Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

20/8/11

NGHỆ SĨ VÀ CHÍNH TRƯỜNG


NSND Đặng Nhật Minh

Nghệ sĩ mở công ty, nghệ sĩ trở thành đại biểu quốc hội hay nghệ sĩ đảm nhận các cương vị quản lý... không còn là chuyện mới. Liệu khi ấy họ có còn là nghệ sĩ và “chất” nghệ sĩ có đồng hành với công việc đang gánh vác?

Văn nghệ sĩ vinh dự được bầu chọn là Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) có thể kể đến nhà thơ Vũ Quần Phương, NSND Đặng Nhật Minh, NSND Chu Thúy Quỳnh, NSND Trà Giang, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân...

Gần đây, nghệ sĩ trẻ Hồng Ánh được UBMTTQ Việt Nam TP.HCM giới thiệu ứng cử ĐBQH khóa XIII. Khá nhiều nghệ sĩ của TP.HCM cũng đã trúng cử Đại biểu Hội đồng Nhân dân (ĐBHĐND) TP.HCM đợt này: NSƯT Hồng Vân, ca sĩ - diễn viên Thanh Thúy, nghệ sĩ cải lương Quế Trân...

Danh cao, phận dày

Hồng Ánh là nghệ sĩ duy nhất được Liên hiệp Các hội Văn hóa Nghệ thuật (VHNT) TP.HCM giới thiệu ứng cử ĐBQH. Theo người của Ban chấp hành (BCH) Hội Điện ảnh TP.HCM (tổ chức ban đầu giới thiệu Hồng Ánh ứng cử), cô hội đủ các yếu tố về tuổi tác, đạo đức và năng lực để có thể đại diện cho giới văn nghệ sĩ TP.HCM ở nhiệm kỳ này.

Chưa đảm nhiệm cương vị lãnh đạo hay ở trong BCH của tổ chức nghề nghiệp nào, Hồng Ánh mới chỉ được biết đến qua các vai diễn và giải thưởng điện ảnh.

Là Phó giám đốc Công ty TNHH Hãng phim Xanh, cô vừa mới bắt tay vào sản xuất một số dự án.

Điều này càng nối dài những vinh dự và cả những thử thách với cô trên con đường trở thành đại biểu của nhân dân, trước hết là cất lên tiếng nói của giới nghệ sĩ TP.HCM đã gửi gắm nơi cô, nếu cô trúng cử.

Thế nhưng, không phải nghệ sĩ nào cũng sẵn sàng cho thử thách ở nghị trường. Tại Hà Nội, Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội đã nhắm giới thiệu một nữ diễn viên chèo và một phóng viên báo hình, cả hai đều có tên tuổi, xinh đẹp và trẻ trung, nhưng họ khước từ vì... bận.

Theo nhà thơ Bằng Việt, Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT TP. Hà Nội, các kỳ trước có khá nhiều nghệ sĩ được giới thiệu là ứng cử viên ĐBQH nhưng họ đều từ chối, như nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ (lúc đó ở trong BCH Hội Nhà văn Hà Nội), nhà biên kịch Bành Mai Phương (Hãng phim Truyện Việt Nam)...

Theo họ, xung quanh cuộc sống và nghề nghiệp của người nổi tiếng vốn đầy thị phi.

Trong khi đó, bước vào con đường của “ông nghị, bà nghị” đồng nghĩa với hình ảnh và tên tuổi của nghệ sĩ cần xứng đáng với vị trí chính trị họ đang nắm giữ. Các nghệ sĩ tiền bối là ĐBQH ở vào thời kỳ showbiz chưa phát triển sôi động và nghệ sĩ cũng không bị dư luận “săm soi” như bây giờ.

Tuổi họ đều cao, nên ít chịu ảnh hưởng bởi những “dư chấn” từ dư luận và truyền thông. Bây giờ thì khác. Khi thông tin Hồng Ánh là ứng cử viên ĐBQH vừa phát ra, lập tức nhận được lời bàn tán, chỉ trích về nhân cách của cô từ một người trong giới, kèm theo đó là hàng trăm bình luận của độc giả, người ủng hộ, người phản đối.

May mắn cho cô, cô vẫn thắng phiếu tuyệt đối (dù chuyện tai bay vạ gió đó xảy ra trước khi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú) và là một trong 22 người đạt tỷ lệ 100% trong cuộc bỏ phiếu kín tại Hội nghị Hiệp thương lần ba.

Diễn viên điện ảnh Hồng Ánh

Áp lực trách nhiệm cao nên nhiều nghệ sĩ cũng không “mon men” tới chính giới. Nhà thơ Bằng Việt, tốt nghiệp cử nhân luật ở nước ngoài, từng được nhắm đến để đưa vào danh sách ứng cử viên ĐBQH năm 1995.

Ông cười giải thích với người tín nhiệm, sở dĩ ông từ chối là “vì muốn có thời gian để tự do bù khú với bạn bè, đi đây đó và làm những việc mình thích. Một nhiệm kỳ ĐBQH mà nói không ra hồn thì dân mắng cho, nói nhiều lại dễ bị vạ miệng”.

Ở cương vị Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT TP. Hà Nội, có dịp gặp gỡ, thuyết phục và vận động những người có khả năng và đủ điều kiện để đưa vào danh sách ứng cử viên, nhà thơ Bằng Việt có thể hiểu lý do của sự khước từ còn ở chỗ đời sống cơm áo và những nhu cầu vật chất vẫn còn theo đuổi văn nghệ sĩ, trong khi nếu có danh tiếng ở cương vị chính trị cũng không đi kèm lợi ích vật chất.

Sân khấu - cuộc đời

Ở các nước, việc nghệ sĩ trở thành chính trị gia không còn xa lạ và hai vị trí này có tác động tương hỗ khá mật thiết.

Xuất thân từ nghệ sĩ hay đang tham gia lĩnh vực nghệ thuật nên trong sự nghiệp chính trị, họ dành nhiều sự ưu tiên cho giới của họ là chuyện dễ hiểu.

Các nghệ sĩ ở ta phần nào phát huy được vai trò này, nói được tiếng nói cần thiết của cử tri và người trong giới mình.

NSND Đặng Nhật Minh trong nhiều khóa làm ĐBQH đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với Luật Điện ảnh và cuối cùng luật này đã được thông qua, ghi nhận nhiều nỗ lực của ông trên cương vị ĐBQH, dù Luật chưa thực sự hoàn chỉnh.

Chia sẻ với báo giới, NSƯT Hồng Vân chẳng hề giấu giếm ý định sẽ... “xin cái nhà hát” nếu trúng cử ĐBHĐND TP.HCM. Ở chiều ngược lại, ở cương vị mới, nghệ sĩ có điều kiện thâm nhập thực tế sâu sát hơn.

Nhà thơ Vũ Quần Phương chia sẻ với báo giới, làm ĐBQH cho ông cơ hội thấy tình cảnh của người dân, qua đó ảnh hưởng đến nhận thức xã hội để bước đến văn chương, thay đổi khuynh hướng sáng tác...

NSND Trà Giang thổ lộ, những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với người dân khơi dậy trong bà sự cảm thông, giúp bà hiểu được tâm tư, tình cảm của họ.

Có ý kiến lo lắng, nghệ sĩ thì cứ hãy là... nghệ sĩ, chính trường không phải là “sân khấu” nên không phù hợp với họ. Khi họ chưa kịp trở thành một chính trị gia giỏi thì xã hội đã mất một nghệ sĩ, hoặc họ chỉ có thể trở thành chính trị gia... diễn giỏi mà thôi.

Nói gì thì nói, vẫn không thể phủ nhận việc nghệ sĩ nước nhà ngày càng có nhiều cơ hội tham gia chính trường, khi mà tầm ảnh hưởng của những người nổi tiếng ở lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật có tác động lớn, thậm chí rất lớn đến công chúng.

Nhưng trên hết, như nhà thơ Bằng Việt nhấn mạnh, không phải có mặt nghệ sĩ để “đẹp đội hình, mà người được lựa chọn có biết ăn nói có ích cho văn nghệ sĩ và phong trào chung hay không”.

CUNG CẦU


Nguồn:
NGHỆ SĨ VÀ CHÍNH TRƯỜNG





10/8/11

VẤN NẠN CÒI XE



Trên mọi cung đường từ thành thị tới nông thôn, từ xuyên suốt một dải quốc lộ 1A tới chạy dọc Tây Nguyên, trên Tây Bắc, dưới đồng bằng châu thổ Cửu Long… đâu đâu cũng nghe nháo nhác các kiểu còi của vô số loại phương tiện giao thông đường bộ. Dường như, văn hóa còi xe không phải là vấn nạn của bất cứ địa phương nào.

1. Tôi đã có một chuyến đi khó quên từ Hà Tĩnh ra Hà Nội trên một chiếc xe chở khách 30 chỗ. Tài xế xe khách Hà Tĩnh thì nổi tiếng “chạy láo” bậc nhất cả nước rồi. Luồn lách như điên, cua, vượt, vợt khách, lơ xe vừa mở cửa lên xuống vừa hú hét... nhưng kinh sợ hơn là chuyện người tài xế không ngừng bóp còi suốt chặng đường khoảng 300km. Một hành khách không chịu nổi đã phải yêu cầu: “Anh đừng bóp còi nữa”, nhưng người tài xế, còn trẻ thôi, thủng thẳng bất cần: “Có giỏi lên đây mà lái”. Xuống khỏi chuyến xe đó, tôi thực sự như trút được khỏi một khối váng vất trong đầu.

Đã có ai thống kê được bao nhiêu người gặp TNGT vì giật mình trước còi xe mà ngã xuống lòng đường? Không hề có con số đó. Người ta lo giảm thiểu số lượng TNGT nói chung, với hàng vạn cái chết mỗi năm, cũng đã quá mệt mỏi rồi. Tôi nhớ, có một CSGT Hà Nội nhận xét rằng, hễ vào mùa hoa xoan là TNGT thường tăng cao, bởi vì thời tiết thời điểm ấy thường khó chịu, khiến tâm lý người điều khiển phương tiện giao thông không ổn định. Tâm lý của người tham gia giao thông là một yếu tố không thể không xét đoán tới - chúng ta hẳn chưa quên cái chết “bất đắc kỳ tử” trên đường của bố đẻ sát thủ Nguyễn Đức Nghĩa chứ? Đường sá xấu, chật chội, chen chúc, ý thức giao thông kém, lại thêm những cái giật mình vì còi xe nữa thì tai nạn biết bao giờ mới giảm?

Một người bạn của tôi vừa đi Viên Chăn (Lào) về kể, bên ấy đường sá rộng rãi yên tĩnh, văn minh như thế, tự nhiên một lần thấy một chiếc xe vừa chạy vừa bóp còi, mà chẳng vì lý do gì. Bạn tôi nói, “người lái chiếc xe đó chắc chắn là một người Việt Nam”. Mỉa mai thay, bởi cái nhận xét ấy có cơ sở lắm. Cái tật bóp còi phản văn hóa ấy đã ngấm quá sâu vào tầng ý thức của không ít người cầm lái.

2. Tiếng ồn của mật độ dày đặc phương tiện giao thông trên các con đường, cộng với tiếng còi xe đã tạo nên một hậu quả gọi là “ô nhiễm âm thanh”. Đừng sai lầm khi cho rằng, thứ ô nhiễm này không gây tổn hại tới sức khỏe cộng đồng, và cũng đừng đặt câu hỏi rằng, tại sao các công ty kinh doanh kính chống ồn ở Việt Nam lại làm ăn phát đạt. Đã từng có nghiên cứu cho rằng, nếu tiếp xúc với âm thanh cường độ cao trên 75dB trong thời gian dài sẽ gây bệnh điếc không hồi phục, gây mệt mỏi, stress gián tiếp làm tăng các bệnh tim mạch, đường tiêu hóa. Chúng ta hoặc là cơ hội phát triển của nhau, hoặc là nạn nhân của nhau, nhưng vế sau - vế “nạn nhân” - thường đúng hơn vế trước.

Nghị định 34 quy định: Đối với ô tô: Bấm còi hoặc gây ồn ào, tiếng động lớn làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh trong đô thị và khu đông dân cư trong thời gian từ 22h ngày hôm trước đến 5h sáng hôm sau (mức phạt từ 100 đến 200 ngàn đồng); Bấm còi, rú ga liên tục; bấm còi hơi, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư (phạt tiền từ 300 đến 500 ngàn đồng). Đối với mô tô và xe gắn máy: Bấm còi trong thời gian từ 22h ngày hôm trước đến 5h sáng hôm sau, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư (phạt từ 40 đến 60 ngàn đồng); Bấm còi, rú ga liên tục trong đô thị, khu đông dân cư (phạt từ 100 đến 200 ngàn đồng).

Có thể thấy rằng, quy định xử phạt này mới chỉ áp dụng trong khung thời gian đại đa số người dân đang nghỉ ngơi và cũng là lúc thưa vắng CSGT, chủ yếu để tạo “khung” ứng xử và kêu gọi ý thức của người tham gia giao thông là chính. Trên thực tế, chẳng có mấy CSGT hiện nay làm việc vào khung giờ này và xử phạt hành vi bóp còi nêu trên. Chỉ có thể trông chờ vào ý thức, vào văn hóa của mỗi người mà thôi.

Trong hệ thống biển báo giao thông đường bộ có biển cấm bóp còi. Biển này được sử dụng để cảnh báo các phương tiện khi đi qua trường học, bệnh viện, cơ quan trọng yếu... những nơi cần yên tĩnh, yêu cầu không được bóp còi. Tiếc thay, ở Hà Nội số lượng biển cấm bóp còi này không nhiều, nếu tôi nhớ không nhầm thì chỉ thấy ở dọc đường Tràng Thi, gần bệnh viện Việt Đức. Sự thiếu hụt hệ thống biển cảnh báo này cũng là một lý do gây nên hậu quả “ô nhiễm âm thanh” chăng?

Có người đã ví von rằng, kinh tế như chân ga, văn hóa như chân phanh. Nó có hàm ý rằng, đừng tăng trưởng bằng mọi giá. Hãy để ý tới chân phanh của mình, để ý tới văn hóa, nếu không chân ga kinh tế sẽ đưa con người đi đâu không rõ. Hãy bổ sung thêm về “văn hóa ngón tay cái”: còi được sinh ra để bấm khi cần cảnh báo nguy hiểm, chứ không phải thứ để bấm loạn xị hoặc bấm... cho vui!

Đan Anh

Nguồn:
Vấn nạn còi xe




19/7/11

KHI ĐỊNH VƯỢT ĐÈN ĐỎ



1. Lại một vụ xô xát dẫn đến án mạng nữa. Lần này là một tài xế taxi trong lúc chạy xe vào ngõ vướng phải đuôi chiếc xe máy dựng ngang ngược dưới lòng đường. Lời qua tiếng lại, tài xế ô tô dùng dùi cui điện và bình xịt hơi cay đuổi đánh nam thanh niên sở hữu chiếc xe. Và thanh niên này đã dùng dao đâm chết người tài xế...

Trên một diễn đàn Internet, khi trích đăng lại tin này, quản trị viên đã bình luận thêm:

“Có thể hình dung “màn đấu khẩu” lúc đó thế này:

Tài xế taxi: - M. mày (chửi tục), để xe như thế à? Nam thanh niên: - Tao để xe ở đâu liên quan đ. (chửi tục) gì đến mày!

Giá mà nó diễn ra như thế này:

Tài xế taxi: - Bạn ơi, có thể dịch đuôi xe vào một chút giúp mình không?

Nam thanh niên: - Vâng, anh đợi em một chút.

Thì có lẽ sự việc đã chẳng đến nỗi này...”

Vâng, một câu “giá mà” rất chính đáng. Giá mà người ta dành cho nhau những lời nói nhẹ nhàng hơn. Giá mà người ta tôn trọng nhau hơn một chút...

2. Chuyện giao thông, nhìn rộng ra, nó giống như một bức tranh thu nhỏ về cách người ta cư xử với nhau trong xã hội bây giờ. Khi mỗi người đều đặt lợi ích cá nhân lên trên tất cả (ai cũng muốn đi thật nhanh, đến nơi thật sớm, không ai muốn mình phải chịu “thiệt thòi” dừng lại nhường người khác đi trước), thì sự tôn trọng dành cho nhau cũng không còn nữa.

Khi sự tôn trọng dành cho nhau đã không còn nữa, người ta sẵn sàng to tiếng với nhau, động chân động tay với nhau.

Khi đã sẵn sàng động chân động tay với nhau, thì người ta cũng chỉ coi sinh mạng nhau như cỏ rác.

Tôi nghĩ, một cách sâu xa, đó là lý do dẫn đến những vụ xô xát kinh hoàng với lý do nhiều khi... lãng nhách đang càng ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Đó cũng là tác nhân cho những hành động mất nhân tính, như người bảo vệ đã rồ ga đâm cả xe chở phế liệu vào những người đồng nghiệp cùng công ty với mình...

3. Đã rất nhiều lần giữa buổi trưa nắng nóng, đi đến một ngã tư mà đèn đã sang đỏ, nhìn đồng hồ đếm ngược báo còn hơn 60 giây, tôi cũng muốn nhấn ga để vượt qua cho mau chóng. Nhưng lại nghĩ, ở phía đường giao nhau bên kia, có những con người mà 60 giây trước đó đã đứng lại chịu nắng để những người khác trên phần đường tôi đi có thể vượt qua ngã tư một cách an toàn; vậy thì bây giờ, sau khi đã nhẫn nại chờ đợi và nhường nhịn như vậy, họ cũng xứng đáng được đi tiếp mà không cần phải lo lắng nhìn sang hai bên để tránh những mối nguy vượt đèn đỏ chứ...

Rồi chợt nghĩ, giá như bất cứ ai tham gia giao thông cũng đều nghĩ được như vậy.

Để đừng giẫm đạp lên nhau.

Minh Đức

Nguồn:
Khi định vượt đèn đỏ...



4/7/11

VĂN HÓA SỐC HAI CHIỀU



Khái niệm “sốc văn hoá” đã trở nên dễ hiểu với nhiều người Việt, vì bây giờ chẳng cần phải đi ra nước ngoài cũng có thể bắt gặp người nước ngoài trong cuộc sống thường ngày. Do sự khác biệt về văn hoá, nếp nghĩ mà nảy sinh những “khoảng cách còn lại” từ lời nói đến cách hành xử.

Một bữa chạy xe về đến con hẻm rẽ vào chung cư, tôi bực bội vì người chạy sau nhấn còi xe inh ỏi cố vượt lên. Ngoái đầu lại, tôi chưng hửng vì đó là một người đàn ông nước ngoài, ăn mặc rất lịch sự. Một lát sau, khi cùng vào thang máy, tôi chưng hửng khi biết đó là người hàng xóm của mình. Tôi nhỏ nhẹ nói chuyện rằng lần sau xin đừng nhấn còi như vậy nếu không có việc gì gấp phải giành đường. Ông ta điềm nhiên bảo: “Sống ở Việt Nam mà bảo không nhấn còi thì làm sao chạy xe! Cậu chắc có vấn đề rồi!”.

Sau đó, có dịp nói chuyện cùng người quản lý chung cư, tôi còn biết sự thật hãi hùng về sự “hội nhập” của những người nước ngoài đang sống cạnh mình: vứt rác thoải mái ra hành lang công cộng, hút thuốc trong thang máy, ném chai lọ qua bancông, cửa sổ, mở nhạc ồn ào, khoan tường lúc nửa đêm… Những hành vi này phổ biến đến mức ban quản lý phải dán một văn bản khuyến cáo, phạt tiền.

Rất may là không phải người nước ngoài nào cũng như những người nước ngoài sống cùng chung cư với tôi. Haruko, cô bạn Nhật mà tôi quen trong một chuyến đi Nha Trang, bảo: “Tôi rất thích Sài Gòn vì có nhiều món ăn ngon và cửa hàng có nhiều đồ thêu tay đẹp. Nhưng tôi chịu không nổi cách người ta tra tấn nhau bằng tiếng còi xe nhức nhối trên đường. Bấm còi bị xem là hành động bất lịch sự – bất đắc dĩ người ta mới phải dùng đến. Sợ nhất là những lần phải băng qua đường, ngay cả khi tôi đi đúng vạch dành cho người đi bộ thì vẫn không có xe nào chịu nhường cho tôi qua. May là tôi đã được truyền bí kíp từ những du khách đã đến Việt Nam – ngẩng cao đầu, bước thật đều, không đột ngột chuyển hướng”.

Antoine Bashung, giám đốc kinh doanh một doanh nghiệp đóng tại Phú Mỹ Hưng, kể: “Tôi sống tại Việt Nam được ba năm, nhưng vẫn chưa quen được cách người Việt hào phóng nụ cười trong những tình huống không có chi tiết nào hài hước hết. Không biết, cười. Mắc lỗi, cười… Ngay cả khi người đối diện cần câu giải thích thì người Việt lại dùng nụ cười để khoả lấp vấn đề. Nói chung là nụ cười không đúng lúc khiến người ta kém duyên hơn”.

Không chỉ người ngoại quốc mà cả những Việt kiều sống lâu năm ở nước ngoài về thăm quê hương cũng bị sốc văn hoá. Oanh Đỗ, sống tại Chicago, Mỹ, vừa có chuyến về thăm gia đình, bạn bè tại TP.HCM. Cô dở khóc dở cười khi nhiều người quen mới gặp lại đã nói ngay vào mặt: “Ở bển em ăn gì mà mập quá vậy?” Theo cô, ở Mỹ mà nói từ “mập” trước mặt người phụ nữ đối diện chẳng khác nào tát vào mặt người ta.

Với các du học sinh Việt Nam tại nước ngoài, sốc văn hoá trong thời gian đầu sống ở xứ người là chuyện đương nhiên, vì… lạ nước lạ cái. Bạn Nguyễn Hoa, sinh viên đang du học ở Úc, kể một tình huống. Anh bạn người Úc mời các bạn người châu Á trong lớp đến nhà ăn tối. Anh ta bảo: “Nhớ mang cái dĩa theo”. Hoa thắc mắc không hiểu tại sao mình được mời đến ăn mà phải mang dĩa theo. Cô bẽn lẽn hỏi chị bạn người Nhật ở Úc lâu rồi và được giải thích: “Ý của nó là bạn mang món gì đấy góp vào bữa ăn, như bánh, trái cây tráng miệng...”

Chị Trần Thanh Ngọc, có dịp đi công tác tại Hanover, Đức và không thể quên cú sốc văn hoá “để đời”. Khi trú tại khách sạn, trong lúc rảnh, chị quyết định đi bơi. Vừa mở cửa bước vào khu vực hồ bơi, chị choáng khi thấy ngay một ông đang tắm truồng. Chị đi ngược ra vì nghĩ chắc mình đi lộn vào phòng tắm đàn ông, sau đó hỏi thì mới biết đó là cửa duy nhất đi vào hồ bơi. Bơi xong vào phòng sauna lại thấy một người đàn ông trần truồng khác. Nhân viên hồ bơi xác nhận là hồ bơi, sauna này dành cho cả đàn ông lẫn đàn bà, và nude là chuyện bình thường. Chị Ngọc choáng vì chỉ nghe nói ở châu Âu có bãi biển tắm nude chứ đâu ngờ ở hồ bơi và sauna cũng có người nude nữa.

Từ góc độ một người sống qua nhiều nền văn hoá Đông, Tây, Nancy Lewis, giáo viên dạy Anh văn tại Việt Nam, Trung Quốc chia sẻ vài bí quyết vượt qua sốc văn hoá: “Nếu bạn chuyển đến học tập, làm việc tại địa phương khác trong hoặc ngoài nước, bạn sẽ bị sốc văn hoá, tuỳ theo cấp độ và ngưỡng chịu đựng của bản thân. Ngay cả khi bạn di chuyển đến một tỉnh thành chỉ cách thành phố của bạn chỉ một giờ bay. Sẽ luôn có sự khác biệt không lường trước về cách hành xử, lời nói của người địa phương.

Thay vì thụ động, chịu đựng những cú sốc, sao bạn không thử chủ động, khám phá một góc độ khác của cuộc sống? Cách đơn giản là hãy kết bạn, vượt qua trở ngại về bất đồng ngôn ngữ hoặc quan điểm sống. Hãy tỏ ra thân thiện, hoà nhã, mỉm cười với người dân địa phương. Một khi là người khách lịch sự và cư xử đúng mức, bạn sẽ nhận được những sự ngạc nhiên thích thú, thay vì những cú sốc văn hoá khó chịu”.

NGÔ BÁ NHA




19/6/11

BẢO TÀNG VĂN HÓA BIỂN



ĐỖ THÁI BÌNH

Đúng là chúng ta nên có một Bảo tàng Văn hóa biển Quốc gia, như thông điệp truyền đi từ hội thảo “Văn hóa biển đảo” ở Nha Trang mới đây. Nhưng trước hết cần thức tỉnh lòng say mê nghiên cứu văn hóa biển, tránh hư danh trong học thuật, nhất là trong điều kiện có khả năng hợp tác quốc tế rộng rãi, hợp tác liên ngành, nếu không nó sẽ khó tránh khỏi viễn cảnh giống như Bảo tàng Hà Nội, một công trình khổng lồ mà rỗng ruột!

Qua theo dõi báo chí và thăm thú nhiều bảo tàng trong nước nói chung, nhiều ý kiến đã nêu lên những cái chưa được của quan niệm làm bảo tàng ở Việt Nam. Vì bảo tàng đâu chỉ là nơi minh chứng một quyết định của một thời mà còn là nơi để các thế hệ say mê học tập quá khứ để nhìn về tương lai, nơi trưng bày những sự vật sinh động, nhân văn lôi cuốn mọi người? Nếu với cách làm bảo tàng hiện nay, có lẽ chúng ta không thể chấp nhận như một vài bảo tàng nước ngoài mà tôi đã thấy, ví dụ nó diễn giải con người đã giải quyết việc “ị” trên tàu như thế nào, từ thời các tàu buồm cho tới con tàu hiện đại, một việc khá tầm thường theo cách nhìn chung của chúng ta, nhưng lại khá sinh động và rất “khoa học công nghệ”, rất nhân văn.

Bảo tàng Dân tộc tại Hà Nội là một thí dụ thành công: người tham quan đã từng được ôn lại sinh hoạt thời bao cấp với những chi tiết tỉ mỉ, trẻ em có thể chơi “ô ăn quan” đúng như các cụ ta xưa kia vui đùa. Chỉ tiếc là cái thuyền Thanh Hóa để gần cửa ra vào của Bảo tàng chẳng nói lên được điều gì về cuộc chinh phục sông biển của dân tộc… Cho nên thay đổi một cách sâu sắc cách làm bảo tàng, sử dụng thật tốt các bảo tàng với yếu tố biển sẵn có như Bảo tàng Hải quân Hải Phòng, Bảo tàng Cọc Bạch Đằng tại Quảng Yên, Bảo tàng Quy Nhơn, Bảo tàng Trận Rạch Gầm-Xoài Mút tại Mỹ Tho… có thể là việc cần làm ngay, thiết thực, là bước tập dượt cho một bảo tàng chuyên mang yếu tố biển sau này.

Một yếu tố vô cùng quan trọng nữa là hiện vật và các câu chuyện, là nội dung trong khối nhà to lớn mà ta sẽ gọi là Bảo tàng Văn hóa biển. Có thể nói rằng, cái “ruột” của bảo tàng đó hiện nay quá sơ sài, nếu không muốn nói là chẳng có gì, tức là chúng ta chưa có nhiều công trình nghiên cứu sinh hoạt sông biển của dân tộc, từ việc làm ghe đóng thuyền, may buồm, tới việc đan lưới đánh cá và các câu ca dao hò vè… Có bạn sẽ phản đối và dẫn ra một loạt các công trình nghiên cứu về lễ hội Nghinh Ông, về các lễ Cầu Ngư… nhưng cứ xem bộ phim về biển đảo mà Truyền hình Việt Nam đã xây dựng cũng đủ biết tư liệu quá nghèo: lại các ảnh Hội An từ tư liệu nước ngoài cũ kỹ, lại thuyền trống đồng… Có một chi tiết trong bộ phim này mà tôi không quên là có một ông tiến sĩ dân tộc học trước cái mô hình thuyền buồm cánh dơi đã giải thích say sưa về cái xiếm nhưng nhầm nó với chức năng bánh lái thuyền, một cái nhầm chết người về kỹ thuật!

Trong khi đó những việc làm từ Trung Hoa đáng để chúng ta học tập. Từ vài chục năm trước, với ý chí bành trướng ra đại dương, họ đã có một kế hoạch tỉ mỉ lôi cuốn toàn dân, trước hết là giới học giả, khoa bảng trong cuộc ngược về quá khứ tìm tòi truyền thống, hướng tới tương lai đại dương, biển xanh, trong tất cả mọi ngành nghề từ khoa học xã hội lẫn tự nhiên, từ tỉnh miền núi Vân Nam tới những bảo tàng thuyền ở Phúc Châu, Phúc Kiến, từ những kho sách cổ tại Bắc Kinh tới những cuộc truy tìm các hậu duệ Hoa cho là còn sót lại tại Kenya (1) Phi Châu, từ hàng trăm nghìn đầu sách về lịch sử chinh phục biển trong nước tới cả những cuộc liên kết cổ động cho Gavin Menzies (2), một ông sĩ quan Anh về hưu nhưng mê “vịt tiềm Bắc Kinh”… Nhìn những cuốn sách trong bộ “Cổ thuyền” (3), một công trình nghiên cứu của họ, chứng minh cuộc chinh phục biển trong quá khứ, chúng ta không thể tự hỏi, ở nước ta đã có những công trình tương tự như vậy hay vẫn chỉ là việc nhắc lại những Paris, Pietri, những công trình bất hủ nghiên cứu về thuyền bè của chúng ta đã có tuổi đời hơn nửa thế kỷ? Các công trình của các trường đầy ắp các đề tài “thiết kế tàu 5 vạn tấn”, “thiết kế tàu cánh ngầm”, những đề tài copy và paste, cắt và dán nhưng liệu có đề tài nào đề cập tới buồm cánh dơi, cách tính toán và công nghệ dân gian ra sao?

Trong khi đó chúng ta nên biết rằng tàu thuyền Việt Nam luôn là đề tài nghiên cứu của nhiều thế hệ các học giả nước ngoài, là nỗi đam mê của John Doney và Edwards người Mỹ, của bà Francoise Aubaile-Sallenave (4) người Pháp. Suốt mùa hè năm 2009 Edwards đã một mình rong ruổi một chiếc xe máy cà tàng từ Móng Cái tới Kiên Giang với một chiếc máy ảnh để lưu giữ hàng nghìn tấm hình thuyền bè mà ông sợ “sẽ mất rất nhanh theo thời gian”! Có lẽ Tim Severin (5), nhà du lịch huyền thoại người Anh biêt rõ về nơi làm buồm cánh dơi tại Hà Nam, Phong Cốc, Quảng Yên hơn rất nhiều các học giả nước ta.

Đúng là chúng ta nên có Bảo tàng Văn hóa biển Quốc gia, nhưng trước hết cần thức tỉnh lòng say mê nghiên cứu văn hóa biển, tránh hư danh trong học thuật, nhất là trong điều kiện có khả năng hợp tác quốc tế rộng rãi, hợp tác liên ngành. Chúng ta biết rằng cuộc nghiên cứu cọc Bạch Đằng (6) vừa qua đã có mặt nhiều trung tâm khảo cổ hàng đầu thế giới, sử dụng nhiều công nghệ mới, trong đó có sonar quét bên…Mục đích cuối cùng l�Bảo tàng Văn hóa biển phải có khả năng truyền bá lòng yêu biển, lôi kéo toàn dân tộc tiến ra đại dương làm giàu từ biển và sẵn sàng hy sinh bảo vệ sông biển mà tiền nhân đã giành được!

___

(1) Tháng 10 năm 2010, các nhà khảo cổ Trung Quốc đào bới ở ven bờ Malindi, Kenya cộng với những bằng chứng nhân chủng học để cố chứng minh Trịnh Hòa thời nhà minh đã tới nước này và bị đắm tàu!

(2) Tác giả một số sách gây sốc, trong đó có cho rằng Trịnh Hòa nhà thám hiểm thời nhà Minh đã đi vòng quanh thế giới trước Magellan, và đã bị chính các nhà khoa học Anh bác bỏ.

(3) Có hàng chục công trình về cổ thuyền, gần đây tháng 05/2011 là cuốn “Trung Quốc Cổ Thuyền Đồ Phả” 中国古船图谱 của tác giả Vương Quan Trác王冠倬

(4) Tác giả “Bois et Bateaux du Vietnam” xuất bản tại Paris năm 1987

(5) Người đã thực hiện rât nhiều chuyến du lịch lặp lại của người xưa. Trong cuốn “China Voyage” xuất bản năm 1994, ông tả lại chuyến vượt Thái Bình Dương bẳng mảng tre (làm tại Sầm sơn) với buồm (may tại Hà Nam Quảng Yên )

(6) Cuộc khai quật nghiên cứu trận Bạch Đằng tiến hành năm 2009 thực hiện bởi Tiến sĩ Lê Thị Liên, Cô Huong Nguyen Mai, Cô Charlotte Pham, Tiến sĩ Mark Staniforth, Tiến sĩ Jim Delgado, Ông Jun Kimura và ông Randall Sasaki

Ảnh: Buồm cánh dơi trên Vịnh Hạ Long.

Nguồn:
Bảo tàng Văn hóa biển?



20/4/11

TẢN MẠN VỀ LỀU CHÕNG



LÂM VIỆT

Người học ngày nay vẫn nơm nớp với những gì không thật sự giá trị như nhớ đúng, thuộc đủ những công thức, những ý tứ máy móc để quên mất điều quan trọng hơn là sự chủ động trong tư duy và hứng thú sáng tạo. Sự thiếu hụt, bỡ ngỡ bị xem là tối dạ; cách sao chép, mô phỏng được cho là cứng cáp, là tiềm năng.

Thú thực, xem xong bộ phim Lều chõng của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân (Hãng phim TFS sản xuất) dễ đến cả tuần lễ sau tôi vẫn bị ám ảnh. Bộ phim dựa trên một truyện dài cùng tên của nhà văn Ngô Tất Tố xoay quanh câu chuyện về anh học trò tài năng Đoàn Vân Hạc bị hỏng thi hết lần này lần khác vì nhiều lí do khác nhau. Có điều, tất cả những lần thi hỏng ấy đều từ những lí do khách quan như ốm đau, hay quy phạm ngặt nghèo của trường thi mà tài năng kiệt xuất ấy đã không được trân trọng và lựa chọn. Không chấp nhận những rủi ro liên tiếp như định mệnh, Đoàn Vân Hạc vẫn bản lĩnh vượt qua tất cả trong lần dự thi cuối cùng. Tưởng như đã chạm được một tay vào danh vị thủ khoa năm ấy thì bỗng dưng anh biến thành kẻ trắng tay trong phút chốc.

Giấc mộng công danh biến mất, màn ảnh nhỏ khép lại, người xem thấy tiếc cho một tài năng, thấy bức bối với quy định nghiệt ngã của xã hội cũ và có thêm một suy cảm mới mẻ: Nhìn lại chuyện bút nghiên ngày nay, vẫn còn quá nhiều rào cản và thử thách không đáng có ngăn trở bước tiến của những tài năng trong cuộc sống hiện đại.

Trong suốt gần một ngàn năm tồn tại, các kì thi này đã tuyển chọn, cất nhắc được nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng mà không câu nệ vào tuổi tác như trạng Nguyễn Hiền 13 tuổi hay tướng mạo xấu xí, quái dị như Mạc Đĩnh Chi. Tuy nhiên, ở giai đoạn thoái trào của các tập đoàn phong kiến, đã xuất hiện những quy định phiền hà, oái oăm đánh trượt nhiều tài năng. Trước sự vận động của thời cuộc, đòi hỏi tìm kiếm những người có tài năng, cá tính mạnh mẽ. Có tư duy linh hoạt bứt phá thì những chuẩn mực lạc lõng kia thực sự là những rào cản nghiệt ngã. Sự tồn tại của nó xuất phát từ quan niệm ấu trĩ về cách đánh giá và lựa chọn hiền tài dựa trên những tiêu chí máy móc. Nó buộc người ta phải vượt qua những may rủi của con đường thiên lý đến những sự tránh né, kiêng kị trong câu cú, gò mình trong khẩu khí.

Chuyện lều chõng tưởng cũng đã xưa. Vậy mà bất giác lại khiến tôi nghĩ đến một kỷ niệm. Nhớ lại cái ngày còn bé, gia đình tôi còn ở một bản miền núi. Tôi hiểu vào đời lập nghiệp thiêng liêng thế nào khi chứng kiến anh trai mình dậy từ gà gáy khăn gói về Hà Nội thi đại học. Hai giờ sáng xe chạy, mất gần hai ngày rong ruổi đủ cả ngủ trọ, cơm nắm, cơm đùm, qua bao đèo dốc quanh co… Đêm trước ngày thi, Hà Nội lại có cơn giông lớn, cây đổ gây ách tắc nhiều ngả đường, phố xá ngập lụt. Đường đến cổng trường đại học của những thí sinh năm đó lại đằng đẵng thêm một quãng nữa. Có phải số anh tôi vất vả hay cái nghiệp thi cử thời nào cũng gian nan thế ư? Sau này lớn lên tôi hiểu, điều ấy được đổi lại bằng sự công tâm của những kì thi mà nếu đưa về các địa phương hay lồng ghép "2 trong 1" thì thật là khó…

Vài năm sau gia đình tôi chuyển về gần Hà Nội. So với anh cả, tôi và các em tôi được làm “người phố xá” nên thấy cái gì cũng lợi, cũng tiện, hơn hẳn những học trò vùng xa xôi. Quá khứ thi cử nhọc nhằn của anh giờ chỉ còn là chuyện kể vui tai trong bữa cơm của đại gia đình. Có lẽ, những con đường mòn lầy lội kia đã vĩnh viễn nằm dưới lớp bê tông, chiếc xe khách cà tàng ba ngày chạy về Hà Nội một chuyến đã vào một bãi sắt vụn nào đó. Nhưng hoá ra không phải, những phương tiện hiện đại đã giúp người học bớt đi một phần sức lực nhưng vẫn còn đó quá nhiều những rào cản không đáng có bởi những quan niệm cũ kĩ.

Thời phổ thông, học trò căng sức với các môn thi đại học. Kiến thức đa phần nằm trong quyển vở ghi lời lẽ của thầy. Thế mà vào đại học chúng tôi cứ vấp hết thứ này đến thứ khác. Những thứ khó vì lạ chứ không phải vì đòi hỏi trình độ tư duy. Nào là: cách đọc sách, cách lập dàn ý, cách viết tiểu luận, làm việc theo nhóm, seminar… mà lần đầu tiên đã là lần đánh giá trình độ.

Có phải vì đã là sinh viên (được coi là có học) là phải biết rồi chứ! Phải sẵn từ trước đó. Người phương Tây cho rằng, để chuẩn bị cho toàn cầu hoá nền giáo dục, họ sẽ bắt đầu xây dựng từ cấp phổ thông. Bởi lẽ, họ muốn trang bị cho học trò những kĩ năng trước khi vào cuộc đua tri nhận kiến thức và tư duy ở các cấp học cao hơn. Nói cách khác, mọi học sinh đều ngang tầm nhau về trang bị và hồ hởi đua sức. Khi đó việc đánh giá, phân loại sẽ dễ dàng và chính xác biết bao. Thế mà học trò của ta lắm khi cứ bị “bé đi”, bị “trầy xước” bởi việc làm quen với những thao tác kia trước khi nhập cuộc đua tri thức.

Ngẫm lại mới thấy sự ám ảnh với chiếc lều chõng là có lí thật. Dẫu rằng, ngót trăm năm qua những thứ gianh tre kia đã mục nát lâu rồi. Đó là một gánh nặng khác. Gánh nặng của những quy tắc đã lỗi thời mà ở những nền giáo dục tiên tiến không còn tồn tại. Đó là người học vẫn nơp nớm với những gì không thật sự giá trị như nhớ đúng, thuộc đủ những công thức, những ý tứ máy móc để quên mất điều quan trọng hơn là sự chủ động trong tư duy và hứng thú sáng tao. Sự thiếu hụt, bỡ ngỡ bị xem là tối dạ, cách sao chép, mô phỏng được cho là cứng cáp, là tiềm năng. Như thể ta mãi chú ý cái tầm cao của tên lửa mà quên nhìn lại cái mấp mô, lổn nhổn của từng bệ phóng cho tri thức.

Cũng như muôn vàn bình diện khác của cuộc sống, giáo dục đang tự làm mới mình bằng những thay đổi đáng kể trong những năm gần đây. Công bằng mà nói chuyện thi cử của chúng ta ngày nay cũng rất nghiêm túc. Nhưng cớ sao chuyện tìm kiếm và đào tạo nhân tài vẫn còn nhiều điều bất cập. Có lẽ chỉ khi nào chúng ta dũng cảm từ bỏ được những quan niệm cũ thì nỗi ám ảnh ấy không còn nữa. Như thế con đường lập nghiệp bằng chữ nghĩa mới thật sự rộng mở với mọi người.

Ảnh: Các cảnh trong phim "Lều chõng"

Nguồn:
Tản mạn về lều chõng



2/4/11

THÓI QUEN VĂN HÓA HAY LẬP DỊ?


Người Nhật xếp hàng mua dầu lửa ở Hitachi (tỉnh Ibaraki) sau thảm họa sóng thần.

Trong những ngày qua, khi nước Nhật liên tiếp gặp thảm hoạ, khi truyền thông cả nước và cộng đồng mạng xã hội đều bảy tỏ sự khâm phục trước hình ảnh đoàn người xếp hàng nhẫn nại ở bất cứ đâu, thì trên cung đường đi làm ở Sài Gòn, qua ít nhất ba ngôi trường từ mẫu giáo tới tiểu học, tôi vẫn thấy vô số những vị phụ huynh đi vào đường ngược chiều, leo vỉa hè để chở con tới trường. Hai hình ảnh đó diễn đạt rõ ràng hai thái cực.

Không đúng nhưng… được


Có thể bạn sẽ phản bác, có gì đâu mà nghĩ to tát, chuyện hàng ngày và bình thường của chúng ta. Đúng. Bình thường. Cái tiêu cực bất thường đã trở nên bình thường trong con mắt chúng ta. Đấy mới là chuyện to tát. Quay trở lại việc làm của các vị phụ huynh kia, họ có đường để đi, nhưng họ chọn cách đi ngược chiều – đi vào làn đường của người khác, họ chọn đi trên vỉa hè – là giành đường của người đi bộ. Họ vi phạm luật, đã đành. Nhưng điều quan trọng hơn là trên xe, sau lưng các vị phụ huynh là con họ, những đứa trẻ đang độ tuổi đến trường, là tương lai của chúng ta nay mai. Những bài học luật lệ, ứng xử văn hoá với cộng đồng những đứa trẻ được dạy ở trường phỏng có ích gì khi mà cha mẹ chúng – những người trưởng thành dẫn dắt chúng, là tấm gương của chúng, không mảy may thực hiện.

Nhìn rộng ra một chút, những ví dụ tương đồng có thể thấy ở bất cứ đâu. Bạn có thể đã từng là nạn nhân bị “cướp” taxi ở sân bay vì những người không biết xếp hàng. Bạn có thể bị “cướp” mất thời gian ở chỗ máy ATM rút tiền vì người khác chen ngang một cách vô tư. Bạn có thể bị chen bật ra ở một chỗ gửi xe, trước quầy làm thủ tục check in ở sân bay, mua vé vào công viên, chỉ vì người phía sau nhanh chân len tới v.v.

Nhưng đó mới chỉ là những thứ ta nhìn thấy bằng mắt. Còn những giành giật, những không xếp hàng, không công bằng ở những chỗ ta không nhìn được bằng mắt nữa. Chẳng hạn, tôi có công chuyện gấp phải làm hộ chiếu, do có mối quan hệ ngang tắt với “ông nọ”, “bà kia”, hộ chiếu của tôi được giải quyết nhanh hơn. Rõ ràng là những người xếp hàng dài dằng dặc trước tôi ở chỗ giải quyết hồ sơ đó đã phải lui lại, để việc của tôi được giải quyết trước. Như thế là công bằng? Buồn thay, chúng ta đã thấy đó không phải là vấn đề gì quá lớn!

Chen lấn xin ấn đền Trần

Đúng… nhưng không được

Bạn hãy thử làm việc này một lần, như tôi. Dừng xe ở hàng đầu trước ngã tư đèn đỏ và hãy chờ cho đến tận khi tín hiệu đèn xanh bật lên mới cho xe lăn bánh. Bảo đảm, trước đó ba giây, nếu nhẹ nhàng thì bạn bị tiếng còi của xe phía sau hối thúc, nặng hơn thì bị người khác nhìn thẳng vào mặt bảo “khùng!”, nặng hơn nữa thì bị xe sau thúc thẳng vào xe bạn kèm câu “Tới đi cho người ta còn đi!”

Hàng xóm nhà bạn tôi, hai vợ chồng là dân nhập cư. Năm con anh chị vào lớp một, họ nhất định cho con vào trường tư, dù tốn kém. Bạn tôi vốn bao đồng muốn xây dựng quan hệ thân thiện với hàng xóm, tưởng anh gặp khó khăn khi xin con vào trường công nên ngỏ ý giúp anh mối quan hệ để xin con vào một trường điểm trong thành phố. Anh nhẹ nhàng từ chối với lý do, con mình vô được đó thì chắc phải có con ai rớt ra chứ. Bạn tôi bảo, “thời buổi này còn có thằng cha ngu dữ!”

Một ví dụ khác. Chị bạn tôi kể một lần đưa con đi công viên, chị dẫn con xếp hàng mua vé. Một cô gái chừng tuổi 20 thản nhiên chen ngang trước chị và cháu nhỏ. Chị lên tiếng nói cô gái đó xếp hàng. Cô gái trừng mắt hất hàm thách thức: “Tui chen ngang vậy đó, rồi sao?” Chị bảo “Lúc đó chỉ biết thở dài chứ làm sao giờ, không lẽ mình có đai đen taekwondo không biết tông con nhỏ một cú cho nó rớt hàm. Nhưng buồn là người bán vé không có thái độ gì, vẫn thản nhiên bán trước cho người chen ngang”. Chẳng cứ người bán vé ở công viên, ở trạm xăng, quầy tính tiền siêu thị… cũng vậy thôi, người ta còn nhiều việc khác để lo thay vì ủng hộ những người đúng. Vậy đó, bạn đang sống ở một hoàn cảnh xã hội mà bạn ứng xử đúng luật, biết phải trái trước sau, bạn sẽ bị đơn độc và lạc lõng.

Chở ba, không đội mũ bảo hiểm...

Cái sai đã được tự hào và ngưỡng mộ

Bạn hãy nhìn lại những khu nhà ở tập thể, chung cư ở cả Hà Nội và Sài Gòn được xây dựng vào những năm 80, 90 thế kỷ trước, hầu hết nó đã “tự” phình ra. Các nhà tầng trệt lấn ra tứ bề, rồi nhà phía trên cứ thế chồng tầng, chồng tầng. Tương tự với những ngôi nhà mặt tiền, mặt hẻm có lầu trên đua ra đường quá mức cho phép đang tồn tại. Đấy là chiếm, là giành, hay là cướp không gian công cộng?

Tôi thử đặt mình vào vị trí một người chủ gia đình ở căn bìa tầng trệt ở những khu chung cư như đã dẫn xem có làm khác được không. Đầu tiên tôi sẽ thấy một nhà hàng xóm nào đó “mạnh dạn” lấn chiếm. Tôi chưa “động thủ”, nhưng vợ con hối thúc. Hàng xóm lầu trên mở lời, bàn bạc, thương lượng, năn nỉ, chia sẻ vật chất để tôi cùng lấn chiếm (vì tôi có lấn thì họ mới lấn được). Rồi cả khu đã lấn chiếm xong, những khu khác cũng vậy, còn riêng nhà mình, tôi có ngồi yên được không.

Cuối cùng tôi đành đưa ra quyết định, thôi cứ làm như mọi nhà khác, không lại “không giống ai”. Diện tích “cơi nới” cho tôi một căn hộ khang trang, hoành tráng, mang lại cho tôi biết bao nguồn lợi từ giữ xe, cho thuê mặt bằng kinh doanh v.v. Tới lúc đó, vợ con tôi cùng hoan hỉ với thành quả đạt được. Bạn bè khách khứa tới chơi khen ngợi, ngưỡng mộ tôi vì đã tạo nên một gia sản đáng kể.

Người viết phải ví dụ dài dòng thế để cho bạn đọc thấy lộ trình: một việc sai trái trở thành bình thường, rồi thay vì bị xử lý cho đúng luật để tạo sự công bằng, xã hội lên án, thì những hành vi đó đã được (chủ công trình) tự hào, (những người xung quanh) ngưỡng mộ, ca ngợi.

Ví dụ nữa, rất nhiều. Hẳn trong cuộc sống hàng ngày, bạn đã từng thấy những người xung quanh kể lại, rằng có “người quen” nên thủ tục thành lập doanh nghiệp được giải quyết nhanh hơn, rằng có “bà con” nên không phải chờ đợi, rằng “anh ấy nhiệt tình” nên việc mình vèo cái là xong chứ cứ đi đường thẳng thì chờ dài cổ… Đó là cái gì? Là chen ngang, là giành giật, là dùng quan hệ, tiền bạc để “chơi” không công bằng rồi còn mang ra khoe khoang, tự hào.

Kết

Trở lại với hình ảnh đại diện cho hai thái cực ở đầu bài viết. Người Nhật trui rèn qua nhiều thời gian, nhiều thế hệ, hình thành nên tính cách, phẩm giá, để khi có biến cố, họ vẫn là họ, tự trọng, kiên nhẫn, biết nhường nhịn, chia sẻ. Còn ta, những giá trị tốt đẹp mỗi ngày không uốn nắn, không xây dựng, không bảo vệ, khi cuộc sống diễn ra bình thường đã thấy đạo đức, ứng xử rệu rã lắm rồi, thì lúc có biến cố, chúng ta trông chờ vào sự đột biến vô căn cứ, hay phó thác cho hên xui?

Bảo Linh


Nguồn:
Trông chờ vào đâu?



31/3/11

"VĂN HÓA" BÁO MẠNG



Câu hỏi cho một số bạn phóng viên “văn hoá”

Các bạn ạ, mấy hôm nay hoang mang quá, tôi bèn giở từ điển tiếng Việt ra, thấy có cả thảy năm nghĩa về “văn hoá”:

1. Tổng thể giá trị vật chất tinh thần do con người sáng tạo trong quá trình lịch sử.

2. Những hoạt động của con người nhằm làm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần.

3. Tri thức, kiến thức khoa học.

4. Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh.

5. Nền văn hoá của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau.

Tôi hoang mang là vì tất cả các mục có tên gọi là “văn hoá” trên nhiều tờ báo mạng không hề thuộc khoản nào trong năm mục định nghĩa trên.

Nhưng một người quen tôi bảo, sai rồi, thuộc năm mục cả ấy chứ. Đây này:

1. Cung cấp tin diễn viên, ca sĩ mua xe gì, túi gì, thuộc mục một.

2. Cung cấp tin có gì trong váy của ca sĩ, nghệ sĩ; cầu tiêu nhà nghệ sĩ thì thơm hay hôi đến mức nào… thuộc mục hai.

3. Tìm hiểu nghệ sĩ có bơm ngực bơm mông không, công nghệ nào là thuộc mục ba.

4. Cung cấp tin nghệ sĩ lăng mạ nhau, thắc mắc về mức độ “văn minh” của một số ca sĩ, diễn viên… là thuộc mục bốn.

5. Lâu lâu đăng những bài gần như giống hệt nhau mỗi khi có nghệ sĩ lìa đời (mà khi họ còn sống thì không hề có bài nào cho biết họ đang làm gì, sống ra sao) là thuộc mục năm.

Các bạn phóng viên mục văn hoá ơi, một số nghệ sĩ quen biết nói với tôi rằng ngoài chuyện lù mù về định nghĩa “văn hoá” trên báo mạng, còn vấn đề tác nghiệp cũng không biết có thể gọi là “văn hoá” không.

Thí dụ họ đang đứng trên sân khấu hát (ở tư thế là đã cao hơn đầu các bạn), các bạn đứng bên dưới, chĩa ống kính lên thì làm sao mà họ khép chân cho kịp, thế là thành một bài “lộ hàng”.

Họ đang ở trong toilet, phòng thay đồ, các bạn xông vào, chĩa thẳng, họ cũng không khép chân lại kịp (lại cũng thành một bài “lộ hàng” nốt, nhưng có bạn phóng viên còn hỏi ngây thơ, lộ hàng thật hay lộ hàng giả).

Chuyện họ mặc áo hở ngực hay không mặc áo ngực đi ngoài đường, tưởng chỉ có chồng họ thắc mắc thôi, có ai ngờ các bạn lại quan tâm, đứng sau gốc cây quan sát, rồi cho vào cái gọi là bản tin an toàn giao thông.

Họ giận nhau, chửi nhau trên Facebook, trên blog, chơi đùa hay nghiêm trọng, là chuyện riêng của họ, có ngờ đâu các bạn phóng viên đọc hết, chép lại y chang, thành bài – thêm vào dấu chấm hỏi, bảo thế là có thật không, thế là có văn hoá không?

Rồi lúc họ đang bị vợ bỏ, chồng bỏ, mất của…, thấy có người đưa khăn cho chùi nước mắt, họ mủi lòng khai chuyện, làm sao biết được các bạn đi đăng báo, rồi quay lại mắng họ “rẻ tiền”, mắng là showbiz của họ nhiễu loạn.

Tóm lại tác nghiệp như thế thì gọi là gì bây giờ? Du kích? Tổng công kích? Nghệ sĩ, diễn viên, ca sĩ, người mẫu... chân yếu tay mềm làm sao đỡ nổi sự nhanh nhẹn và mưu trí của các bạn bây giờ?

Tôi thì nghĩ rằng người nổi tiếng phải chịu trách nhiệm hành vi của mình. Ai mượn thay đồ không chốt cửa cho phóng viên xông vào làm chi. Ai mượn đi hát mặc váy ngắn lại đứng gần mép sân khấu có phóng viên rình sẵn làm chi. Ai mượn yêu nhau rồi bỏ nhau, chửi nhau như người thường làm chi… Được lăngxê rồi bị vùi dập là hai mặt gắn bó của chữ “nổi tiếng”, không nên khóc lóc nhiều. Nhưng tôi hoang mang đến nỗi phải tra từ điển là vì bản chất mục “văn hoá” trên các báo mạng hoá ra lại toàn những chuyện như thế. Nếu có nói chuyện nước ngoài thì cũng chỉ đến Lady Gaga mặc gì, Britney chở con không cài dây an toàn, bà Beck chườm chân nước đá vì đi giày cao gót…

Hồi trước đại lễ nghìn năm Thăng Long có bàn nên chôn cái gì xuống đất, nghìn năm sau đào lên còn biết văn hoá đời nay. Nếu căn cứ vào những gì các mục “văn hoá” nhiều báo mạng hay nói tới nhất, nên chăng chôn theo một ít áo hở ngực “bạo”, váy xẻ cao “quá táo bạo”, vài bộ ngực “khủng”, cho người đời sau biết cái gì đang bao trùm văn hoá mạng nước nhà.

CH.E

Nguồn:
Câu hỏi cho một số bạn phóng viên “văn hoá”



9/3/11

HÃY LÀM TỪ THIỆN VĂN HÓA



Điểm lại tin tức ở mục văn hoá trong nước nổi bật tuần qua trên một số báo, thấy có:

– Uyên Linh được đề cử giải Cống hiến thế là được hay không?

– Phim nhái Giao lộ định mệnh được đem ra mổ xẻ có xứng tham gia Cánh diều vàng hay xứng bị loại;

– Boysband một thời sắp đến Việt Nam, làm sao tránh cho các anh không bị xây xước vì trận mưa hoa;

– Giải Bài hát Việt, ca sĩ hát xong mất ví mất điện thoại...

Văn hoá xứ mình sao nhiều tiêu cực thế nhỉ? Không phải. Những cái này không phải văn hoá. Đáng ra chỉ là giải trí thôi chứ? Vậy sao nó đều chiếm hết đất của phần văn hoá được nhỉ?

Quay lại tuần trước, tháng trước, rồi bao nhiêu năm nay, thấy “tình hình văn hoá” mà chúng ta đang bàn nếu không là “tình hình” lễ hội, liên hoan… thì sẽ là “tình hình” phim ảnh, ca nhạc, diễn viên, ca sĩ, người mẫu… Những cái này, báo nước ngoài để hẳn trong mục “Giải trí” hay cùng lắm thì “Nghệ thuật”, còn chúng ta thì cho nó nằm chung (và nằm trên cùng) cái gọi là “Văn hoá”. Còn những việc, những người làm nên cái nền văn hoá thì ở đâu? Cũng có, nhưng lâu lâu được xuất hiện, với những tít bài kiểu “Đã khuất một cây cổ thụ/ngọn cờ đầu/một bóng mát”…

Thấy con cháu chúng ta đang sống lai nửa người nửa máy, nửa Tây nửa Tàu nửa ta, thấy cái gọi là “văn hoá nền” đang bị sụp, chúng ta cứ ra sức hô hào bảo vệ văn hoá, phát huy văn hoá. Hô xong rồi đứng loay hoay, cứ như một dòng họ lo sợ mất gốc nhưng lại không dám dành ra một góc trong nhà để làm bàn thờ.

Nhưng của đáng tội, cái gọi là tin văn hoá “xịn” của nước mình đọc cứ như tin về nhà thờ họ, với bát nhang không bao giờ thấy nóng.

Nhưng đành thế, cho dù các bản tin văn hoá của ta sẽ toàn những tin kiểu: giáo sư X đang nghiên cứu về đề tài Y, nhạc sĩ Y đang viết giao hưởng Z... thì có vẻ không hấp dẫn gì thật. Nhưng nghĩ kỹ, các báo cũng nên có một góc, một trang, một mục, cho cái giới ấy chứ? Thử cho một mục nhỏ thôi, để chỉ đưa toàn tin về cái giới gọi là các nhà văn hoá ấy, xem họ có thực sự làm việc không hay chỉ ăn theo cái danh cũ? Hay là họ đang làm việc mà chúng ta bỏ rơi họ về mặt thông tin?

Cứ đưa tin các nhà văn hoá đang làm gì đi, rồi dần dần các nhà ấy mới không thấy mình bị bỏ rơi bởi mình già, mình xấu, mình không mặc được váy ngắn… rồi biết đâu nhờ vậy mà họ thêm sức lực mà cống hiến, mà xây nền tiếp (cho chúng ta tha hồ mà phá).

Nhớ đấy, đừng bắt họ đứng cạnh Uyên Linh hay Giao lộ định mệnh; càng không nên bắt họ đứng cạnh Backstreet Boys, mà cho họ một góc, họ đọc về nhau ĐANG LÀM GÌ, ĐANG NGHĨ GÌ, để họ biết vẫn còn một cộng đồng đó đang sống, đang làm việc. Thí dụ như thầy Bùi Văn Nam Sơn đang dạy triết không công tại nhà, mỗi tuần hai buổi; nhà văn, nhà giáo dục Phạm Toàn đang làm bộ sách về giáo dục; nhà văn Nguyên Ngọc đang chuẩn bị cho mùa tuyển sinh… Nghe chán quá? Nhưng phải có, với cái giới ấy, tin tức ấy cũng hấp dẫn như giá vàng đối với chúng ta vậy.

Báo giấy nhà nghèo, ít đất thì đưa ít thôi. Báo mạng thì đất đai bao la, lâu nay chuyên kinh doanh các loại sao, các loại vòng hờ hững, lộ, kín… vậy chắc cũng đủ giàu rồi, giờ coi như rủ nhau làm từ thiện đi – gọi là từ thiện văn hoá.

Đó sẽ là một miếng đất nhỏ, các báo nên cắn răng xẻo ra để trồng bóng mát thay vì trồng “hoa độc” mãi, rồi các bạn sẽ thấy, việc các bạn làm không phải việc nhỏ đâu. Hãy để các nhà làm văn hoá thực thụ lên tinh thần. Họ lên tinh thần thì con cháu chúng ta được nhờ. Đừng để đến tình trạng như bây giờ, nhắc đến biểu tượng văn hoá của Việt Nam là mọi người nghĩ ngay đến một con rùa đang bị lở.

CH.E

Nguồn:
Hãy làm từ thiện văn hoá



17/2/11

NGẪM CHUYỆN THĂNG QUAN TIẾN CHỨC NHỜ... LỘC ẤN



VŨ LỘC (Nam Định)

Năm nào cũng vậy, đúng vào giờ tý (23 giờ ngày 14 âm lịch đến 1 giờ ngày 15 tháng giêng) sẽ diễn ra lễ phát lộc ấn tại đền Trần (phường Lộc Vượng, TP.Nam Định). Tuy nhiên, khoảng vài năm gần đây thì lễ phát ấn đã gây bức xúc trong dư luận xã hội, bởi không ít người chen lấn kể cả cướp lộc ấn với một mong muốn là được thăng quan tiến chức, phát tài, phát lộc. Sau lễ phát ấn năm 2010 đã có nhiều ý kiến đề nghị bỏ lễ phát ấn, tuy nhiên năm nay tỉnh Nam Định vẫn tổ chức lễ phát ấn. Nhưng trong dư luận vẫn âm ỷ rằng “có ấn mới dễ thăng quan”.

Vào thời điểm còn cả tuần mới đến khai lễ phát ấn, thế mà tôi (đang sinh sống và làm việc tại TP.Nam Định) đã nhận được không biết bao nhiêu cú điện thoại của người thân thì ít mà bạn bè, quen biết cùng ngành ở T.Ư nhờ vả thì nhiều. Sau vài lời hỏi thăm xã giao đầu năm là họ đặt thẳng vấn đề nhờ tôi “cắm” người vào dự lễ để làm sao có được lộc ấn, giá bao nhiêu cũng mua, nhất là phải lộc ấn được phát ra vào thời khắc - giờ tý - phải được phát ra từ Ban tổ chức, chứ không phải lộc ấn bán tràn lan.

Tôi hỏi: “Các ông tin là có lộc ấn là được thăng quan tiến chức à? Mấy ông bạn là quan nhỏ hệ công chức thì dè dặt hơn, rằng thôi thì “có thờ có thiêng”, mấy ông trong bộ nhờ có lộc ấn đền Trần thăng chức nhanh lắm. Mấy ông là giám đốc doanh nghiệp thì mong phát tài, thu được nhiều tiền trong năm...

Người bạn thân nhất hồi đại học còn tiết lộ về đường thăng quan tiến chức của người bạn thuở hàn vi: Ông còn nhớ thằng X quê Phú Thọ không. Năm ngoái nó thuê một thanh niên người địa phương giật được chiếc lộc ấn. Trong năm nay nó được đề bạt lên chức phó phòng mà tài năng chẳng có gì nổi trội cả. Dây của nó - sếp trưởng lên quan, nó ngồi ngay vào vị trí ấy. Nhắc đến X, tôi liền gọi ngay đến mấy người bạn đang công tác cùng vụ với X thì mới hay đường thăng quan tiến chức của X thật đơn giản, tuân thủ phương thức “trung thành, nhẫn nhịn và chịu khó cung phụng”, cho dù việc bổ nhiệm X trong vụ đã gây những “sóng gió” trong cơ quan.

Dăm năm trước, là người sống tại Nam Định tôi thấy lễ phát lộc ấn đền Trần có gây gì tai tiếng trong xã hội đâu, không hiểu vài ba năm gần đây, chẳng hiểu dư luận đồn thổi kiểu gì mà các cán bộ công chức, giám đốc cũng ầm ầm đổ về đền Trần để xin lộc ấn. Đặc biệt tại lễ phát ấn năm 2010 đã xảy ra cướp giật ấn để mong đường công danh hoan lộ.

Tại nhiều kỳ họp QH, đại biểu Lê Văn Cuông (Thanh Hóa) đã nhiều lần làm nóng nghị trường về chuyện chạy quan chạy chức trong hệ thống các cơ quan nhà nước. Ai cũng thấy điều ấy vì đạo đức, năng lực của người được đề bạt chính là thước đo chính xác nhất. Nhưng để xử lý ư? Bằng chứng đâu? Đành chịu và chấp nhận một sự tồn tại hiển nhiên của tệ nạn chạy chức chạy quyền. Không có bằng cấp thì mua, muốn được cấp trên nâng đỡ đề bạt thì chịu khó “cống nộp”. Những người không có tài năng, năng lực thì họ đành lựa chọn kiểu “chạy” để thăng quan, tiến chức. Khi đã yên vị ghế quan chức thì bắt đầu họ phải cố thu lại đủ những gì đã bỏ ra và bắt đầu “hành trình” hành cấp dưới.

Mặc dù lễ khai ấn đền Trần năm nay được lãnh đạo tỉnh Nam Định chỉ đạo khá công phu, mở tới 75 bàn phát ấn tại ba điểm, nhưng điều đó cho thấy sự “biến tướng” về ý nghĩa sâu sắc của lễ hội truyền thống của dân tộc và như vậy Ban tổ chức lễ hội đã thể hiện mục đích là đáp ứng nhu cầu xin ấn của người dự lễ chứ không tổ chức một lễ hội truyền thống đúng nghĩa.

Trước giờ khai ấn đền Trần năm 2011, PGS-TS văn hóa dân gian Trần Đức Ngôn day dứt: Thương mại hóa ấn đền Trần sẽ gây nên nhiều bất ổn trong xã hội. Trải qua thời gian, ý nghĩa lễ khai ấn ngày càng mở rộng và trở thành một tín ngưỡng của cả dân tộc mang theo sự thịnh vượng. Ý nghĩa linh thiêng nhất của lễ khai ấn là ở thời khắc đóng ấn cầu cho quốc thái dân an. Và trong thời khắc thiêng liêng ấy, người ta cũng chỉ đóng một số lượng ấn có hạn, thậm chí chỉ đóng một lần để khai mở ra những may mắn bắt đầu cho một năm mới.

Thế mà Ban tổ chức lễ khai ấn đã phát hành hàng ngàn lộc ấn - phải chăng đó cũng là một vấn đề mà lãnh đạo tỉnh Nam Định cũng nên... rút kinh nghiệm để tổ chức được lễ khai ấn: “Là để mở đầu cho một năm mới với mong muốn may mắn, an khang thịnh vượng, cầu xin trời đất mưa thuận gió hoà, quốc thái dân an, mùa màng bội thu, chứ không phải ý nghĩa chính nằm ở chỗ cầu cho mỗi cá nhân có thể thăng chức, nhiều tiền, nhiều lộc. Đó chính là những điều mà người ta hiểu sai về ý nghĩa của lễ khai ấn đền Trần” - theo như ý kiến của PGS-TS Trần Đức Ngôn.


Nguồn:
Ngẫm chuyện thăng quan tiến chức nhờ... lộc ấn



20/12/10

TRÀ ĐẠO NHẬT BẢN


Xung quanh sự xuất hiện của trà bao phủ nhiều huyền thoại. Có vẻ hợp lý và đáng tin hơn cả là sự phát hiện tình cờ thứ nước uống huyền diệu này dưới thời Thần Nông, vị quân vương trị vì miền nam Trung Hoa từ 2737 đến 2697 trước công nguyên. Thời đó, người Hoa đã có thói quen đun sôi nước trước khi uống. Một lần Thần Nông ra lệnh đặt bếp đun nước cho ông dưới một gốc cây. Gió thổi, khiến lá từ trên cây rơi vào nồi nước. Thần Nông vô cùng ngạc nhiên, khi thấy nước có mùi vị rất dễ chịu. Từ đó ông thường xuyên uống nước pha chế với thứ lá này và không những thế còn ra lệnh cho toàn dân sử dụng.

Lịch sử Trung Hoa cho thấy thời Tam Quốc (220-280) trà đã trở thành một yếu tố không thể thiếu trong đời sống của người dân. Đến thời Tấn (265-420) xuất hiện những quán trà và người ta thưởng ngoạn trà tập thể. Người Hoa cổ đại coi trà là thứ uống chữa bệnh, giảm mệt mỏi, tăng cường sinh lực và thị lực, chống phong thấp. Nhờ công dụng tuyệt vời như vậy mà trà phát triển rộng sang các nước lân bang, mà Nhật Bản và Mông Cổ là những nước đầu tiên chịu sự ảnh hưởng này.

Từ thế kỷ thứ VI, Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn đến quần đảo Nhật Bản, đặc biệt là Phật giáo, văn hóa và triết học Khổng Tử. Quan hệ giữa hai nước đạt đến đỉnh cao trong thời đại nhà Đường (618 – 907). Thời này hạt cây chè được chuyển sang Nhật và nhà sư Saikho ươm trồng trên đất Nhật. Đến thời Nara (Bình an thời đại) ở Nhật Bản, nhiều ngôi chùa đã cho trồng chè, các nhà sư thu hoạch chè, tìm cách chế biến và đặt nền móng cho văn hóa sử dụng trà của Nhật Bản. Vào thế kỷ thứ VIII, các nhà sư đã sáng tạo ra nghi thức uống trà như một nghi lễ tôn giáo. Dần dần thói quen uống trà lan đến hoàng cung và nhà vua cho tổ chức những buổi lễ thưởng trà với sự tham gia của nhiều quan đại thần.

Nhưng phải đến cuối thời Kamakura (Liêm thương thời đại – 1185-1333), trà mới trở thành thứ nước uống bình dân, được dùng rộng rãi trong dân chúng. Đây cũng là thời mà quan hệ giữa Trung Hoa và Nhật Bản phát triển mạnh mẽ. Năm 1187, vị thiền sư nổi tiếng Nhật Bản Minh Am Vinh Tây (Myon Eisai – 1141-1215) đến Trung Hoa và lưu lại đó trong 4 năm. Khi trở về nước, ông cho thành lập giáo phái thiền tông và một trong những điểm quan trọng trong phép tắc của giáo phái chính là việc sử dụng trà.

Chính Minh Am Vinh Tây là người dạy dân Nhật cách chế biến và pha chế trà: lá trà được sao khô, tán thành bột mịn và hãm trong nước sôi. Nhưng những chỉ bảo của Vinh Am Minh Tây cũng vấp phải sự phản ứng dữ dội từ những người theo tôn giáo cũ của Nhật Bản là thần giáo. Tuy nhiên, công lao to lớn của ông trong việc phổ biến trà chính là việc ông đã biên soạn ra bản khái luận đầu tiên về trà có tên gọi Khiết trà dưỡng sinh kí, dày khoảng 20 trang. Minh Am Vinh Tây chỉ rõ rằng trà là phương thuốc chữa nhiều căn bệnh như tê liệt, rối loạn tiêu hóa, suy nhược cơ thể, biếng ăn. Các nhà sư Nhật Bản còn coi trà là một phương thức thiền và phương thuốc, khiến trà ngày một phổ biến rộng hơn. Cây chè được trồng ở hầu hết các địa phương của Nhật Bản. Từ thế kỷ XVI trà đã trở thành thức uống hàng ngày, đặc biệt là trong giới quý tộc samurai.

Giai đoạn của những cuộc nồi da xáo thịt liên miên từ thế kỷ XII đến XVI đã khiến giới samurai trở thành một thế lực mạnh trong xã hội Nhật Bản. Một trong những tục lệ của giới này là tổ chức những buổi uống trà với sự tham dự đông đảo của bạn bè, người thân, ở đó họ thường cùng chơi một trò chơi xuất hiện ở Trung Quốc dưới thời nhà Tống và du nhập vào Nhật Bản cuối thời mạc phủ Kamakura: Samurai và bạn bè của họ thi phân biệt các loại trà qua mùi vị, thi kiến thức về các vùng trồng chè, cách thức canh tác và chế biến... Người thắng cuộc nhận được những phần thưởng có giá trị.

Đến nửa đầu thế kỷ XIV, tại Nhật Bản đã hình thành một phong cách uống trà mới, được coi là hình thức sơ khai của Chanoyu – nghi lễ uống trà cổ truyền của người Nhật bao gồm 4 bước (hoài thạch, trung lập, ngự tòa nhập, trà loãng), thường kéo dài khoảng 3-4 giờ đồng hồ. Đây cũng là giai đoạn mà trà trở nên phổ biến đối với dân chúng. Trong các cộng đồng dân cư bình thường cũng bắt đầu thịnh hành trò chơi thi đố về trà nêu ở trên. Còn giới quý tộc thì xuất hiện hình thức vừa uống trà vừa tắm.

Từ nửa cuối thế kỷ XV thú uống trà trở nên ngày một thịnh hành trong tầng lớp trên của xã hội Nhật Bản. Những người giàu có tự xây cất cho mình trà thất – đó là những ngôi nhà nhỏ nằm trên phần đất nhà mình. Đến cuối thế kỷ này, người ta lại ưa thích uống trà trong những căn phòng nhỏ có diện tích khoảng 7 mét vuông, trang trí không cầu kỳ. Những phòng trà kiểu này đem lại cảm giác ấm cúng thích hợp với tinh thần thiền của Phật giáo.

Ý tưởng xây dựng trà thất thuộc về Murata Shuko (1422-1502) – người được dân Nhật coi là cha đẻ nghi thức uống trà vì ông chính là người đầu tiên đề ra những yếu tố chủ chốt của nghi thức này. Tuy nhiên, ông lại là người phản đối dữ dội hình thức vừa uống trà vừa tắm, vì cho rằng nó không phù hợp với quan điểm của thiền. Ông đã rất nỗ lực trong việc cổ súy để nghi thức uống trà giản tiện đến mức tối đa, đưa các dụng cụ của Nhật thay thế đồ Trung Quốc và phổ biến quan niệm người chủ nghi lễ uống trà phải phục vụ khách của mình.


Chanoyu

Sang thế kỷ XVI, nghi thức uống trà được phát triển hoàn chỉnh thành Chanoyu – nghi thức được mọi tầng lớp trong xã hội thừa nhận. Giới samurai coi đó là cách thức để thoát khỏi những ẩn ức tích tụ trong những trận huyết chiến diễn ra như cơm bữa trong cuộc sống của họ. Đó là những giây phút họ được thư dãn và tận hưởng những khoảnh khắc yên bình hiếm hoi.

Sau khi Shuko mất, sự nghiệp của ông được Takeno Jyoo (1502-1555) tiếp nối. Ông là một nhà thơ trác tuyệt, đồng thời cũng là một nhà thuyết giảng thiền đạo. Buông đao kiếm, ông đi tu và trở thành nghệ nhân hàng đầu về trà. Một trong những đam mê của ông là sưu tập các dụng cụ cổ dùng để pha trà và thưởng ngoạn trà. Ông quan niệm rằng, theo tinh thần thiền, không nhất thiết phải dùng những dụng cụ đắt tiền, mà nghi thức dùng trà phải phản ánh “sự rối loạn một cách tự nhiên” và “vẻ đẹp của sự bình dị”.Tư tưởng của Jyoo lan rộng tới tận kinh thành Kyoto và thu hút được một số lượng lớn người đi theo.

Người sáng lập ra nghi thức trà còn tồn tại cho đến ngày hôm nay là Senno Rikyu (1521-1591). Ông được tôn vinh là bậc thầy của trà đạo Nhật vì đã đưa ra những quy định chủ yếu về thẩm mỹ và đạo đức của trà đạo. Trà – thứ uống bắt nguồn từ Trung Hoa, thâm nhập vào Nhật Bản đã trở thành một nét đẹp văn hóa truyền thống riêng kết hợp những giá trị tinh thần của người Nhật với thiền của Phật giáo có sức sống mãnh liệt đến tận ngày hôm nay.





16/12/10

NGƯỜI VIỆT XẤU XÍ (2)



CẢNH THÁI

4. Dễ rơi vào trạng thái tôn sùng các giá trị vật chất

Hiện tượng tôn sùng tài sản vật chất hơn là các giá trị nhân văn hay các truyền thống tốt đẹp của nhân loại xuất hiện ngày càng nhiều trong mọi tầng lớp xã hội, kể cả tầng lớp trí thức, có học.

Các tội phạm tham nhũng, tội ác phi nhân trong các câu chuyện có thực ngày càng nhiều, mà người gây án là các quan tham hay những người có ăn học và được đào tạo bài bản. Những người sinh ra không hẳn đã sống thiếu thốn vật chất lại được hưởng nhiều ưu đãi, đặc quyền, đặc lợi, nhưng nay không phải vì thiếu miếng cơm, manh áo vẫn cố tình phạm tội (Xem vụ án Nguyễn Đức Nghĩa ai cũng phải rùng mình, kinh sợ).

Do bản năng tham lam, tham vọng và dục vọng cá nhân lớn hay do môi trường sống thay đổi đã cổ vũ cho việc sùng bái vật chất này?

Sống gấp, sống ích kỷ vội vã, chỉ biết lo cho bản thân, chạy đua theo các giá trị vật chất, sống hưởng thụ bất chấp hậu quả tai tiếng về sau. Chưa kể các khiếm khuyết trong hệ thống bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người và phát triển hệ thống an sinh xã hội cho mọi thành phần người dân, kể cả các tầng lớp nghèo khổ và chịu thiếu thốn thiệt thòi nhất.

5. Tính kỷ luật trong lao động và đời sống pháp luật chưa cao


Hiện tượng vượt đèn đỏ trong giao thông, không bỏ rác vào nơi qui định, luôn muốn “luồn lách” và qua mặt pháp luật nếu có điều kiện hay ở những nơi chốn thiếu sự giám sát của các cơ quan pháp luật hoặc cấu kết với các cá nhân trong các cơ quan quản lý nhà nước để trục lợi và tạo ra quyền lợi nhóm hay nhóm lợi ích.

Một số “rường cột” của xã hội là “gia đình” và “nhà trường” hay “quan trường” cũng chịu tác động ghê gớm. Các vụ bạo hành trong gia đình và nhà trường hay tham ô tham nhũng trong quan trường xảy ra càng lúc càng nhiều; các tội ác ngày càng rùng rợn, các kẻ thủ ác thì không còn là đói ăn hay thất học hay bần cùng sinh đạo tặc nữa mà đã lan tràn đủ mọi thành phần.

Có người nói về sự khác biệt giữa người Việt “thông minh” và người Việt “khôn ranh” và kết luận là có thể chúng ta “khôn ranh” thôi chứ đừng vội nghĩ rằng “ta đây là dân tộc thông minh”.

6. Văn hóa chịu trách nhiệm, xin từ chức chưa hiện diện trong đất nước ta

Khi được trao quyền, ủy quyền, với niềm tin lớn, kỳ vọng lớn, trách nhiệm lớn, người ta phải hiểu nghĩa vụ khi không hoàn thành nhiệm vụ được giao. Khi một người không hoàn thành trách nhiệm, việc từ nhiệm là bình thường, đó là sự bảo đảm cho uy tín, danh dự với lời hứa ban đầu, trọng trách ban đầu đặt ra.

Để ngụy trang, ngụy biện, biện minh cho thất bại, người ta thường hay nói về sự “đồng thuận” hay “trách nhiệm tập thể” và sau cùng là “huề cả làng”! Vì không thể truy cứu trách nhiệm “tập thể” hay sự khôn ngoan hoặc ngu dại đã giúp con người che dấu khuyết điểm trong một ốc đảo có tính “tự lừa dối” lẫn nhau.

7. Dễ thỏa hiệp và tìm kiếm thỏa hiệp để đạt mục đích mưu cầu tư lợi cá nhân

Do xã hội đã hình thành một số tầng lớp giàu có, mua quan bán chức, đi lên không phải bằng nỗ lực phấn đấu lao động và học tập siêng năng cần cù mà bằng sự nâng đỡ của “cha anh”, bạn bè phe nhóm thân hữu nâng đỡ nhau, tạo ra một sự bất bình đẳng, tạo suy nghĩ sùng bái các giá trị vật chất, “mười năm phấn đấu, không bằng cơ cấu một lần”. Suy nghĩ không cần học tập phấn đấu chi cho vất vả, chỉ cần có quan hệ thân hữu là được, chỉ cần có tiền là mua cái gì cũng xong.

Xây dựng mối quan hệ thân hữu, quyền lực nhóm: bắt tay nhau triệt tiêu các tiếng nói thiểu số khác trong cộng đồng, xây dựng các nhóm quyền lực lớn dần, vượt trội dần và tới lúc nào đó sẽ có tiếng nói lất át cả các lý lẽ và pháp luật. Khi “anh cũng vi phạm, tôi cũng vi phạm” thì không có lý do gì chúng ta buộc tội nhau, tố cáo lẫn nhau, làm hại lẫn nhau! Mà nên bắt tay nhau.

Khi sai phạm xảy ra ở các cấp, mọi nơi, con người trở nên chán nản, cảm thấy việc sai phạm là “bình thường”, đương nhiên, không màng quan tâm tới, không bình luận, không dám phản bác, nghĩ rằng các phản bác là vô tác dụng, dễ bị chụp mũ, dễ bị trù dập, quá lo sợ, và chấp nhận “thỏa hiệp”, .v.v. Điều này tạo nên một xã hội “vô cảm” lúc nào không hay.

Trong công việc, mỗi khi gặp khó khăn hay vi phạm pháp luật, người ta thường nghĩ nên “gõ cửa” ở đâu, gặp “anh Hai, anh Ba” nào để được giúp đỡ ?! Muốn làm việc gì, khởi sự một việc kinh doanh, người ta thường nghĩ là “để làm được việc này, tôi quen biết với những ai, tôi có mối quan hệ quan trọng nào trong lĩnh vực này?” hơn là chuẩn bị tốt về sản phẩm hay dịch vụ khách hàng .v.v.

Nạn “mua quan, bán chức” trở nên vấn nạn vì ai đó trong chúng ta đều đã có dịp nghe qua về việc này, đâu đó tại chính địa phương mà ta đang sống. Điều đó phản ánh một vấn nạn thực sự, một phát triển nguy hiểm của xu hướng thỏa hiệp, tìm kiếm thỏa hiệp và mưu cầu danh lợi.

Khi đó tội ác có thể ngày càng công khai và mỉm cười ranh mãnh trước sự bất lực của toàn xã hội như một sự trả giá cho những sai lầm của chính mỗi con người hèn yếu trong chúng ta. Và cho những ai nhất thời đắc ý rồi cũng sẽ lại rơi vào chu kỳ khác, khi thời thế của kẻ đắc ý đã qua, con cháu của anh ta rồi vẫn sẽ phải tiếp tục sống trong môi trường “thỏa hiệp” mà anh ta đã vô tình hay hữu ý dựng nên, thế hệ sau này vẫn sẽ phải tiếp tục sống trong môi trường “thỏa hiệp” cấu kết với nhiều phe nhóm nếu không sẽ bị thải loại.

Môi trường có tính thỏa hiệp này, tới phiên nó, sẽ như một bánh xe lịch sử lớn và lớn hơn, nghiền nát mọi nỗ lực hướng tới các giá trị “chân thiện mỹ” mà con người luôn mơ ước.

8. Dễ suy nghĩ chủ quan, chú trọng yếu tố chủ quan hơn khách quan

Chúng ta ngạc nhiên và khâm phục trước tài năng xuất chúng và thành quả của Giáo sư Ngô Bảo Châu với giải thưởng toán học Fields nhưng chưa xây dựng được môi trường làm việc tốt để tương lai có thêm nhiều người Việt đạt thành quả tương tự.

Trong khi các quốc gia như Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, .v.v. có rất nhiều nhà khoa học đạt tới các đỉnh cao trí tuệ của nhân loại và điều đó được xem là hệ quả bình thường và tất yếu do “phương pháp” và cách tổ chức thực hiện mang lại.

Tương tự, có người sẽ rất ngạc nhiên nếu Việt Nam có một Bill Gates, nhưng sẽ không ngạc nhiên nếu nước Mỹ ngày càng có thêm nhiều tỉ phú về các sản phẩm khoa học công nghệ. Lý do có thể là tại Mỹ có đầy đủ các “điều kiện cần và đủ” để tiếp tục sản sinh các Bill Gates mới.

Khi các giá trị vật chất mà người ta dễ dàng đạt được không thông qua sức lao động sáng tạo vất vả cần cù, mà chỉ là sự trao đổi, mua bán, ngã giá, con người dễ rơi vào trạng thái suy nghĩ mơ hồ, lý giải và dựa dẫm vào yếu tố “tâm linh” là chủ yếu.

Lúc này, không phải là yếu tố đức tin tôn giáo, triết lý biện chứng duy vật hay duy tâm, hay “khoa học huyền bí” ngoài tầm với của khoa học kỹ thuật đương đại mà là sự cứu chuộc cho bản thân, sự tính toán an bài cho các “tội lỗi quá khứ”, sự sợ hãi trước “luật nhân quả”, thông qua việc cúng bái lễ vật đắt tiền kiểu nhà giàu, xây dựng lăng mộ hoành tráng, mượn các hành động từ thiện như để khỏa lấp phần nào các yếu tố nhân quả trong đời sống xã hội.

Điều này có thể được thấy với hàng đoàn xe ô tô đắt tiền trong đó có nhiều xe mang bảng số nhà nước, nối đuôi xếp hàng mang lễ vật “hoành tráng” tới cúng chùa, xem bói vào các dịp lễ Tết.

Ảnh: Bẻ hoa tại lễ hội hoa Anh đào.

Nguồn:
NGƯỜI VIỆT XẤU XÍ Ở ĐIỂM NÀO - PHẦN 2

Entry liên quan:
NGƯỜI VIỆT XẤU XÍ (1)



14/12/10

NGƯỜI VIỆT XẤU XÍ (1)



CẢNH THÁI

1. Khả năng làm việc theo nhóm kém, tinh thần đồng đội chưa cao, tính cách sống vì cộng đồng chưa trưởng thành:

Người Việt thường hoàn thành tốt các công việc của cá nhân, nhưng khả năng gánh vác công việc cộng đồng, công việc chung kém, trách nhiệm cá nhân đối với cộng đồng kém.

Các học sinh Việt Nam thường chịu khó làm bài tập của mình rất siêng năng và làm tốt các bài tập được giao cho cá nhân. Thế nhưng bài tập chung của nhóm thường bị đùn đẩy trách nhiệm cho người khác làm, khả năng ngồi lại với nhau để thảo luận nhóm, đóng góp ý kiến cho một thành quả chung tích cực hơn thường bị xem nhẹ.

Tại các doanh nghiệp, các công nhân và nhân viên người Việt cũng “nổi tiếng” khó phối hợp đồng đội (teamwork) tốt, khó có hiệu quả hợp tác cao trong các công việc được cấp trên giao.

Tại mỗi khu phố, khu dân cư, nếp sống vệ sinh chung thường rất kém. Người ta chú ý quét dọn sạch sẽ nơi khuôn viên của gia đình mình, trong khi các diện tích chung, công cộng thường chịu việc xả rác, vứt bỏ các thứ linh tinh làm ô nhiễm môi trường chung.

Trên đường phố Việt Nam, chúng ta không khó bắt gặp các hình ảnh xả rác, chen lấn tranh giành nhau khi tham gia giao thông hoặc tại các cơ quan công quyền mà người dân phải xếp hàng lộn xộn, chờ chực trong một mớ hỗn độn, rất thiếu khoa học. Thậm chí ngay tại công sở tại TP.HCM, nếu bạn có việc phải xin giấy phép, đổi giấy phép hay giấy tờ liên quan, việc chen lấn chờ đợi vô trật tự (phần do cách làm việc không khoa học và diện tích khuôn viên chật chội trong khi khối lượng công việc nhiều với hàng trăm, hàng ngàn con người có nhu cầu đến liên hệ công tác tại đây hàng ngày). Điều này thể hiện một tư duy bon chen, chụp giật, không có kế hoạch, tổ chức và tầm nhìn dài hạn.

Tại các nhà ga, bến xe, hàng không, hàng quán, nhà hát, công viên công cộng, .v.v. chúng ta càng thấy rõ ý thức vì cộng đồng của người Việt thực sự chưa trưởng thành. Trách nhiệm trước mắt có thể thuộc về các cá nhân lãnh đạo tại các đơn vị này, sau đó là ý thức chấp hành của mỗi người dân trong cộng đồng và khả năng tổ chức phối hợp làm việc theo nhóm vì tinh thần cộng đồng, vì công việc chung còn nhiều điều chưa tốt.

2.Tư duy tiểu nông gắn chặt với quá khứ một dân tộc làm nông nghiệp lâu đời:

Các thửa ruộng nhỏ lẻ, được các đời cha ông tiếp nối và chia tách ra làm nhiều miếng nhỏ dần cho các đời sau. Làm ăn manh mún, nhỏ lẻ, lạc hậu và bảo thủ theo kiểu tư duy xưa vẫn còn “con trâu đi trước cái cày theo sau”, thiếu liên doanh liên kết, thiếu sự hợp tác đôi bên cùng có lợi.

Bên cạnh đó, lòng đố kỵ, ích kỷ, ganh ghét, không muốn người khác hơn mình, dấu nghề, không mạnh dạn chia sẻ kinh nghiệm với mọi người, thậm chí anh em, người thân trong nhà cũng không san sẻ, giúp đỡ, “cho tiền cho bạc, không ai chỉ đàng làm ăn”!

Xong việc của mình là xem như xong, không quan tâm người khác hay bà con láng giềng làm ăn ra sao. Tư duy “hợp tác xã” một thời, nửa đêm không ai muốn thức dậy xả nước cho thửa ruộng chung, ảnh hưởng đến lối suy nghĩ và hành động “cha chung không ai khóc”, tị nạnh nhau các công việc của chung cộng đồng. Thậm chí, xuất hiện lối suy nghĩ “sống hôm nay, biết hôm nay”, bất chấp ngày mai ra sao!

Điều này dễ dẫn tới việc biển thủ, ăn cắp của công cả “tài sản vật chất và thời gian” trong các doanh nghiệp nhà nước bất chấp hậu quả là doanh nghiệp nhà nước có thể trở thành “con bò sữa của chung” mà mạnh ai nấy vắt sữa, khai thác đến mức kiệt quệ.

Tư duy “ăn xổi ở thì” dễ nổi lên lấn át, tư duy ngắn hạn, nghĩ đến quyền lợi cục bộ, mưu cầu tư lợi ngắn hạn hơn là phát triển dài hạn, phát triển bền vững cho cả cá nhân và cộng đồng.

3. Dễ dàng thỏa mãn với những thành công nhỏ:

Tư duy truyền đời kiểu “học thành tài” ăn sâu vào suy nghĩ thay thế cho tư duy tiến bộ hơn “học tập và làm việc phấn đấu, cống hiến suốt đời”. Các cá nhân học giỏi, xuất sắc không thiếu nhưng các thành quả khoa học, các phát minh thành tựu lớn trong hầu hết các lĩnh vực hầu như chưa sánh bằng các quốc gia khác, phần vì thiếu môi trường cho người tài, phần vì các cá nhân xuất sắc trong cộng đồng đã thỏa mãn với thành công nhỏ ban đầu so với mọi người trong “làng xóm nhỏ” xung quanh nên không chịu phấn đấu học tập liên tục và không có cơ hội phát triển lên tầm cao mới hay đạt tới trình độ và đẳng cấp thế giới.

Điều này xảy ra trong hầu hết các lĩnh vực như khoa học kỹ thuật, công nghệ, ứng dụng và sáng tạo, phát minh và sáng chế, văn hóa và thể thao... khi Việt Nam chưa có tên trên bản đồ các thành tựu lớn của thế giới vì số lượng các thành tích ở tầm cỡ thế giới còn quá ít so với các quốc gia khác.

Một số người du học nước ngoài cho hay, khi học phổ thông hay đại học, các sinh viên bạn thường không giỏi các môn học cơ bản; nhưng khi vào nghiên cứu ứng dụng, họ rất xuất sắc và sinh viên ta thường không theo kịp. Có lẽ tư duy học “thành tài” đã sớm làm chậm hay thiêu chột sức sống và khả năng học hỏi, phát triển liên tục của sinh viên ta (?).

Trong thương trường, các doanh nhân Việt Nam cũng có nhiều hạn chế trong việc phát triển doanh nghiệp; thường chạy theo các hợp đồng mua bán có tính thời vụ, dựa vào ưu thế “quen biết”, mối quan hệ thân hữu để giành lấy công việc trước mắt, ít có doanh nghiệp xây dựng kế hoạch dài hạn, có tầm nhìn xa, chú ý phát triển sản phẩm có chất lượng cao, có thương hiệu vươn lên tầm cỡ thế giới.

Các doanh nghiệp Việt Nam thường qui mô nhỏ và rất nhỏ, làm việc thiếu chuyên nghiệp, thiếu hợp tác phối hợp. Khi lớn lên một chút thì đã phân chia ra thành các doanh nghiệp nhỏ hơn do bất đồng quan điểm hợp tác hoặc muốn làm riêng thu lợi một mình, hoặc đã sớm thỏa mãn với thành công nhỏ đạt được. Các doanh nghiệp lớn chủ yếu chỉ là doanh nghiệp nhà nước khai thác dầu khí, khai khoáng mỏ, độc quyền về kinh doanh ngành nghề như điện lực, viễn thông, ngân hàng...

(còn tiếp)

Ảnh: Một cảnh trong phim về đề tài bạo hành gia đình.

Nguồn:
Người Việt xấu xí ở điểm nào?



 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết