Hiển thị các bài đăng có nhãn chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng

2/9/11

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 2/9/1945



Đã bao giờ bạn đọc toàn văn Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 2/9/1945? Hôm nay ta cùng đọc lại nhé!

Hỡi đồng bào cả nước,

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.







20/7/11

"TÔI TỪNG MƠ MÌNH LÀ HOÀNG TỬ VIỆT NAM"



Bộ trưởng kinh tế Đức Philipp Rösler, 36 tuổi, một người Việt Nam được một gia đình Đức nhận làm con nuôi khi còn rất nhỏ, khẳng định rằng ông chưa bao giờ gặp khó khăn với lai lịch Việt Nam của mình.

Cuộc phỏng vấn ông Philipp Rösler do tạp chí Spiegel thực hiện ngày 19.7 xoay quanh các vấn đề về sự hội nhập của người nước ngoài với xã hội Đức, sự phân biệt đối xử, và ý nghĩa của việc trở thành một người Đức.

SPIEGEL: Bộ trưởng Rösler, ông sinh ra ở Việt Nam và được cha mẹ người Đức nhận làm con nuôi khi ông mới chín tháng tuổi. Lần đầu tiên ông chú ý đến việc ông trông khác với những đứa trẻ Đức khác là khi nào?

Philipp Rösler: Khi tôi lên bốn hay năm gì đó, ba tôi cùng tôi soi gương. Ông nói: "Con hãy nhìn vào con, rồi nhìn vào ba - chúng ta trông khác nhau. Nhưng cho dù có điều gì xảy ra và cho dù người ta có nói gì: ba vẫn là ba con".

Hồi nhỏ ông có bị trêu chọc vì ngoại hình của mình không?

Không, chưa bao giờ. Thỉnh thoảng tôi mơ tưởng mình là một hoàng tử Việt Nam bị lạc nữa. Suy nghĩ đó làm tôi thích thú. Có lúc tôi còn hỏi ba là ở Việt Nam có hoàng tử không. Ông nói là từng có vua ở đó, nhưng giờ không còn nữa. Chuyện (tôi hỏi ba) xảy ra vào khoảng năm 1980.

Với ngoại hình của mình, hồi thiếu niên ông có bao giờ hình dung đến một ngày ông trở thành phó thủ tướng Đức không?

Làm sao mà một thiếu niên có thể hình dung đến việc trở thành phó thủ tướng được? Tôi thấy người dân Đức đã rất thông cảm và chấp nhận việc tôi trông khác với một "người Đức bình thường". Ở nước ngoài, điều này hiện giờ và sau này vẫn còn gây chú ý. Tôi vừa mới tháp tùng thủ tướng (Angela Merkel) đến Washington và khi chúng tôi được đón tiếp ở Nhà Trắng, tổng thống Obama đã rất tò mò về sự nghiệp chính trị của tôi.

Có phản ứng nào từ Việt Nam khi ông trở thành chủ tịch của đảng Dân chủ Tự do (FDP) – đảng liên minh với đảng bảo có đường hướng bảo thủ của thủ tướng Angela Merkel – và phó thủ tướng Đức?

Tôi nhận được lời chúc mừng từ nhiều nước, trong đó có Việt Nam, điều đó khiến tôi rất vui. Nhưng không có mối liên hệ gì gán ghép vào lai lịch Việt Nam của tôi cả.

Những người ở Việt Nam có tự hào về Philipp Rösler?

Xe chở khách du lịch Việt Nam thường dừng ở bộ của tôi, và với nhiều người Việt Nam, đó chắc chắn là điều gì đấy đặc biệt. Nếu ai đó gốc Đức được nhận làm con nuôi và trở thành người trong chính phủ Việt Nam, chúng ta những người Đức có lẽ cũng sẽ thấy thú vị.

Ba ông có kể cho ông nghe nhiều về Việt Nam không?

Ba tôi gặp một số người Việt Nam khi ông làm phi công lái trực thăng cho không quân Đức. Trong những năm 1970, ông thường đi tập huấn ở Mỹ, nơi các phi công của quân đội miền Nam Việt Nam cũng được huấn luyện. Cuộc chiến ở Việt Nam thu hút sự quan tâm của ông, như hầu hết những người cùng thế hệ của ông. Sau đó ông nhận thấy có hai lựa chọn – hoặc là xuống đường và biểu tình, hoặc giúp đỡ theo một cách thiết thực. Ông chọn cách thứ hai và nhận nuôi một đứa trẻ Việt Nam – là tôi.

Giờ, khi ông xem những phim ảnh về chiến tranh Việt Nam, ông đứng về phía bên nào?

Không bên nào cả. Trong những phim chẳng hạn như "Platoon" của Oliver Stone, không cần có một sự phân biệt giữa thiện và ác, vì vậy tôi không thấy mình phải đứng về phía nào.

Ông có bao giờ thử học tiếng Việt chưa?

Chưa.

Ông có bao giờ ước mình trông giống một người Đức không?

Không, vì tôi là một người Đức và tôi luôn cảm thấy như một người Đức. Tôi học trường tiểu học công giáo ở vùng Harburg của Hamburg, nới có rất nhiều học sinh Tây Ban Nha và Ý. Sau ngày đầu tiên ở trường, tôi lại nói chuyện với ba: "Ba ơi, có nhiều bạn người ngoài trong lớp con". Ông đã cười lớn.

Đức có phải là một đất nước thân thiện với người nước ngoài?

Vâng, đúng vậy. Bản thân tôi chưa bao giờ có trải nghiệm tiêu cực nào (về việc này).

Nhóm người nước ngoài nào mà ông cho là sẽ gặp khó khăn ở Đức?

Điều đó khó mà nói được. Nhìn chung, yếu tố nước ngoài và yếu tố xa lạ khiến nhiều người lo sợ. Vì vậy tôi hình dung những người gặp khó khăn nhất là những người mà có vẻ rấc khác biệt với "người Đức điển hình".

Các quan điểm tích cực của ông về nước Đức có liên hệ gì với việc ông đã được lớn lên trong một môi trường được che chở không? Một cậu bé Thổ Nhĩ Kỳ ở vùng ven khó khăn của Berlin như quận Neukölln chẳng hạn có thể có một cái nhìn rất khác về nước Đức.

Không có ai giễu cợt với điều tôi được thừa hưởng. Nhưng những cậu bé Thổ Nhĩ Kỳ thường bị véo mũi vì chúng trông khác mọi người. Tôi thấy điều này không công bằng và nguy hiểm. Làm sao một người có thể cảm thấy họ là một phần của xã hội khi bị nói ngay từ đầu là: "Bạn không thực sự là một phần của chúng tôi?".

Tại sao thái độ với người nước ngoài ở Đức lại trở nên khó chịu như vậy?

Trong quá khứ, người nước ngoài được xem là làm giàu cho đất nước này. Đức cần lao động, vì vậy người Tây Ban Nha, Ý, và người Thổ Nhĩ Kỳ được chào đón. Khi nỗi lo thất nghiệp tăng lên, nỗi sợ của nhiều người về việc người nhập cư sẽ lấy mất việc làm của họ cũng tăng lên. Dù sao thì trong vài năm qua, thái độ này đã được cải thiện đáng kể.

Và tại sao tân phát xít ở phía Đông nước Đức gọi người Việt Nam là "dân Fiji" như một cách miệt thị?

Gọi người Việt Nam là dân Fiji hoàn toàn là ngu xuẩn, ít nhất là về mặt địa lý. Đảo quốc Fiji cách Việt Nam hàng ngàn km.

Ông có nhận thấy rằng người ta đang lo sợ người nhập cư không?

Luôn có hai cách ứng xử với những nỗi lo sợ như vậy. Hoặc anh đầu hàng nỗi sợ và khép kín bản thân mình, hoặc anh cố gắng cởi mở và nói cho mọi người cùng hiểu. Tôi thấy cách thứ hai thoải mái hơn.

(Theo Spiegel)

Nguồn:
Philipp Rösler: "Tôi từng mơ mình là hoàng tử Việt Nam"

Entry tham khảo:
ROESLER - NGƯỜI GỐC VIỆT THÀNH ĐẠT NHẤT THẾ GIỚI
HIỆN TƯỢNG CHÍNH KHÁCH GỐC VIỆT ROSLER



10/6/11

HÀNG XÓM KỲ LẠ VÀ LIÊN MINH CHÂN VẠC


Tàu thăm dò địa chấn Viking II đã từng bị quấy phá hai lần trước đó
vào các ngày 29.5 và 31.5.2011 tại vùng biển Việt Nam.
Ảnh: MarineTraffic.com

LÊ VĨNH TRƯƠNG

Trong lịch sử đối đầu với Trung Quốc, Việt Nam chưa hề có bên thứ ba nào giúp sức mà trái lại, Trung Quốc đã từng có các bên thứ ba giúp sức trong một số cuộc chiến với Việt Nam như cuộc chiến thời Lý năm 1076, Quách Quỳ và Triệu Tiết đánh từ phía bắc xuống và hẹn Chiêm Thành, Chân Lạp đánh từ phía nam lên. Còn gần đây, các bên thứ ba thường cũng là bên xử lý quan hệ Trung Quốc – Việt Nam trên cơ sở lợi ích của họ.

Theo học giả địa chính trị Samuel P. Huntington thì trong tương lai, nếu xảy ra những cuộc xung đột lớn thì đó sẽ là những cuộc xung đột giữa các nền văn minh như Hồi giáo, Hindu, Nhật Bản, Mỹ Latinh, Khổng giáo... Ông này xếp Việt Nam vào nền văn minh Khổng giáo, cùng với Trung Quốc. Tuy vậy, trong một tác phẩm của mình, ông lại tiên đoán quân đội Trung Quốc sẽ xâm chiếm Việt Nam (theo The clash of civilization and remaking of world order, Touchstone, 1996, trang 313).

Từ cách đặt vấn đề của Samuel P. Huntington, tham khảo lịch sử, có thể thấy từ xa xưa Trung Quốc đã thấm nhuần lý thuyết “viễn giao cận công” – đánh gần và ngoại giao xa. Do vậy, đồng minh hàng xóm của họ – ngoài các gương mặt như Bắc Hàn, Myanmar và Pakistan – người ta chưa thấy nhiều hơn. Còn với “láng giềng gần” Việt Nam, cường quốc có cùng nền văn minh Khổng giáo này lại tỏ ra thô bạo với ngư dân Việt ở những ngư trường mà lâu nay Việt Nam vẫn đánh bắt cá và gần đây, còn có hành động phá hoại tàu Bình Minh 2 trên vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Tín hiệu mà họ muốn gởi đến, có lẽ không chỉ là ngư dân hay Chính phủ Việt Nam, mà còn cả những đồng minh tiềm ẩn của Việt Nam: “Ai sẽ cứu Việt Nam nếu Việt Nam chưa lên phương án tự bảo vệ mình?” Trung Quốc đang tìm cách quấy phá để những ai muốn liên minh với Việt Nam sẽ phải nản lòng khi nhìn thấy một đối tác liên minh tương lai chưa sẵn sàng.

Nhiều chuyên gia nhận định khi hành xử thô bạo với ngư dân và tàu Bình Minh 2 của PVN Việt Nam, Trung Quốc đang làm phép thử với ASEAN, Ấn Độ, Mỹ và các nước có lợi ích thông thương không chỉ ở Biển Đông. Bối cảnh hiện tại cho thấy các cường quốc đứng trung lập về chủ quyền của Trường Sa, Hoàng Sa. Cả ASEAN hiện cũng chưa lên tiếng.

Không phải tự nhiên Trung Quốc tự tin hơn mức cần thiết khi tham gia và phát biểu tại các diễn đàn đa phương của khu vực. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì đã bất chấp nghi lễ ngoại giao nói thẳng vào mặt ngoại trưởng Singapore: Chúng tôi là nước lớn, các ông là nước nhỏ! Và gần đây, giới quân sự Trung Quốc đi thăm Mỹ và ba nước ASEAN (Singapore, Indonesia và Philippines). Họ cũng thường xuyên liên lạc với Malaysia, người bạn cùng đăng ký một hồ sơ về thềm lục địa của Việt Nam. Về phía Ấn Độ Dương, Trung Quốc tiến hành chiến lược “chuỗi ngọc trai” từ Pakistan, Maldives, Mauritus, SriLanka, Bangladesh, Myanmar để chuẩn bị cho vành đai Ấn Độ Dương.

Tàu ngư chính 311 của Trung Quốc tham gia phá cáp thăm dò địa chấn
của tàu Viking II thuộc Petro Việt Nam ngày 9.6.2011
tại thềm lục địa Việt Nam
Ảnh: Tư liệu

Lịch sử cũng cho thấy dân tộc Việt Nam, khi độc lập, chủ quyền đất nước bị đe doạ, người dân sẽ kết thành một khối không khuất phục. Tinh thần bất khuất ấy, theo nhìn nhận của các chuyên gia, sẽ như chiếc chìa khoá mở cánh cửa để bạn bè thế giới đến bên Việt Nam. Nói cách khác, giải pháp phải do chúng ta tự tìm kiếm lấy. Tình thế hiện nay cho thấy phải có một sự độc lập, tự chủ, trọng dân, dựa vào dân mới không thành nạn nhân thoả thuận của các nước lớn. Độc lập, tự chủ và dựa vào dân (như Thái Lan, Hàn Quốc, Singapore) chính là cách để Việt Nam có được một đồng minh kính trọng mình. Trên thực tế, những quốc gia vừa nêu đều có sự liên kết với các cường quốc khá bền vững và hiệu quả.

Nhìn từ góc độ này, cộng với cách thức viễn giao truyền thống của người láng giềng Trung Quốc – như trình bày ở trên – có vẻ không còn cô đặc mà đang loãng dần vì họ phải dàn trải khá nhiều nơi với các lợi ích khác nhau, chúng ta không phải không có những thuận lợi.

Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh từng trả lời báo chí khi được hỏi về vấn đề giải quyết tranh chấp trên Biển Đông rằng Việt Nam có thể tự bảo vệ mình mà không cần đến nước thứ ba. Điều đó cho thấy sự tự tin của Việt Nam. Tuy vậy, sự tự tin đó sẽ càng vững chắc hơn nếu Việt Nam có thêm hỗ trợ tinh thần của nhân loại yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới.

Với các góc nhìn trên, có thể thấy nếu khôn khéo trong việc liên minh, Việt Nam có thể xử lý tốt vấn đề Biển Đông bằng thắng lợi ngoại giao. Còn nếu phải dùng biện pháp mạnh, Việt Nam sẽ phải tính toán để có đủ bạn và bắt lấy để có cơ hội cho ngàn năm sau dân tộc Việt Nam được sống trong hoà bình. Mọi động thái của người láng giềng lúc này cần được tham khảo thật sâu sắc và chúng ta cũng rất mong chờ một sự xử lý cương nhu kết hợp, công thủ toàn diện trên mọi mặt ngoại giao, kinh tế và quân sự vì chủ quyền đất nước vào lúc này của các nhà lãnh đạo. Trong đó, thiết nghĩ một công cuộc ngoại giao dựa vào dân và lắng nghe dân sẽ là nền tảng. Nền ngoại giao ấy là bảo đảm để có sự tôn trọng và tin tưởng của các đồng minh dành cho Việt Nam trong thế trận tương lai.

Nguồn:
Hàng xóm kỳ lạ và liên minh chân vạc
Tham khảo:
TÀU TRUNG QUỐC NGANG NGƯỢC VI PHẠM LÃNH HẢI VIỆT NAM
TRUNG QUỐC PHẢI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
HẢI QUÂN VIỆT NAM BẢO VỆ VÙNG LÃNH HẢI VIỆT NAM
TRUNG QUỐC CÒN MUỐN BẮT NẠT ASEAN THÊM NỮA
NGOẠI GIAO NHÂN DÂN CHO BÀI TOÁN BIỂN ĐÔNG
BÁM BIỂN
BIỂN ĐÔNG NHỎ CHƯA HẲN YẾU



22/5/11

SỰ CHỊU ĐỰNG CỦA NGƯỜI VỢ



Phần Dominique Strauss-Kahn đã coi như phần nào "yên", được tại ngoại hầu tra tuy là tù giam lỏng, ngồi chờ các luật sư của mình bóp óc tìm cách bào chữa sao cho nhẹ tội. Bây giờ mọi ống kính quay về rình "người đàn bà đáng thương nhất thế giới" trong những ngày này và sắp tới: Anne Sinclair, vợ của Strauss-Kahn.

Vai trò của Anne trong vụ án Strauss-Kahn

Là khuôn mặt được mọi người dân Pháp biết và yêu mến, ngày 20.5, Anne Sinclair đã lên trang nhất của hầu hết báo Pháp và một số báo ngoại, bởi vì số phận Anne gắn mật thiết với Strauss-Kahn, khiến dân Pháp đam mê. Báo Le Monde cho rằng đây chắc chắn là cơn khủng hoảng nghiêm trọng nhất bà phải đối phó... Có báo còn bỏ cả hình ảnh Liên hoan điện ảnh Cannes để đưa Anne lên trang nhất, hay dành cả 6 trang để viết về cuộc đời bà. Trước thảm kịch một tháng, người ta đã tưởng tượng Anne trong vai trò phu nhân số 1 của Pháp. Tờ New York Times cũng ghi chép dài dòng về con đường lập thân của Anne với nhiều lời khen: đẹp, nhà báo tài năng, con nhà giàu sụ, mẹ của các con thành đạt, bây giờ lại rơi vào danh sách những người đàn bà phải chịu đựng các phanh phui bẩn thỉu...

Cho đến giờ, cựu ký giả nữ của mục "7 trên 7" danh tiếng đề cập rất ít về vụ việc này và sống nhờ nhà bạn để tránh phó nhòm luôn rình rập trước nhà mình, không thể cố thủ trong sự im lặng thận trọng lâu dài nữa, bởi sự làm chứng của bà sẽ cho phép bồi thẩm đoàn và ông toà hình dung được về con người thực của Strauss-Kahn. Dày kinh nghiệm truyền thanh, truyền hình cũng như trên mạng, sự can thiệp của Anne Sinclair cho phép lập lại hình ảnh con người bình thường cho Strauss-Kahn và đối đầu với trò "siêu truyền thông" bất lợi trong vụ việc. Ngày 21.5, bà Anne đã gom 5 triệu USD tiền cổ phiếu từ việc bán nhà ở Washington đóng vào khoản thế chân bảo lãnh tại ngoại cho ông chồng, nâng tổng số tiền thế chân này lên 6 triệu USD. Số tiền này được xem là một trong những khoản tiền thế chân tại ngoại lớn nhất trong lịch sử xét xử của Mỹ.

Không ai có thể nói chính xác chuyện gì đã xảy ra giữa Strauss-Kahn và cô làm phòng trong thời gian từ 12 giờ đến 12 giờ 29 ngày 14.5, phải đợi lời tuyên bố chính thức của Strauss-Kahn mà cho đến nay chưa biết. Từ hôm đầu tiên vụ việc, Anne đã khẳng định rằng đây là một cú dàn dựng. Niềm tin đó dựa vào 20 năm hôn nhân, hình ảnh hai vợ chồng luôn hợp nhất qua nhiều sóng gió, nên Anne sẽ mang lại cho chồng sự nâng đỡ quan trọng. Sự chân thật của Anne, được củng cố bằng tính chuyên nghiệp hoàn hảo, có thể sẽ làm công chúng Mỹ không hề biết bà từng là ký giả rung cảm.


Thân thế người vợ thứ ba của Strauss-Kahn

Sinh năm 1948 ở New York, cháu của Paul Rosenberg (nhà buôn hàng nghệ thuật Do Thái), và con duy nhất của Robert Schwartz (mà Sinclair là bí danh thời kháng chiến, truyền lại cho con gái), Anne được hưởng gia tài kếch sù. Cử nhân luật, Anne tốt nghiệp Sciences-Po Paris. Ly dị với nhà báo truyền thanh Ivan Levai, bà hành nghề nhà báo từ đầu những năm 70, là ngôi sao của màn ảnh nhỏ những năm 90, và được tôn vinh là có tay nghề thành thạo, Anne lập danh cho mình qua chương trình "7 sur 7" của TF1 trong suốt 13 năm.

Bà gặp Strauss-Kahn năm 1989 và tái giá 2 năm sau, đã mang lại cho chồng sự thoải mái vật chất và mở ra cho ông địa chỉ của nhiều chính trị gia và nhà trí thức, kết quả của những năm làm việc nghiêm chỉnh. Đặc biệt năm 1991 đó, Anne Sinclair được Thị trưởng Pháp chọn làm hiện thân cho Marianne (biểu tượng của nước Pháp), nên lễ cưới thân mật được diễn ra dưới bức tượng bán thân của chính cô dâu. Tám năm sau khi Strauss-Kahn làm bộ trưởng Kinh tế, Anne giải nghệ, đóng vai người đàn bà sát cánh trong sự nghiệp của chồng.

Năm 1999, Strauss-Kahn từ chức bộ trưởng Kinh tế sau vụ việc Mnef (*), Anne ở đó nâng đỡ chồng mặc dù có sự nghi ngờ, và việc ông từ chức vội vàng. Hai năm sau mới được thanh minh. Gần 10 năm sau, bà lại hỗ trợ chồng trong vụ lem nhem tình ái với Piroska Nagy. Dù bị lừa, bà vẫn viết trong blog của mình là "chúng tôi vẫn yêu nhau như ngày đầu". Từ nhiều tháng nay, trên blog, Anne đã phát tán nhiều câu ngắn về cuộc bầu cử tổng thống 2012, nâng đỡ tham vọng của chồng. Bây giờ bằng sức lực và lòng tin thẳng thắn, vững chãi của mình, bà sẽ "nhân tính hoá" lại Strauss-Kahn đang bị xem là tội phạm.

Nguy hiểm của truyền thông

Điều buồn cười là bây giờ Strauss-Kahn ngã xuống, nhiều bà lại lên tiếng đã từng bị ông quấy nhiễu. Riêng trường hợp nhà văn Tristane Banon, người kể đã từng là nạn nhân của Strauss-Kahn năm 2002, thì cũng có nguồn tin rằng trong một quyển sách có đoạn cô phỏng vấn Strauss-Kahn, sau bị Strauss-Kahn cho người liên hệ với NXB rút bỏ, Tristane Banon thề sẽ trả thù. Còn các phương tiện truyền thông thì càng ngày càng nguy hiểm, họ tuyên bố nhanh quá, giật gân quá. Họ đã kiểm chứng để biết đâu là sự thực chưa? Tờ Libération đã tự làm kiểm điểm trên trang nhất - chủ biên Nicolas Demorand viết trong “Tính dục, truyền thông và tranh cãi”: “Dù phải lội ngược dòng thời đại và ngược lại các thúc đẩy đó đây, Libération tiếp tục nguyên tắc đầu tiên, là tôn trọng đời tư của quý ông, quý bà chính trị gia. Đó là nguyên tắc đạo đức giả đối với một số người, nhưng nó là chính yếu”.

Trong khi tờ New York Times chê truyền thông Pháp là theo “luật im lặng”, là trộn lẫn các thể loại, là quan hệ loạn luân giữa truyền thông và chính trị.

Từ mấy hôm nay, Twitter hay Les Guignols (**) đều đem vụ Strauss-Kahn ra giễu cợt. Báo Le Canard enchainé (Con vịt bị buộc) chơi chữ, đổi khẩu hiệu “Election, ... piège à cons” (Bầu cử là cái bẫy cho bọn ngu) thời bạo động tháng 5.1968 thành “Erection, piège à cons” (Cương dương là cái bẫy cho bọn ngu).

Bernard Henri Lévy, bạn Strauss-Kahn từ 30 năm, cho rằng những người cứ nói “biết từ lâu” rồi, mà lựa lúc Strauss-Kahn sụp xuống đất, mới mở gói ra, là đáng tởm. Giữa thông tin và đại chúng hoá đời sống chính trị, ranh giới rất mong manh. Nhưng điều 9 luật dân sự không có chỗ cho sự diễn dịch tùy tiện: “mọi người đều có quyền được tôn trọng đời tư”.

Với Strauss-Kahn, sự nghiệp đã nằm sau lưng. Chỉ tội cho Anne, nhiều việc nhiêu khê chỉ mới bắt đầu. Người ta chờ đợi sự can thiệp xứng đáng của bà.

Xuân Sương (Paris, 5.2011)


(*) Vụ MNEF (Mutuelle Nationale des Etudiants de France, quỹ bảo hiểm xã hội của sinh viên Pháp): Strauss-Kahn bị quy kết lấy tiền quỹ do tạo công việc ảo.

(**) Les Guignols de l’info, thường gọi tắt Les Guignols, là chương trình tivi trào phúng với hình con rối, phát trên Canal+ từ 1988. Mô phỏng tin tức truyền hình, đây là chương trình biếm họa thế giới chính trị, và nói chung, xã hội Pháp cũng như thế giới hiện tại.

Nguồn:
Nỗi chịu đựng của vợ cựu tổng giám đốc IMF



19/5/11

DOMINIQUE STRAUSS-KAHN: TỪ "THIÊN ĐƯỜNG" XUỐNG THẲNG "ĐỊA NGỤC"


Quá trình rơi xuống địa ngục của ông Dominique Strauss-Kahn, một trong những nhân vật sáng chói nhất trên chính trường nước Pháp, một trong những nhân vật có thế lực nhất toàn cầu, chỉ mới bắt đầu.

Bị còng hai tay sau lưng và bị hai cảnh sát xốc nách đi, rồi bây giờ bị tống giam với những cáo buộc nặng nề về cưỡng bức tình dục, Dominique Strauss-Kahn, một trong những nhân vật sáng chói nhất trên chính trường nước Pháp, một trong những nhân vật có thế lực nhất toàn cầu, đã rơi xuống tận đáy, tiêu tan hoàn toàn tham vọng trở thành Tổng thống tương lai của nước Pháp.

Rơi xuống địa ngục

Cho tới ngày 16.5, các luật sư của cựu bộ trưởng Kinh tế Pháp vẫn hy vọng là ông sẽ được tại ngoại trong thời gian điều tra và trong thời gian đó, họ sẽ tìm ra đủ bằng chứng để minh oan cho ông. Đó cũng là hy vọng của gia đình, của Đảng Xã hội Pháp và dư luận Pháp nói chung, bởi vì vụ này đang làm tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh nước Pháp.

Nhưng trước đề nghị nộp tiền bảo lãnh 1 triệu USD, nữ thẩm phán Melissa Jackson vẫn giữ thái độ kiên quyết, ra lệnh tống giam ông Dominique Strauss-Kahn, khởi đầu cho một thủ tục tố tụng hình sự chắc chắn sẽ kéo dài.

Cho dù cuối cùng có được trắng án thì công danh sự nghiệp của Dominique Strauss-Kahn coi như chấm dứt ở đây.

Năm nay 62 tuổi, ông Dominique Strauss Kahn, một kinh tế gia lỗi lạc, đã góp phần nâng cao uy tín của quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) kể từ khi ông được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc của định chế này năm 2007, một chức vụ coi như ngang hàng với các nguyên thủ quốc gia trên thế giới.

Với trình độ, kinh nghiệm nhiều lần làm bộ trưởng của ông, từ nhiều tháng qua, Dominique Strauss-Kahn vẫn được đa số dân Pháp xem là một trong những ứng cử viên Tổng thống có khả năng giải quyết các vấn nạn của nước Pháp, đặc biệt là thất nghiệp.

Trong nội bộ Đảng Xã hội, đảng đối lập cánh tả, tuy có nhiều nhân vật khác sẽ tham gia bầu cử sơ bộ chọn người đại diện cho Đảng ra tranh cử Tổng thống năm 2012, nhưng trước khi xảy ra vụ New York, mọi người coi như đã chấp nhận ông Dominique Strauss-Kahn như là ứng cử viên đương nhiên, bởi vì chỉ có ông mới chắc chắn đánh bại được ứng cử viên cánh hữu Nicolas Sarkozy.

Nay, bàn cờ chính trị phải được sắp lại, với viễn cảnh là Đảng Xã hội sẽ lại để tuột mất cơ hội giành chiếc ghế lãnh đạo tối cao.

Rơi xuống tận đáy như vậy, chính là vì tổng giám đốc IMF vẫn có một điểm yếu, đó là phụ nữ, điều mà chính bản thân ông vẫn thừa nhận.

Từ nhiều năm qua, thói trăng hoa của ông không còn là chuyện bí mật đối với giới báo chí Pháp, nhưng hầu như không ai nói đến trên mặt báo, với lý do không muốn đụng chạm đến đời tư của các chính trị gia.

Nhưng ngay cả khi đã sang Washington làm việc, tại một quốc gia rất kỵ những vụ bê bối tình dục, ông Dominique Strauss-Kahn vẫn “ngựa quen đường cũ”. Ông lại dan díu với nhân viên cấp dưới, một nữ kinh tế gia người Hungary và suýt nữa đã bị mất chức vì vụ này. Vào lúc đó, người vợ thứ ba của ông, bà Anne Sinclair, một nhà báo nổi tiếng của Pháp, đã công khai tuyên bố tha thứ cho chồng. Lần này, sau khi ông Dominique Strauss-Kahn bị bắt ở New York ngày 14.5, bà Anne Sinclair cũng đã tuyên bố “không tin chút nào” những lời cáo buộc đối với chồng bà.

Nhưng vụ New York không phải chỉ là cuộc tình vụng trộm qua đêm, mà là một vụ án hình sự nghiêm trọng, vì với những tội danh bị cáo buộc, cựu Bộ trưởng Pháp có thể lãnh án tổng cộng đến tới 74 năm tù.

Quá trình rơi xuống địa ngục của ông Dominique Strauss-Kahn chỉ mới bắt đầu.

Ông Strauss-Kahn bị phân biệt đối xử?

Việc cảnh sát Mỹ để cho ống kính toàn thế giới chụp và quay cảnh ông Dominique Strauss-Kahn bị còng hai tay dẫn đi hôm 15.5 đã gây sốc dư luận Pháp, nhất là vì luật pháp của Pháp không cho phép điều này. Ngày 17.5, nhiều nhân vật trong Đảng Xã hội cánh tả đã nhất loạt chỉ trích hệ thống tư pháp Mỹ. Nhưng dù muốn hay không, thì vị tổng giám đốc IMF này sẽ được xử theo luật pháp Mỹ.

Cựu bộ trưởng Văn hóa Pháp Jack Lang đã mô tả việc đối xử của Mỹ với ông Strauss-Kahn là một "vụ phân biệt chủng tộc” đầy kinh dị và khiêu khích, đáng ghê tởm. Còn Segolene Royal, người đã đánh bại ông Strauss-Kahn để trở thành ứng cử viên tổng thống của đảng Xã hội năm 2006, nói rằng người Mỹ cần phải nhớ rằng ông Kahn là vô tội cho đến khi được chứng minh có tội.


Thị trưởng TP New York, Michael Bloomberg đã bảo vệ việc cảnh sát thành phố công khai dẫn giải ông Dominique Strauss-Kahn với hai bàn tay bị còng sau lưng trước các nhà báo. Việc này khiến một số chính trị gia Pháp lên tiếng phẫn nộ.

"Tôi nghĩ rằng điều đó là nhục nhã, nhưng nếu bạn không muốn việc này thì không nên phạm tội'', ông Bloomberg nói. Ông cũng cho rằng hệ thống tư pháp của Mỹ luôn công khai làm việc nơi công cộng để mọi người có thể nhìn thấy thủ phạm.

Ông Bloomberg khẳng định: "Điều đáng buồn là bị buộc tội, tuy nhiên xã hội cần phải nhìn vào đó để làm gương và qua đó chúng ta cần phải cẩn thận hơn trong mọi hành động'.

"Tôi từ chức để lấy lại thanh danh"

Ngày 19.5, đúng như dự báo của giới quan sát, sau khi bị áp lực từ nhiều phía, tổng giám đốc quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) Dominique Strauss-Kahn (DSK) đã gửi thư thông báo từ chức đến ban điều hành IMF. Nhưng ông này vẫn mạnh miệng tuyên bố mình vô tội.

Ông giải thích: “Việc tôi từ chức nhằm không tổn hại danh tiếng của định chế tài chính mà tôi đã gắn bó và đặt nhiều cống hiến tâm huyết. Tôi muốn tập trung dành thời gian và công sức để chứng minh sự vô tội và lấy lại thanh danh. Tôi rất kiên định với những lý lẽ chống lại tất cả các cáo buộc nhắm vào tôi".

DSK bày tỏ “nỗi buồn vô hạn và niềm may mắn là vẫn nhận được sự khích lệ từ người vợ (hiện đã bay đến Mỹ) cùng các con.

Trong khi đó, luật sư Shawn P. Naunton của ông đang xúc tiến các thủ tục cần thiết tại Tòa án tối cao New York để thân chủ được tại ngoại hầu tra. Số tiền thế chân dự kiến là 1 triệu USD tiền mặt, đi kèm các điều kiện: ông bị giới hạn tại nhà con gái ở Manhattan, với thiết bị giám sát điện tử và giao nộp tất cả các giấy tờ tùy thân để "đảm bảo không rời khỏi phạm vi triệu tập của tòa án".

Trước đó, thẩm phán tòa án hình sự Manhattan đã từ chối yêu cầu được tại ngoại của bị cáo. Trong bản kháng cáo lên Tòa án tối cao tiểu bang, luật sư mô tả DSK là "một người chồng và người cha có trách nhiệm, một nhà ngoại giao, luật sư, chính trị gia, nhà kinh tế và giáo sư, được vị nể và không có tiền án".


Các nhà phân tích dự báo, cho dù có thoát án tù, sự nghiệp và tương lai chính trị của DSK cũng “đi tong” sau vụ này.

Việc ông DSK tự nguyện từ chức là điều không tránh khỏi. Vì nếu thẩm phán New York tiếp tục từ chối cho ông được tại ngoại hầu tra, ban điều hành IMF cũng sẽ cách chức ông ta. Lý do được một quan chức giấu tên của định chế này tiết lộ rằng: “ông DSK không thể lãnh đạo IMF từ nhà giam, hoặc xa trụ sở chính của Washington”.

Jean-Francois Cope, tổng thư ký đảng cánh hữu cầm quyền UMP nói: "Tôi không thấy DSK còn đủ tư cách để thực hiện vai trò điều hành IMF. Tổ chức này nên cân nhắc người thay thế ông ta trong những ngày tới".

Trong khi đó, bộ trưởng Tài chính Mỹ Timothy Geithner bình luận rằng: "DSK không còn thích hợp ở vị trí điều hành IMF".

Cùng lúc, bộ trưởng Tài chính Áo lên tiếng đề nghị DSK nên tự trọng và từ chức vì lợi ích của định chế tài chính này.

DSK hiện đang bị giam giữ tại nhà tù Rikers Island trong tình trạng canh gác cẩn mật 24/24. Đề phòng trường hợp ông nghĩ quẩn và tự sát, cứ 15 - 30 phút sẽ có người kiểm tra buồng giam. Ông được phép đi ra ngoài buồng giam một giờ/ngày. Do đang chờ ra tòa ngày 20.5, ông không phải mặc áo tù như các tù nhân khác, nhưng phải mang giày không thắt dây.

Trước ngày 20.5, một bồi thẩm đoàn nhân dân gồm từ 16 -23 người sẽ họp kín để quyết định có chính thức truy tố ông DSK hay không.

Một nguồn tin cho biết, các luật sư của DSK đã chuyển hướng bào chữa, xác nhận rằng thân chủ của họ và cô dọn phòng khách sạn có quan hệ tình dục, nhưng là quan hệ có thỏa thuận, chứ không phải cưỡng bức như cáo buộc.

Đáng lưu ý, cách đây không lâu, DSK đã từng dự báo rằng ông có thể bị đối thủ chính trị trong cuộc chạy đua bầu cử tổng thống Pháp giăng bẫy mỹ nhân kế. Ông đã đưa ra giả thuyết rằng đối thủ của mình dàn xếp một phụ nữ nào đó nhận tiền cả triệu euro để dựng lên kịch bản “bị hiếp dâm”.

Nguồn:
Từ nhân vật sáng chói rơi xuống địa ngục vì phụ nữ
Tổng giám đốc IMF: "Tôi từ chức để lấy lại thanh danh"



11/5/11

HIỆN TƯỢNG CHÍNH KHÁCH GỐC VIỆT ROSLER



TS NGUYỄN SỸ PHƯƠNG

Rösler trở thành bộ trưởng ở tuổi 36, trẻ nhất trong nội các Chính phủ Liên bang Đức hiện nay và nhiều khả năng sẽ giữ chức chủ tịch đảng FDP trong kỳ bầu cử sắp tới. Rösler thu hút sự chú ý đặc biệt của chính trường lẫn công luận khi trở thành Phó thủ hiến tiểu bang Niedersachsen, được coi là “vũ khí bí mật của đảng FDP”, “tương lai của FDP”.

Người ta hâm mộ ông bởi tài năng bẩm sinh “nói nhanh, sắc bén”, “điểm đúng huyệt, nhưng chừng mực, lịch sự”, “tuân thủ luật hoàn hảo, không chơi xấu đối thủ kiểu đấm bốc vào vùng cấm dưới thắt lưng, không làm tổn thương đẩy họ vào thế đối đầu”.

Sự nghiệp chính trị của ông tới nay được coi là lên nhanh một cách kỳ lạ.

Thành công nhờ xây dựng một xã hội mạnh

Tốt nghiệp phổ thông 1992, Philipp Rösler gia nhập đảng FDP, trở thành chủ tịch cấp thành phố năm 1994 (21 tuổi), cấp tiểu bang năm 1996 (23 tuổi); tổng thư ký đảng FDP tiểu bang năm 2000 (27 tuổi); trưởng đoàn nghị sĩ FDP tiểu bang năm 2003 (30 tuổi); chủ tịch đảng FDP tiểu bang năm 2006 (33 tuổi); phó thủ hiến, kiêm bộ trưởng Kinh tế năm 2009 (35 tuổi). Chỉ tám ngày sau nhậm chức phó thủ hiến (chỉ kéo dài tám tháng), đơn đệ trình của ông đòi hoãn một năm kế hoạch tăng 30% lệ phí quản lý đường hàng không, được Thượng viện bỏ phiếu chấp thuận. Chín ngày sau nhậm chức, ông triển khai chương trình kích cầu 50 tỉ euro toàn liên bang lúc đó, cho xây dựng ba tuyến đường tiểu bang kết nối với đường liên bang. Tám tháng sau, với thắng lợi kỳ bầu cử quốc hội liên bang 27.9.2009, Rösler dẫn đầu đảng FDP đàm phán thành công với song đảng Union về các chính sách cơ bản cho chính phủ liên minh, giữ chức bộ trưởng Y tế liên bang.

Thành công của chính khách bắt nguồn từ tư tưởng chính trị. Chủ thuyết của Rösler là “cần xây dựng một xã hội mạnh thay vì một nhà nước mạnh“, bởi “trật tự, pháp luật, nhà nước, tất cả chỉ là công cụ, phải phục vụ cho các giá trị xã hội, chứ không phải ngược lại“. “Một chủ trương muốn thuyết phục được dân chúng phải là chủ trương được chính họ phản biện thường xuyên...; và chỉ có thể khẳng định qua thực tế, chứ không phải suy ra từ lý thuyết. Vì thế, Rösler lại cũng là một con người thực tiễn, luôn biết rõ người dân cần gì ở mình; chính là lợi ích thiết thân của họ, chứ không phải những lời kêu gọi, đánh giá, ca ngợi rập khuôn; trang mạng cá nhân ông mang tên “sổ ý kiến“, mở ngỏ ai cũng có thể viết hoặc mở đọc, được chính ông trả lời hàng ngày.


Sự rút lui của người đứng đầu

Dù Rösler tài xuất chúng tới mấy, thì ghế chủ tịch đảng và phó thủ tướng trước đó không phải bỏ trống chờ ông. Người đứng đầu đảng FDP là phó Thủ tướng Guido Westerwelle. Sinh năm 1961, ông gia nhập đảng FDP năm 19 tuổi và nhanh chóng thành công trên chính trường: 35 tuổi nghị sĩ quốc hội, 40 tuổi chủ tịch FDP. Kỳ bầu cử quốc hội năm 2009, lần đầu tiên trong 60 năm thành lập, đảng FDP do Westerwelle đứng đầu giành được 14,6% phiếu cử tri, chiếm sáu ghế bộ trưởng trong nội các liên minh 16 thành viên.

Là biểu tượng tinh thần của đảng, quyền lực thứ hai quốc gia, trong tháng trước, Westerwelle tuyên bố không ứng cử tiếp chức chủ tịch đảng, bàn giao chức phó thủ tướng. Từng mang lại chiến thắng vang dội cho đảng FDP, ông Westerwelle chứng tỏ được bản lĩnh vĩ đại, chiến thắng bản thân khi dám thừa nhận thất bại, từ bỏ quyền lực. Ông này thẳng thắn thừa nhận: “Đó là một quyết định cực kỳ khó khăn đối với một chủ tịch đã cống hiến liên tục suốt mười năm liền (ở Đức, đại hội nhiệm kỳ đảng hai năm một lần) bằng cả trái tim đầy nhiệt huyết!” Ông coi đây là một ngày đặc biệt đối với ông bởi đã đưa ra một quyết định đúng đắn, đặc biệt đối với đảng, bởi đảng sẽ có cơ hội khởi đầu một bước ngoặt mới.

Lý do khiến ông Westerwelle rút lui là đảng FDP do ông đứng đầu mất dần sự ủng hộ. Một năm cầm quyền, đảng này chỉ còn 10% cử tri ủng hộ theo thăm dò dư luận. Tháng trước, đảng này chỉ còn 3% cử tri ủng hộ, con số thấp nhất trong lịch sử đảng FDP. Sai lầm đầu tiên là chủ trương hứa cắt giảm thuế không được nội các thông qua do không thể cân đối ngân sách. Sau đó là lời hứa giảm thuế giá trị gia tăng cho ngạch khách sạn từ 19% xuống 7% được thực thi nhưng bị phản đối trên chính trường, do mang tính giải quyết cục bộ. Việc ủng hộ kéo dài thời hạn hoạt động các nhà máy điện hạt nhân để giảm giá nhiên liệu, gặp lúc thảm hoạ nổ lò phản ứng Fukushima Daiichi ở Nhật, bị dân Đức quyết tẩy chay. Sự kiện Đức bỏ phiếu trắng, mà người chịu trách nhiệm là bộ trưởng Ngoại giao Westerwelle, khi Liên hiệp quốc biểu quyết về Libya, bị chính giới chỉ trích nặng nề, cho là lần đầu tiên trong lịch sử, CHLB Đức đã tự cô lập trên trường quốc tế. Phát ngôn của Westerwelle đối với chính sách trợ cấp cho người thất nghiệp lâu dài, bị cả trong và ngoài đảng phản đối, khi ông so sánh chính sách đó với thời La Mã cổ đại tự tiêu vong, do tạo cho lao động không muốn cố gắng.

Hậu quả, cả ba cuộc bầu cử quốc hội tiểu bang tháng trước, thì cả ba nơi đảng FDP đều thất bại nặng nề. Tại tiểu bang Sachsen-Anhalt, từ 6,7% cử tri ủng hộ lần bầu cử trước, tụt xuống chỉ còn 3,8%, dưới ngưỡng 5% theo luật định nên không còn đại biểu trong quốc hội. Tại tiểu bang Rheinland-Pfalz thất bại tương tự, rớt từ 8% cử tri kỳ bầu cử trước xuống 4,2%. Tại tiểu bang Baden-Wüttemberg, từ 10,7% trước đây, xuống còn 5,4%, mất luôn vai trò cầm quyền. Cứ theo đà mất từ 1/3 tới 1/2 cử tri như ba tiểu bang trên, thì tương lai đảng FDP có thể sẽ bị loại khỏi quốc hội lẫn chính phủ. Điều này đặt FDP hoặc phải từ giã chính trường hoặc phải cải tổ đảng, để giành lại tín nhiệm cử tri, tuỳ thuộc giữ hay thay người đứng đầu, dù họ là ai.

Nguồn:
Hiện tượng chính khách gốc Việt Rösler

Entry tham khảo:
ROESLER - NGƯỜI GỐC VIỆT THÀNH ĐẠT NHẤT THẾ GIỚI



2/5/11

CÁI CHẾT BÍ HIỂM CỦA ĐIỆP VIÊN NHỊ TRÙNG ASHRAF MARWAN (2)



Vào đúng ngày Yom Kippur – lễ thiêng liêng nhất theo lịch Do Thái, Zamir gọi điện cho một trợ lý lúc 3.40 phút sáng và thông báo: Ai Cập và Syria sẽ đồng loạt tấn công Israel trên hai mặt trận vào lúc hoàng hôn. Tại cuộc họp khẩn cấp của nội các Israel sáng hôm đó, lời cảnh báo của “Rể” bị coi là thiếu thuyết phục.

Lần trước, ông ta đã nói là chiến tranh sẽ nổ ra, nhưng thực tế lại không đúng như vậy và nhà nước đã phải tiêu tốn 35 triệu USD. Moshe Dayan, Bộ trưởng Quốc phòng Israel lúc đó thuyết giảng tổng chỉ huy quân đội: “Nếu chỉ căn cứ trên những thông điệp của Zvika thì không cần phải tổng động viên toàn bộ quân đội”.

Tuy nhiên, họ vẫn quyết định rằng vào lúc 4 giờ chiều – hai giờ trước khi cuộc tấn công sẽ diễn ra (theo lời cảnh báo của “Rể”), các lữ đoàn xe bọc thép sẽ tiến đến các vị trí dọc Kênh đào Suez. Cho đến khi đó, phía Israel chỉ có 3 chiếc xe tăng án ngữ để ngăn chặn các trận tấn công có thể nổ ra. Vào lúc 2 giờ chiều quân đội Arab khai màn chiến tranh. Ai Cập vượt qua Kênh đào Suez tại miền nam, xe tăng Syria lao xuống từ phía bắc. Họ dễ dàng khống chế đối phương đang còn ngơ ngác và không được chuẩn bị gì. Sau ba ngày giao tranh, Tướng Dayan công khai lo âu về việc Israel bị tiêu diệt. Nữ Thủ tướng Golda Meir yêu cầu mang đến cho mình một lọ thuốc tự sát: bà sẵn sàng chết hơn là chứng kiến cảnh tượng Israel bị tiêu diệt.

Lực lượng đông đảo của Israel đánh trả và chiếm lại được các vị trí then chốt. Sau khi được Mỹ lập cầu hàng không chi viện vũ khí và đạn dược, Israel bắt đầu đánh trả. Vào cuối tháng đó, Israel giành thắng lợi. Cho đến giờ cuộc chiến tranh Yom Kippur vẫn bị coi là một thảm họa tình báo của Israel.

Sau khi Marwan chết, gia đình ông phát hiện ra bản thảo cuốn hồi ký (dự định sẽ phơi bày một số bí mật của các cơ quan tình báo ở Trung Đông) đã bị biến mất. Bà Mona Nasser, vợ ông kể rằng 9 ngày trước khi chết ông thổ lộ với bà rằng ông đang bị truy sát. Bà tin rằng Mossad đã ra tay sát hại ông.

Bà Nasser đã chỉ trích cách mà Cảnh sát Anh tiến hành điều tra cái chết của ông Marwan là “rất cẩu thả”. Đôi giày mà ông Marwan mang lúc chết - có thể chứa bằng chứng AND quan trọng cho thấy ông bị sát hại hay ông đã nhảy lầu tự tử - đã bị các điều tra viên làm mất. Ít nhất một nhân chứng cho biết đã nhìn thấy hai người đàn ông có ngoại hình Trung Đông tại ban công nhà ông ít giây sau khi ông ngã xuống đường. Trong 4 năm trước khi chết, ít nhất 3 lần ông Marwan nói với vợ rằng tính mạng của ông đang ngàn cân treo sợi tóc.

Mona Nasser

“Lần cuối là tại căn hộ ở London, khi chúng tôi chỉ còn lại một mình, ông ấy quay sang tôi và nói: “Tính mạng anh đang nguy hiểm. Anh có thể bị sát hại. Anh có rất nhiều kẻ thù khác nhau”. Ông ấy biết chúng đang đi theo ông. Ông ấy bị Mossad giết hại” – bà Nasser kể. Nỗi lo sợ càng trở nên hiện hữu hơn sau khi tòa án thông báo Thiếu tướng Eli Zeira, người đứng đầu cơ quan tình báo quân sự Israel năm 1973 đã tiết lộ thân phận điệp viên cho Israel của Marwan.

Nasser gặp Marwan, chàng sinh viên hóa học cao và đẹp trai tháng 8.1965 tại Cairo, nơi cả hai đang cùng học đại học. Cô gái Nasser thích chàng trai duyên dáng và có giọng nói nhỏ nhẹ này. Họ kết hôn một năm sau đó. Chàng rể bắt đầu hợp tác rất ăn ý với ông nhạc. “Cha tôi đã cử chồng tôi đi công cán ở nhiều nước. Chồng tôi không cho biết các thông tin nhạy cảm về những chuyến đi của ông, bởi chúng có thể khiến tôi bị nguy hiểm” – bà Nasser kể.

Về vai trò của chồng trong cuộc chiến tranh Yom Kippur, bà Nasser đã có lần hỏi thằng chồng vào năm 2003, nhưng ông đã phủ nhận có quan hệ trực tiếp với các điệp viên của Mossad. Tuy nhiên, sau khi Marwan qua đời, bà nghe thông tin từ các sĩ quan tình báo Ai Cập rằng Marwan có nhiệm vụ cung cấp cho Mossad tin giả. Dẫu vậy bà vẫn không có cảm giác đã bị chồng lừa dối: “Chồng tôi là vị anh hùng phụng sự đất nước. Ông ấy chỉ làm những gì mà ông ấy được yêu cầu”, bà Nasser nói. Sau khi Anwar Sadat, người kế nhiệm Tổng thống Nasser năm 1970, bị ám sát năm 1981, Marwan đưa gia đình chuyển sang sinh sống tại London.

Theo bà Nasser, cảnh sát chẳng những làm mất đôi giày mà chồng bà mang khi mất, mà còn không hề lấy mẫu vân tay ở khu vực ban công. Đặc biệt, đôi giày là bằng chứng rất quan trọng về cách thức mà ông bị ngã. Marwan bị đau dây thần kinh chân, ông không thể nhấc chân cao nếu không có sự giúp đỡ. Cho nên, nếu ông cố gắng trèo qua lan can cao 1 mét trên ban công thì chắc chắn phải có vết trầy xước trên giày.

Gần 4 năm qua, cuộc điều tra được chuyển từ nhóm điều tra viên này sang nhóm điều tra viên khác. Vào ngày mà Marwan chết, ông đang hết sức nỗ lực để hoàn thành cuốn hồi ký về một giai đoạn đặc biệt trong cuộc đời ông hồi thập niên 1970. Cánh cửa vào căn hộ không khóa mà chỉ chốt. Căn hộ rộng tới 15 phòng và chỉ có vị quản gia là người duy nhất có mặt lúc đó, nên những kẻ đột nhập có đủ thời gian để tìm thấy Marwan và giết ông.

“Tôi tin là chúng đã đột nhập vào căn hộ và đưa ông đến phòng ngủ, chúng đánh ông và khiêng ra ban công vứt xuống đường. Có người ở tầng bốn đã nói với cảnh sát là nghe thấy tiếng ông hét trước khi rơi xuống. Liệu có người nào tự sát lại hét trước khi nhảy xuống không” – bà Nasser đặt câu hỏi. Trước đó vợ chồng bà đang trông chờ ngày lễ để gặp 5 đứa cháu nội ngoại. Hai người còn đưa ra nhiều kế hoạch ngắn và dài hạn. “Ông ấy hạnh phúc, chúng tôi hạnh phúc. Không có cớ gì để ông ấy tự sát. Rất đau đớn khi phải nghĩ rằng chồng mình bị vứt qua ban công xuống đường. Đó là điều khủng khiếp” – bà Nasser đau đớn nói.


Entry liên quan:
CÁI CHẾT BÍ HIỂM CỦA ĐIỆP VIÊN NHỊ TRÙNG ASHRAF MARWAN (1)



28/4/11

NHÀ NƯỚC, NHÂN DÂN, TRÍ THỨC



N. MOISEEV - Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Nga

Hiện nay không phải chính phủ và nhà nước mà chính là giới trí thức chịu trách nhiệm chính trong nhận thức về tình thế hiện nay, trong việc so sánh đối chiếu những lựa chọn cho sự phát triển. Chính giới trí thức có nhiệm vụ tìm hiểu xem chuyện gì đang xảy ra và tại sao lại xảy ra, xem cái gì của quá khứ nên gìn giữ bởi lẽ chủ nghĩa hư vô tổng thể rất nguy hiểm, nó làm cho tầm hồn nhân dân khô héo, khiến cho mọi người trở nên hung bạo, nó tước đoạt mất của họ một trong những đặc tính tuyệt vời nhất của con người là khả năng biết tha thứ. Và trong bối cảnh như vậy chúng ta cần phải xem xét lại một cách có phê phán nhiều luận điểm về đạo đức mà trong suốt ba phần tư thế kỷ đã trở thành những chuẩn mực.

Cũng như nhiều người, tôi cho rằng sự tồn tại vật chất là có trước. Nhưng đó chỉ là luận điểm triết học chung chung. Trong thực tế, yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần gắn liền khăng khít với nhau bằng nhiều mối liên hệ gián tiếp. Và chúng mang tính chất không đơn nghĩa và đôi khi còn mang tính chất mâu thuẫn.

Văn minh và đạo đức hoàn toàn không đồng nghĩa với nhau. Và đồng thời chúng cũng không tách biệt khỏi nhau. Đạo đức là cốt lõi của văn minh. Có thể đồng ý hoặc không đồng ý với điều đó. Nhưng đối với tôi thì đó là định lý, là định đề khởi thuỷ, bởi vì tôi tin tưởng sâu sắc rằng bất cứ một nền văn minh nào nếu đánh mất đạo đức, đánh mất phẩm chất tinh thần của mình hoặc làm suy yếu cơ sở đạo đức thì đều bị thoái hoá và sẽ phải rời khỏi vũ đài lịch sử. Lịch sử đã cung cấp cho chúng ta không ít dẫn chứng để xác nhận điều đó. Chỉ cần nhớ lại lịch sử Cổ La Mã.

Văn minh cũng không đồng nhất với khái niệm "văn hoá". Đó cũng là một trong những cái tạo nên các nền văn minh và chính nó xác định những chuẩn mực trong cách ứng xử của con người. Văn hoá gắn chặt với đạo đức và là một trong những phương thức, có lẽ thậm chí là phương thức quan trọng nhất, để ngăn chặn thói man rợ và sự gây hấn do các bậc tổ tiên xa xưa của chúng ta truyền lại cho chúng ta, và, thật đáng tiếc, đã thâm nhập vào gen di truyền của chúng ta như những quy luật của sinh học xã hội mà tổ tiên là những người tạo nên chúng.

Không bao giờ được quên rằng ông tổ chung của tất cả những người đang sống hiện nay, người Cro-Magnon, về mặt sinh học đã được hình thành cách đây hàng chục nghìn năm, khi họ sống giữa các loài thú rừng hùng mạnh và cấu tạo tâm lý của họ đã hầu như thích nghi với cuộc sống dã thú của những thời kỳ xa xưa ấy. Và sự hoàn thiện của con người đã chấm dứt chính khi đó, ở giai đoạn cuối của thời đại đồ đá cổ đại. Như thế có nghĩa là những đặc điểm tâm lý và sinh lý của con người nằm trong gen di truyền của chúng ta, những cái mà ngày nay chúng ta thừa hưởng, không thể là gì khác mà chính là kết quả của sự thích nghi với những điều kiện của cuộc sống thời kỳ tiền băng hà. Và chúng hoàn toàn không phù hợp với những điều kiện hiện nay của sự siêu hùng mạnh về kỹ thuật, của sự phát triển nhanh như vũ bão những kiến thức trong các lãnh vực rất khác nhau. Con người cần phải biết kịp thời điều chỉnh các quy luật xã hội sinh học vốn đã chi phối cuộc sống ở thời kỳ nguyên thuỷ và hiện nay không còn phù hợp với những điều kiện đã thay đổi của cuộc sống, bằng những quy tắc của sự chung sống, bằng đạo đức mới. Nếu làm khác là sẽ xảy ra tai hoạ, nếu làm khác sẽ xảy ra thảm hoạ! Đó chính là ý nghĩa của giai đoạn mang tính chất xã hội của sự tiến hoá xã hội mà cần phải biết đưa những người săn ma mút vào thời đại nguyên tử. Bởi thế xã hội ngày nay không thể sống thiếu "văn minh tinh thần", thiếu văn hoá, thiếu nghệ thuật, bởi thế con người mới cần đến những quy tắc của cách ứng xử văn minh, những quy tắc này bao gồm toàn bộ những điều cấm kỵ hoặc tabu như chúng được gọi ở buổi bình minh của đời sống văn minh hoặc những chuẩn mực pháp lý và đạo đức như chúng ta quen gọi hiện nay. Và vai trò của tất cả những nhân tố phi kinh tế, mang tính chất "thượng tầng kiến trúc" trong số phận của nhân loại sẽ gia tăng không kém phần nhanh chóng so với sự gia tăng của sự phức tạp trong cuộc sống chúng ta, sự phức tạp vì dung lượng của cái mà chúng ta quen gọi là hạ tầng cơ sở.
***
Văn minh và những bộ phận cấu thành của nó - đạo đức, văn hoá, những quy tắc (những chuẩn mực pháp lý) đảm bảo sự kế thừa của các thế hệ, sự kế thừa của cách ưng xử và nếp tư duy của con người. Đó là ký ức đặc thù của con người, ký ức về kinh nghiệm tích cực mà nhân loại đã tích luỹ được từ những thời đại cổ xưa. Và ký ức này bao giờ cũng mở ngỏ đối với tương lai. Tất cả của cải văn minh không cho chúng ta những chế định chặt chẽ trong khi lựa chọn những hành động của chúng ta. Về phương diện này chúng tác động khác hẳn so với những phản xạ có điều kiện. Nhưng chúng bao giờ cũng là cội nguồn của sự tìm tòi trong việc khắc phục những khó khăn ập đến. Đó là những cái mốc chỉ rõ chiều hướng của chỗ nông trong dòng các sự kiện vốn được gọi là lịch sử.

Văn minh đồng thời cũng là màng lọc, tách sự dối trá đủ loại ra khỏi chân lý mà chúng ta không phải bao giờ cũng biết nhưng rất cần thiết cho con người như khí trời. Dấu hiệu đầu tiên về sự suy đồi của văn minh và sự thoái hoá của nhân dân - đó là sự truyền bá cái giả dối. Trở thành chuẩn mực của xã hội, cái giả dối, giống như bệnh di căn, bắt đầu thâm nhập vào cách ứng xử xã hội và vào ý thức xã hội, làm nó mất đi sức mạnh, niềm hy vọng, tinh thần lạc quan, làm nó mất đi niềm tin vào con người, vào khả năng của nó đối với những hành động tập thể có tính mục đích.

Tôi đã nhiều năm làm việc phân tích những hậu quả có thể xảy ra của chiến tranh hạt nhân. Tôi thử nghĩ rằng chuyện gì có thể xảy ra do những thảm hoạ sinh thái khác. Rút cục ở tôi nảy sinh một quan niệm về mệnh lệnh sinh thái và về người bạn đường không thể thiếu được của nó là mệnh lệnh đạo đức. Và tôi đã đi tới một nhận định rằng sự đoạn tuyệt giữa quá khứ và hiện tại đối với từng dân tộc riêng lẻ cũng như đối với cả loài người là một mối nguy vong không kém phần khủng khiếp như sự huỷ hoại mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên. Những suy nghĩ như vậy buộc tôi phải hiểu, nói đúng hơn là thậm chí buộc tôi phải cảm nhận rằng văn minh, văn hoá, đạo đức là những cấu trúc tế nhị và mỏng manh. Không bao giờ được quên rằng đó là những cái màng mỏng ngăn cản dòng tình cảm sôi sục của con người và đôi khi dường như chỉ cần mình cử động nhẹ là cái dòng đó sẽ cuốn trôi những tấm chắn mỏng manh của văn minh và làm lộ ra cái bản chất nguyên thuỷ của con người.

Văn minh không bao giờ là vô bản sắc. Nó bao giờ cũng có gốc rễ dân tộc và lịch sử sâu sắc - trong ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo và trong những nguyên tắc đạo đức. Nếu những tư tưởng mới và những giáo điều mới không phù hợp với chúng thì những thứ này sẽ bị nhân dân bác bỏ.
***
Người đại diện cho văn hoá là giới trí thức. Nhưng không nên đồng nhất những người lao động trí óc, những người phụng sự văn hoá và giới trí thức. Tôi biết nhiều người ở ta cũng như ở nước ngoài đang nghiên cứu vô tuyến điện tử, đang lập trình hoá, những nghệ nhân xuất sắc, những người có trí tuệ rất đáng kính nhưng đồng thời tôi không dám gọi họ là những nhà trí thức. Ngày nay sự tiến bộ khoa học kỹ thuật đang dần dần xoá nhoà ranh giới giữa những người mặc áo cổ xanh và những người mặc áo cổ trắng. Nếu căn cứ theo lối sống, theo tính chất y phục và theo sự sung túc về mặt vật chất thì những loại người khác nhau bây giờ ít có những nét khác biệt.

Song điều đó hoàn toàn không có nghĩa là số lượng trí thức gia tăng một cách đáng kể, mặc dầu ý nghĩa của nó đối với số phận loài người gia tăng rất nhanh.

Người trí thức là người bao giờ cũng tìm tòi, không bó hẹp trong phạm vi chuyên môn của mình hoặc trong khuôn khổ những lợi ích có tính chất nhóm phái thuần tuý. Người trí thức luôn suy nghĩ đến số phận của dân tộc mình trong sự so sánh đối chiếu với những giá trị toàn nhân loại. Anh ta có khả năng vượt ra khỏi chân trời hạn hẹp của sự hạn chế về nghề nghiệp hoặc lối sống phàm tục. Theo tôi, một trong những người trí thức đầu tiên của Nga mà chúng ta biết tới là đại giáo chủ Avvakum: Vả lại, bất cứ một dân tộc nào bao giờ cũng có những nhà trí thức của mình.

Vào nửa sau thế kỷ XIX ở Nga đã xuất hiện một tầng lớp trí thức khá nổi bật với thế giới tinh thần, với những truyền thống, với chỗ mạnh và chỗ yếu của họ. Gần với tầng lớp này là sự cất cánh bay bổng kỳ diệu của nền văn hoá Nga vốn đã từng cung cấp cho thế giới những nhà văn, những hoạ sĩ, những nhạc sĩ và tất nhiên cả những nhà bác học trứ danh. Trong số trí thức có những người thuộc các đẳng cấp khác nhau: những nhà quý tộc, những quan chức cao cấp, những thương gia, tỷ như Tretjakov hoặc Mamontov. Còn giới trí thức khoa học - kỹ thuật Nga thì đại bộ phận của nó được hình thành từ những lớp người dân chủ bình dân.

Và cho dù gốc gác nhân dân có ăn sâu đến mấy đi nữa thì giới trí thức ở mức độ đáng kể bị tách khỏi nhân dân, giữa nhân dân và họ bao giờ cũng có một rào chắn nhất định. Rào chắn đó không thể không có. Thiên hạ có nhiều loại khác nhau và do bản chất và số phận nên không phải ai cũng có khả năng trừu tượng hoá khỏi những công việc bận bịu hàng ngày để suy nghĩ về cái "không trực tiếp liên quan đến họ". Và trình độ học vấn cũng không phải là đặc tính thừa! Bởi thế cho nên mới nảy sinh sự thoát ly dần dần của người trí thức.

Tuy thế, giới trí thức là máu thịt của nhân dân nước mình. Hơn nữa, sự hưng thịnh chung của văn hoá của dân tộc, lối sống dân tộc, những chuẩn mực tư duy của nó, tính chất của lợi ích và cái chủ yếu là sự bộc lộ tiềm năng về sáng tạo, về tinh thần và đạo đức trước hết phụ thuộc vào giới trí thức. Và tất cả những cái mới và hữu ích, kể cả cảm xúc về cái đẹp, về sự hài hoà, thậm chí nếu nó nảy sinh trong quần chúng nhân dân, đều được truyền bá qua giới trí thức như thấm qua tấm lọc rồi chỉ sau đó mới trở thành sở hữu chung của toàn dân. Vai trò đó của giới trí thức được đặc biệt thấy rõ qua sự tiến hoá của lối sống, của tính cách và những tập quán của nhân dân.

Sự biến mất của giới trí thức hay cuộc loại trừ nó ra khỏi đời sống tinh thần của xã hội - đó là tấn bi kịch của cả dân tộc. Điều đó có thể sẽ kết thúc bằng sự tiêu vong đạo đức của dân tộc đó. Dù sao chăng nữa thì đó là sự rút lui dần dần của dân tộc khỏi tiền đài của lịch sử để lui về phía hậu đài. Việc phục hồi giới trí thức đòi hỏi nhiều thế hệ. Không thể nói đến "việc đào tạo giới trí thức". Sự phát triển của giới trí thức, sự hình thành của nó là một quá trình khác biệt về chất so với việc đào tạo một công nhân lành nghề, một kỹ sư hay một nhà vật lý hạt nhân. Đó là quá trình tự nhiên về sự tự phát triển của dân tộc.

Người ta thường gọi giới trí thức là tầng lớp trung gian vì không xếp được nó vào một giai cấp nào cả. Mặc dù tồn tại những câu nói "giới trí thức tư sản", "giới trí thức vô sản" v.v…, tuy nhiên những cách nói như vậy không mang một ý nghĩa đặc biệt, bởi lẽ những lợi ích và mục đích của giới trí thức hoàn toàn không gắn với những lợi ích của một giai cấp này hay một giai cấp khác. Có thể dẫn ra nhiều thí dụ khi những người đại diện của cái gọi là giới trí thức quý tộc hay giới trí thức tư sản là những người biểu hiện lợi ích của giai cấp vô sản. Và ngược lại, những người xuất thân từ tầng lớp công nhân có thể đóng vai thầy cãi cho giai cấp tư sản. Việc sản sinh ra giới trí thức - đó là đặc tính của một dân tộc, đặc tính của bản chất xã hội và sinh học của nó, mặc dầu, lẽ dĩ nhiên là mỗi một người trí thức tuỳ thuộc vào tính chất giáo dục của mình và con đường đời của mình phản ánh những quan điểm này hay những quan điểm khác, những truyền thống này hay những truyền thống khác mang tính chất giai cấp, tính chất dân tộc...

Giới trí thức còn có thêm một đặc điểm nữa. Đó là việc nó hướng tới chủ nghĩa quốc tế, đó là tính chất thế giới của nó, nếu có thể nói như vậy. Người trí thức, xét theo bản chất của anh ta, có năng lực suy nghĩ về những vấn đề toàn nhân loại, cho dù anh ta thuộc về một dân tộc nào, theo bất cứ một tín ngưỡng nào, thuộc về bất cứ một đảng phái nào và có bất cứ một màu da nào. Tất nhiên không nên hình dung người trí thức bên ngoài dân tộc, thậm chí nếu anh ta có tự xưng là "công dân của thế giới" đi nữa. Tuy vậy những người trí thức của các nước khác nhau dễ dàng tìm ra được ngôn ngữ chung và lợi ích chung. Tôi đã có dịp nói chuyện với một người Nhật về âm nhạc Nga, với một người Mỹ La-tinh về chủ nghĩa chính thống của đạo Hồi. Chúng tôi rất khoái nhau và nếp tư duy của chúng tôi té ra là khá giống nhau. Dù sao tôi cũng hiểu người trí thức Nhật Bản hơn là hiểu người cán bộ đảng hoặc nhà kinh doanh trẻ tuổi hiện đại!

Trong một trăm năm gần đây trên thế giới chúng ta có nhiều thay đổi, và cuối thế kỷ này hoàn toàn không giống phần đầu của nó. Vai trò của yếu tố trí tuệ trong số phận nhân loại đã gia tăng rất mạnh, do đó vai trò của giới trí thức, ý nghĩa của văn hoá, của yếu tố tinh thần và nhân bản cũng gia tăng.

Nhưng cái chủ yếu nhất mà giới trí thức cuối thế kỷ XX đã hiểu ra, như tôi hy vọng, là không bao giờ có thể tiêu diệt hoàn toàn bất cứ một cái gì: chỉ có sự tiến triển dần dần và rất thận trọng mới có khả năng bảo vệ được một tác phẩm đẹp nhất và mỏng manh nhất của thiên tài nhân loại - đó là văn minh và văn hoá, mà như thế cũng nghĩa là bảo vệ niềm hy vọng về "sự tồn tại của loài người".

Nền văn hoá và khoa học Nga vào những năm 20 và đầu những năm 30 đã bị mất cả một lớp người đại diện ưu tú của nó như: Chichibabin, Ipat'ev, Gamov, Kandinski, Shagal, Benua, Shaljapin, Rakhmaninov và nhiều người khác... Lunacharski, Bukharin và các nhà hoạt động trí óc khác của đảng ở thời tiền Stalin không thể hiểu và cảm nhận được rằng cái khẩu hiệu "Ai hôm nay không hát cùng với chúng ta tức là kẻ đó chống lại chúng ta" mà vào những năm đó từng được căng trên mặt tiền của toà nhà Viện bảo tàng Lenin và việc áp dụng triệt để nó vào cuộc sống - đó là một trong những nguyên nhân sâu xa của sự lạc hậu ngày nay của chúng ta không chỉ vè mặt văn hoá mà cả về mặt công nghệ học so với những nước phát triển!

Có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận chủ nghĩa tiên phong đa dạng và sự "kỳ cục" của những hoạ sĩ và thi sĩ của những năm 20. Họ có thể được ưa chuộng hoặc không được ưa chuộng, và trong số họ có thể có không chỉ những thiên tài lên tiếng ca ngợi tổ quốc mình. Trong số đó chắc chắn cũng sẽ có những kẻ bất tài và những kẻ đầu cơ về "mốt" - tôi sẵn sàng thừa nhận rằng họ nhiều vô thiên lủng. Nhưng đồng thời tôi cũng tin sâu sắc rằng lớp váng bọt đó sẽ nhanh chóng trôi qua. Nhìn chung, tất cả những cái "tiên phong chủ nghĩa" là tiền đề tất yếu của sự đi tìm đường cho sự phát triển hợp lý. Nếu không có những sự tìm tòi như vậy thì xã hội và nền văn hoá của nó nhất định sẽ có lúc bế tắc. Và tiên đoán một cách chính xác xem con đường nào trong số đó sẽ là con đường duy nhất cần thiết cho chúng ta - điều này khó hơn nhiều so với việc đoán trước thời tiết một tháng. Tôi khẳng định điều đó với tư cách là một người chuyên nghiệp biết được rằng tạo ra một sự dự báo như vậy thật khó khăn biết chừng nào!

Rõ ràng là việc đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và kỹ sư giỏi không khó khăn cho lắm. Và ở đây chúng ta khá thành công. Cuộc chiến tranh vệ quốc, thời kỳ khôi phục hậu chiến và lịch sử xây dựng tiềm năng tên lửa hạt nhân đã cho thấy điều đó. Còn sự hình thành các nhà tư tưởng, tức là giới trí thức - những triết gia, như người Pháp ở thế kỷ XVIII đã gọi họ, lại đòi hỏi nhiều thế hệ.
***
Như vậy là giới trí thức là một trong những bảo đảm quan trọng hạng nhất cho sức sống của xã hội. Nhờ có giới trí thức mà xã hội có khả năng đón nhận cái mới và cái chưa được biết đến với cuộc sống chúng ta, có khả năng đem thích nghi với những điều kiện mới không chỉ cơ sở vật chất mà còn cả nếp tư duy và đạo đức. Và mức độ gia tăng sự lạc hậu về kỹ thuật của chúng ta trên ngưỡng cửa của sự biến đổi nhanh chóng về cơ sở công nghệ của sự phát triển xã hội, những khó khăn mà chúng ta gặp trong công cuộc cải tổ cách tư duy, cách nhận thức về yêu cầu công nghệ và về sự cần thiết của đạo đức mới phần nhiều là hậu quả của sự hạ thấp "tiềm năng trí tuệ".

Nhưng cho dù lịch sử của chúng ta có nặng nề đến đâu chăng nữa, cho dù chúng ta phải chịu những tổn thất như thế nào chăng nữa thì mối liên hệ về thời gian không bao giờ bị đứt đoạn. Chúng ta không phải là những anh chàng Ivan vô thừa nhận không nhớ tổ tiên dòng giống của mình. Chúng ta đã giữ gìn mình với tư cách là những người kế thừa nền văn hoá vĩ đại. Và ký ức của nhân dân, ký ức của giới trí thức được bảo tồn nhờ những bậc vĩ nhân như Vernadski hoặc Timofeev, Rezovski nhờ những chiến sĩ đấu tranh quên mình như Sakharov, Losev. Và nhờ nhiều người khác đã duy trì được "những cây nến đã thắp sáng" và chuyển giao cho cuộc chạy tiếp sức. Bây giờ chỉ cần tạo ra bầu không khí để ngọn lửa leo lét lại cháy bùng lên thành một đống lửa, như điều đó đã hơn một lần xảy ra trong lịch sử chúng ta sau những thời kỳ rối loạn. Và về chuyện này giới trí thức phải có trách nhiệm. Tôi muốn hy vọng rằng thay vì cuộc đấu tranh để giành "ghế" mà trong đó giới trí thức đằng nào cũng thất bại, nó sẽ chuyên tâm làm những công việc thực sự là đặc trưng của nó!

Vào những năm gần đây giới trí thức bắt đầu dần dần được phục hồi. Ngọn gió ấm áp đã thổi, sự trói buộc đã được nới lỏng và "sự cựa quậy của trí tuệ" đã bắt đầu. Hiện nay mới chỉ cựa quậy thôi! Còn sự vận động thực sự thì sẽ phải xuất hiện. Nhưng chất đất đã khác rồi. Tôi nghĩ rằng văn hoá nông thôn và cái nền văn minh đặc biệt mà Toynbee từng suy nghĩ, đã vĩnh viễn bị phá huỷ. Đang nảy sinh một cái gì mới. Cái gì từ quá khứ sẽ nhập vào nền văn hoá đó? Đó là những câu hỏi hết sức hóc búa, nhưng cần phải trả lời chúng. Nếu không thì sẽ bắt đầu những cuộc thí nghiệm mới và những sự phá huỷ mới.

Và sau hết, còn một điều cuối cùng. Đang diễn ra sự tiến triển rất nhanh chóng của toàn xã hội. Cuộc luận chiến càng ngày càng gay gắt. Nhưng tôi cảm thấy rằng hiện nay nó còn mang tính chất rất tư biện và trừu tượng. Không thể chỉ nói về cuộc sống của xã hội nói chung. Tổ chức của xã hội, sự ổn định của nó, phúc lợi của nhân dân, những triển vọng được mở ra cho mọi người - tất cả những cái đó gắn bó khăng khít với toàn bộ lịch sử. Và mỗi dân tộc, mỗi nước, thậm chí mỗi khu vực đều có con đường riêng của mình. Tuy nhiên cũng tồn tại những quy luật phát triển chung, nhất là ở thế kỷ chúng ta trước ngưỡng cửa của cuộc khủng hoảng sinh thái, của sự tăng nhanh lực lượng sản xuất và sự tăng cường mạnh mẽ mối quan hệ qua lại của con người.

Đã đến lúc giới trí thức phải thôi là những người "sùng bái phương Tây" và những người "sùng bái Slavo" và cần phải nhìn thẳng vào những đặc điểm thực tế của cuộc sống hiện nay. Đã đến lúc phải khước từ những nguyên tắc của "những không tưởng vĩ đại", khước từ thái độ ngạo mạn chính trị riêng tư hoặc "sự khao khát phục thù" và phải hiểu rằng trên thế giới cũng như trong con sông chảy ở vùng núi có luồng chính và thật bất hạnh cho kẻ bơi lội nào không muốn đi theo luồng nước đó.

Lê Sơn dịch (theo báo "Культура" của Nga)

Nguồn:
Nhà nước, nhân dân, trí thức



11/4/11

絆 KIZUNA



Xin cảm ơn các bạn về mối ân tình
Kizuna: Mối ân tình

Đã 1 tháng trôi qua kể từ ngày Nhật Bản đối mặt với thảm họa thiên tai chưa từng có trong lịch sử .
Nhiều sinh mạng quý giá bị cướp đi và hiện còn hơn 150 nghìn người phải sống cuộc sống lánh nạn.

Tại các nơi bị cuốn trôi tất cả bởi sóng thần sau động đất,
Không điện, không nước, không đồ ăn và không cả liên lạc.
Và đúng lúc đó, sự hỗ trợ của các bạn bè quốc tế đã mang lại dũng khí cho chúng tôi.

Một bát canh, một tấm chăn đã sưởi ấm trái tim và cơ thể giá lạnh.
Đội cứu hội đã và đang nỗ lực hết sức mình để tìm đồng bào của mình dưới những tầng đổ nát.
Đội y tế đã và đang làm việc không mệt mỏi để cứu chữa những người bị thương.

Lúc này đây, vô vàn những lời nguyện cầu và động viên trên khắp thế giới vẫn tiếp tục được gửi đến cho chúng tôi.

Xin cảm tạ mối ân tình mà bạn bè trên thế giới đã dành cho chúng tôi.
Từ đáy lòng mình xin chân thành cảm ơn tất cả các quốc gia, khu vực, tổ chức, cá nhân đã dành cho chúng tôi sự ủng hộ quý báu.

Công cuộc tái thiết đã được bắt đầu. Chúng tôi đang nỗ lực hết sức mình để ổn đình tình hình tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima Số 1.

Nhật Bản sẽ hồi sinh, sống lại và thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa.
Với sức mạnh dân tộc và sự trợ giúp từ cộng đồng quốc tế, chúng tôi nhất định sẽ thành công.
Và chúng tôi sẽ đền đáp lại sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn trên thế giới.

Chúng tôi sẽ đoàn kết, dốc toàn lực trong công cuộc kiến thiết vì ngày mai tươi sáng đó.

Biến lòng biết ơn thành niềm hy vọng.
Một lần nữa, xin chuyển tới các bạn lời cảm ơn chân thành tận đáy lòng mình.

  菅直人
  Naoto Kan
  Thủ tướng Nhật Bản

Người bạn trong lúc hoạn nạn là người bạn chân thành



8/4/11

SÓNG THẦN, ĐỘNG LOẠN VÀ SUY NGHĨ VỀ LÒNG DÂN



PHẠM DUY NGHĨA

Năm Tân Mão, mới chớm bắt đầu đã chứng kiến vô số cảnh báo đầy bất trắc. Tiền mất giá, động đất, sóng thần, những cuộc nổi dậy của nhân dân Ả-Rập, tuy xa mà thật gần, đều là những sức ép bắt buộc phải cải cách nền quản trị quốc gia ở bất cứ nơi đâu. Liệu những biến động lan nhanh và quá đỗi bất ngờ ấy có là dịp để suy nghĩ lại về các thiết chế quản trị quốc gia ở đất nước chúng ta?

Nhà kinh tế trẻ nổi danh Acemoglu cho rằng sự khác nhau về thể chế chính là một nguyên nhân giải thích vì sao các quốc gia trở nên giàu hay nghèo, dân chủ hay chuyên chế. Những nhóm lợi ích thâu tóm được quyền lực trong quốc gia thì cũng thâu tóm luôn các nguồn tài nguyên, và ngược lại. Vì lợi riêng, họ cản trở nhân dân, không cho dân biết, không cho dân bàn, không cho dân tham gia quyết định các chính sách quốc gia.

Câu chuyện ấy thật cũ, nhà cai trị nào từ cổ chí kim mà chẳng khoe rằng mình thấu hiểu lòng dân, thậm chí chiều theo lòng dân, lòng dân là ý trời (thiên ý, dân tâm). Chỉ có điều khác với trước đây, Internet và thời đại của điện thoại đi động đã làm cho tri thức, hiểu biết và đủ loại thông tin lan đi quá nhanh. Lỡ tay nhấn nút trên bàn phím, vô tận những điều tưởng như thâm cung bí sử có thể bị lật tẩy bẽ bàng và dễ dàng trở thành những chủ đề đàm tiếu trong dân gian. Hóa ra, đằng sau nhằng nhịt những lời hoa mỹ ấy, lợi ích kinh tế đã gắn kết những người cai trị lại với nhau. Thể chế đã ra đời như một thỏa hiệp giúp cho sự cai trị của họ.

Lòng dân cũng tựa như cái lò-xo hay cái nồi hơi, càng đè nén càng tăng tích tụ năng lực phản kháng. Người dân thường lo có cái ăn, cái mặc, có công ăn việc làm, con cái được học hành và cuộc sống được yên ổn, khi những giá trị tối thiểu ấy bị đe dọa thì sức ép phản kháng tăng nhanh. Bởi thế, “chăm lo cho nhân dân”, tuy là cách nói trịch thượng của vua chúa ngày xưa coi nhân dân như con trẻ, song thoảng khi vẫn được lặp lại trong cách nói của nhiều người cai trị ngày nay. Muốn cai trị, tránh động loạn, các nhà cai trị phải thỏa hiệp. Dân chủ đã ra đời như thế, có dáng dấp của những lựa chọn tập thể mang tính thỏa hiệp, hơn là quà tặng của giới cầm quyền và càng không thể được nhập cảnh dễ dàng vào một quốc gia chỉ với vài lời tuyên bố.

Làm cho người dân trở thành những công dân tích cực, không thờ ơ với chính trị, tích cực tham gia xây dựng và giám sát các chính sách điều hành quốc gia là cách hầu như duy nhất để cải thiện nền quản trị quốc gia. Muốn vậy, như người ta thường nói, người dân phải được biết, được tham gia bàn luận, được tham gia quyết định và được tham gia giám sát chính quyền, càng chặt chẽ, nghiêm khắc càng tránh được động loạn và những cuộc biểu tình.

Rất nhiều cố gắng minh bạch hóa nền hành chính và tăng sự tham gia của người dân đối với chính quyền, rõ nhất ở cấp địa phương (dân chủ cơ sở) đã được thực hiện ngày càng thành công ở Việt Nam. Cũng như sức ép của cái lò xo hay hơi nóng từ nồi hơi, yêu cầu của nhân dân đang hối thúc cải cách từ dưới lên, làm cho chính quyền địa phương ngày càng phải thân thiện với nhân dân, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, và hy vọng ngày càng trở thành thực sự của nhân dân.

Chúng ta mong sức ép ấy cũng ngày càng đeo bám dai dẳng và trở nên đủ mạnh để tiếp tục hối thúc cải cách trách nhiệm giải trình và cung cách làm việc của các cơ quan Trung ương cấp quốc gia, bắt họ phải chịu trách nhiệm trả lời trước quyền lực nhân dân. Năm nay, bản Hiến pháp 1992 đang được đem ra để bàn luận, hy vọng những cơn sóng thần, động đất và biến động dữ dội từ thế giới Ả-Rập có thể gợi thêm suy nghĩ cho người dân và những người cầm quyền trên đất nước chúng ta.

Nguồn
Sóng thần, động loạn và suy nghĩ về lòng dân


7/4/11

ROESLER - NGƯỜI GỐC VIỆT THÀNH ĐẠT NHẤT THẾ GIỚI


Philipp Roesler đã trở thành người Việt thành đạt nhất thế giới, khi vị Bộ trưởng Y tế Đức được bầu làm Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do (FDP) - đảng trong liên minh cầm quyền của nữ Thủ tướng Angela Merkel. Ông chẳng những là người có nguồn gốc nước ngoài đầu tiên được bầu làm người đứng đầu một chính đảng ở Đức, mà còn là vị Chủ tịch trẻ nhất trong lịch sử của đảng này.

Philipp Roesler năm nay 38 tuổi, sinh tại Khánh Hưng (tỉnh Ba Xuyên - nay là Sóc Trăng). Khi được 9 tháng tuổi, cậu bé mồ côi người Việt này được một cặp vợ chồng người Đức nhận làm con nuôi và đưa sang Đức.

Theo Wikipedia tiếng Việt, tiểu sử của Philip Roesler như sau:

Cha mẹ nuôi của ông ly dị khi ông 4 tuổi và ông sống với cha là một quân nhân. Ông trưởng thành tại Hamburg, Bückeburg và Hanover, nơi ông tốt nghiệp trường trung học Lutherschule với hạng A. Sau đó, ông gia nhập quân đội Đức và được đào tạo thành sĩ quan quân y nhưng về sau được miễn nhiệm vụ để theo học tại trường Đại học Y khoa Hannover.

Năm 1999, ông thực tập Y khoa tại
Bệnh viện Các lực lượng vũ trang Liên Bang ở Hamburg. Năm 2002, ông nhận được học vị tiến sĩ Y khoa. Sau khi hết thời hạn cam kết 16 năm của mình, Rösler rời quân đội như một bác sĩ chuyên ngành phẫu thuật.

Ông kết hôn với người vợ là Wiebke năm 2003. Tháng 10 năm 2008, ông trở thành cha của hai cô con gái sinh đôi. Ngoài ra, Rösler là một thành viên của tổ chức Đại hội Ủy ban Trung ương Công giáo Đức.

Philipp Rösler không cảm thấy phải tìm kiếm nguồn gốc của mình và tự xem mình là một người Đức Công giáo. Năm 2006, theo lời thúc giục của vợ, ông lần đầu tiên thăm Việt Nam, nơi ông sinh ra, nhưng ông nói rằng mối liên hệ tình cảm (đối với quê hương) đã bị hạn chế.

Từ năm 1992, Rösler trở thành một thành viên của Đảng Dân chủ Tự do (FDP) và các tổ chức chính trị thanh niên. Ông là thư ký của FDP tại tiểu bang Niedersachsen từ năm 2000 cho đến năm 2004. Từ năm 2001 đến năm 2006, Rösler là một thành viên trong hội đồng khu vực của Hannover, nơi ông cũng đã được làm phó chủ tịch nhóm nghị sĩ của Đảng trong nghị viện.

Tháng 5 năm 2005, Rösler được bầu làm quan sát viên của Ban chấp hành toàn liên bang của FDP với hơn 95% số phiếu, kết quả tốt nhất trong lịch sử đảng FDP. Tại hội nghị của FDP vào tháng 3 năm 2006, Rösler được bầu làm chủ tịch FDP tại tiểu bang Hạ Saxony. Ông thay thế Walter Hirche, chủ tịch hơn 12 năm của FDP tại Niedersachsen vừa mới từ chức. Tháng 4 năm 2008, Rösler chính thức trở thành chủ tịch FDP tại Niedersachsen với 95% số phiếu.

Tháng Sáu 2007, tại hội nghị bên liên bang đảng FDP, Rösler được tái bầu làm thành viên của Ban chấp hành Trung ương Đảng. Tháng sau, ông được bầu để trở thành ứng cử viên đảng FDP trong cuộc bầu cử nghị viện tại bang Niedersachsen sẽ được tổ chức vào tháng 1 năm 2008. Trong cuộc bầu cử đó, ông đã nhận được 10,9% số phiếu tại vùng bang nhà của mình là Hannover-Döhren. Từ năm 2003 ông là lãnh đạo phe FDP trong hội đồng lập pháp của Niedersachsen. Ngày 18 tháng 2, Rösler được bổ nhiệm làm bộ trưởng kinh tế, lao động và giao thông vận tải kiêm nhiệm phó thủ hiến của bang Niedersachsen.

Trong tháng 10 năm 2009, Rösler được chỉ định sẽ thay thế Ulla Schmidt ở ghế Bộ trưởng Bộ Y tế Đức trong nội các mới của bà Angela Merkel. Ngày 28 tháng 10, ông trở thành bộ trưởng liên bang trẻ nhất nước Đức xưa nay cũng như là người gốc Việt đầu tiên làm bộ trưởng tại một quốc gia Châu Âu.

Trở thành Chủ tịch Đảng FDP, Philipp Rosler còn giữ trọng trách Phó Thủ tướng Đức. Và chắc không có ai cấm ông mơ tới chiếc ghế Thủ tướng Đức trong một tương lai không xa.

Báo Bild có một bài viết 10 bí mật cuộc sống của Roesler. Đó là:

1- Học trường dòng, cưới bạn gái là người Phụ lễ Nhà Thờ, đỡ đầu tín ngưỡng cho ông, bà Wiebke, hiện cũng là bác sỹ, 31 tuổi.

2- Hâm mộ tài tử danh ca, dương cầm Áo, Udo Jürgens và tài tử nhạc sỹ, danh ca, diễn viên Đức Herbert Grönemeyer.

3- Thích 2 món ăn nhanh từ mỳ sợi, Đức gọi là Salz-Lakritz và Miracoli, bởi ông không có thời gian thưởng thức, tiệc tùng.

4- Từng muốn trở thành giáo viên vật lý. Khi học bác sỹ ông chọn chuyên ngành mắt bởi liên quan nhiều đến kiến thức vật lý.

5- Giỏi xướng ngôn kịch rối, khi khám chữa cho trẻ em, ông dùng bàn tay múa rối búp bê diễn trò, miệng ngậm lại nói rít qua kẽ răng, từng từ một, để thu hút chúng chú ý quên sợ hãi.

6- Thích các chuyện giả tưởng không liên quan đến đời thực, các truyện phiêu lưu, để giải toả căng thẳng trong công việc chính trị, mê truyện nhiều tập Harry Potter nổi tiếng thế giới của nữ văn sỹ Anh, bà Joanne K. Rowling.

7- Có một trí nhớ hình ảnh cực tốt. Diễn thuyết khó và dài bao lâu đều không cần bất cứ giấy tờ gì. Có thể nhớ từng từ một bài diễn văn viết, chỉ cần đọc nó chăm chú một vài lần. Hiệu quả diễn thuyết của ông lớn, nhờ thường tập luyện trước bục y như thật tại văn phòng mình.

8- Người cha là tấm gương, giáo dục cho ông 3 nguyên tắc sống: tự do, cởi mở, và khoan dung. Ông cũng muốn trở thành hình mẫu đó cho 2 cô con gái mình.

9- Là tuýp người bằng hữu, chí tình. Bất cứ ai, nhân viên, đồng nghịêp, cộng sự, đối tác, mọi cấp đều có thể tin cậy, yên tâm thảo luận với ông tất cả mọi vấn đề, không cần e dè giữ ý. Thủy chung với tình bạn, nhớ ngày sinh nhật của từng người quen biết, không vắng các dịp lễ, ngày vui của gia đình, người thân.

10- Thích chơi tàu lượn. Thiếu thời gian tập luyện nên bằng lái hiện bị mất giá.

Giới bình luận cho rằng, Philipp Roesler rất có tài cuốn hút công chúng, trước hết nằm ở giọng nói; âm vực cao tạo ấn tượng mạnh, nhưng nghe lại rất tình cảm mềm mại thấm đậm, quện nối được các câu nói với nhau rất dễ hiểu, đến mức dẫu có ai cắt riêng diễn giải từng từ một trong đó cũng khó có thể biểu đạt bằng.

Ông luôn chú ý đến phong cách nhưng không lên gân cốt, tự chủ vững vàng trong mọi tình huống. Trang phục chân phương, các hình ảnh trang web đưa lên thừơng ngày, rất hiếm khi thấy ông thiếu cà vạt. Diễn thuyết luôn sinh động, bắt chước được cả giọng nói của nhân vật thứ 3; khi cần ông có thể cùng lúc sắm cả vai đối thủ phản biện chất vấn chính mình, để làm nổi bật vấn đề.

Theo Wikipedia, VietnamNet

***
Tôi muốn lập một danh sách những người gốc Việt thành đạt, có tầm ảnh hưởng toàn cầu. Danh sách có thể mở đầu bằng những tên tuổi sau:
1. Trần Văn Thình, cựu đại sứ của Liên minh Châu Âu.
2. Phạm Linh Đan, diễn viên điện ảnh, từng đoạt giải Cesar.
...
Bạn có thể đề cử ai?



 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết