tưởng nếu nghĩ rằng, lan toả từ những cá nhân, lý lẽ và lập luận ví như chiếc đũa thần biến mọi khác biệt trở nên đồng thuận. Nhưng nếu đồng ý rằng chính trị quốc tế như một ván bài, thì việc các nhà đại diện quốc gia cần làm là tích luỹ cho mình nhiều quân bài chiến lược nhất có thể. Trên mặt trận thương thuyết, hiểu và sử dụng đúng lúc những nguồn lực “vi mô” này sẽ là chìa khoá đầu tiên mở ra cánh cửa “vĩ mô”. Thứ hai, đi tìm một giải pháp hiện tại vừa cần cái nhìn phía trước, vừa cần tìm lại “túi khôn” thể hiện trong lịch sử dân tộc.

Như lời trối “Thả sức cho dân” của Hưng Đạo Vương với vua Trần Anh Tông khi lâm chung, câu thơ “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân“ trong Cáo Bình Ngô của anh hùng Nguyễn Trãi, hay căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời: “Nếu xa rời nhân dân thì tài tình mấy cũng không làm gì được. Dựa chắc vào dân thì không kẻ địch nào tiêu diệt được ta”. Đó là gì, nếu không phải xây dựng nội lực từ nhân dân, dựa vào quần chúng để tạo dựng cơ đồ? Nay chúng ta chỉ bước tiếp con đường mà ông cha đã đi…

Nguồn:
Ngoại giao nhân dân cho bài toán Biển Đông
Entry liên quan:
TÀU TRUNG QUỐC NGANG NGƯỢC VI PHẠM LÃNH HẢI VIỆT NAM
TRUNG QUỐC PHẢI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
HẢI QUÂN VIỆT NAM BẢO VỆ VÙNG LÃNH HẢI VIỆT NAM
TRUNG QUỐC CÒN MUỐN BẮT NẠT ASEAN THÊM NỮA



 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết