Hiển thị các bài đăng có nhãn âm nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn âm nhạc. Hiển thị tất cả bài đăng

4/9/11

LÊ VIỆT ANH TRƯỢT GIẢI NHẤT SAO MAI 2011


Lương Nguyệt Anh

PHONG CÁCH THÍNH PHÒNG

1. Vũ Thắng Lợi

Áp lực là người mở màn đã thể hiện rõ trong giọng hát kém phong độ và thiếu lửa của thí sinh mà tôi đặt nhiều kỳ vọng là sẽ đứng đầu dòng nhạc này.

Ca khúc bắt buộc "Giấc mơ mùa lá" của nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng được Lợi hát bằng một giọng sáng, khá tình cảm. Nhưng Lợi đã làm hỏng ở nốt cao nhất. Bài này được Lợi xử lý hiền lành quá, hoàn toàn không có đột phá gì.

Bài thứ 2 là "Giá em đừng yêu anh" của Phạm Tuyên, lời thơ: Bùi Văn Dung. Bài này rất ít người hát, trước kia chỉ có cố ca sĩ Ngọc Tân trình bày thành công. Lợi hát bài này rất chênh vênh, thiếu độ da diết và nồng nàn. Tôi hơi ngạc nhiên, vì Lợi chọn bài này mà lại hát không hề hay. Câu kết cũng bị hỏng nốt cao.


2. Đào Tố Loan

Loan mở đầu bài "Có một dòng sông trong lành" của An Thuyên rất ấn tượng, mặc định ngay cô đang thi thể loại thính phòng. Nhưng câu thứ hai thì bị xỉn. Cô có nhược điểm là lấy hơi to quá, nhiều chỗ hát không rõ lời, những nốt cao hát bị hụt hơn.

Trong bài tự chọn "Cô gái vót chông" của Hoàng Hiệp, Loan có cách xử lý khác hẳn khuôn mẫu đã nằm lòng bao nhiêu thế hệ mà NSND Tường Vi tạo dựng ra. Ở bài này, cô thể hiện rõ bản lĩnh sáng tạo của mình. Đáng tiếc, là giọng của Đào Tố Loan trong bài này lại không có cá tính riêng.

3. Nguyễn Khánh Ly

Khánh Ly là ca sĩ lọt vào vòng chung kết nhờ phiếu bình chọn của khán giả (không rõ có phải khán giả thực sự bình chọn cho cô hay không). Tuy nhiên, một BTV âm nhạc nói với tôi rằng giọng hát của cô rất hay, chỉ có điều bản lĩnh sân khấu chưa có mà thôi.

Vì vậy mà tôi mong chờ màn đột phá của cô.

Khánh Ly hát bài bắt buộc "Hoa tím cung đường" của Đức Trịnh. Cô có giọng khá lạ, giọng này hát nhạc nhẹ chắc hay hơn hát thính phòng. Đoạn mở đầu cô hát rất hay, các đoạn phiêu cũng vậy. Nhưng có điều lạ là cô cứ hát lời là y như rằng bài hát trở nên tẻ ngắt.

Cả bài "Lời ru cho anh" của Phạm Đình Sáu cũng được Ly hát theo kiểu như vậy. Có lẽ cô biết điểm yếu của mình khi hát lời, nên dành nhiều thời gian để phiêu. Nhưng phiêu hơi nhiều, đâm ra thành lạm dụng.

Dự đoán: Hơi khó, vì không có ai thực sự nổi bật. Có thể Đào Tố Loan sẽ hơn điểm nhờ xử lý "Cô gái vót chông" theo cách riêng, tương đối chấp nhận được.

PHONG CÁCH DÂN GIAN

Các thí sinh thi phong cách dân gian bao giờ cũng được tôi mong đợi nhất, bởi đây là dòng nhạc dễ nghe nhất nhưng để hát hay lại rất khó. Hơn nữa các nữ thí sinh hát dòng nhạc dân gian những năm gần đây rất xinh. Bùi Lê Mận - giải Nhất Sao Mai 2009 là một ví dụ.

1. Nguyễn Thị Phương Thanh

"Cung đàn Thúy Kiều" của Ngọc Thịnh mang âm hưởng dân ca Nghệ Tĩnh. Nhưng không hiểu do sáng tác, hay do cách hát của... mà bài này thiếu hẳn độ ngọt ngào, sâu lắng vốn có, tiêu biểu cho dân ca Nghệ Tĩnh.

Ở ca khúc tự chọn, Phương Thanh tiếp tục chọn âm hưởng dân ca Nghệ Tĩnh qua "Hết giận rồi thương" của Tiến Dũng và Hoàng Lương. Ở bài này, cô khắc phục được nhược điểm đã mắc trong bài trước: bài hát trở nên sâu lắng hơn, đa tình hơn. Đáng tiếc là hai ca khúc cùng một màu, khiến Phương Thanh không thể hiện được sự đa dạng trong giọng hát của mình. Đã thế cả hai bài hát đều không có cao trào.

2. Nguyễn Thị Bích Hồng

Hát "Chiều phủ Tây Hồ" của Phú Quang, thơ Thái Thăng Long là một thách thức đối với bất cứ ca sĩ nào. Bích Hồng ngồi giữa sân khấu như hát ả đào, tạo ấn tượng tốt về mặt hình ảnh. Trong tiếng đàn đáy khắc khoải, cô thể hiện đoạn đầu khá tốt. Tuy nhiên, giọng của Hồng khá mỏng, đã thế có những đoạn cô luyến láy điệu một cách bất thường, khiến bài hát như đãi ra. Nhưng dù sao cũng nên biểu dương Hồng vì đã có cố gắng xử lý bài hát theo một cách mới hơn.

Hồng chọn "Nhớ về quê mẹ" của Vân Đông với âm hưởng hò Huế như một cách lấy lòng khán giả cố đô (vòng chung kết Sao Mai năm nay diễn ra ở Huế). Nhưng tiếc thay bài hát của cô lại ít chất Huế quá. Không biết do Hồng không bắt chước được giọng Huế, hay cô cố tình dùng giọng Bắc để hát một bài hát về Huế, mà khán giả như tôi nghe cô cứ có cảm giác đang ăn món "giả cầy".

3. Lương Nguyệt Anh

Ở "Lời ru" nhạc: Lê Minh, lời: Hoàng Hạnh, phải ghi nhận rằng Nguyệt Anh đã có một bài hát ru ngọt ngào, điểm xuyết khắc khoải cần thiết. Chất dân gian được cô thể hiện rất rõ nét, cộng thêm với cách xử lý khá thông minh.

Dàn nhạc dây chơi đoạn dạo đầu cho "Làng quan họ quê tôi" của Nguyễn Trọng Tạo và Nguyễn Phan Hách quá hay, mở ra một không gian vô cùng lãng mạn. Nhưng trên cái nền đó, Nguyệt Anh lại không vẽ nên được một bức tranh quan họ trải rộng và tràn đầy màu sắc. Cô chủ động làm chậm tiết tấu, khiến bài hát phần nào mất đi sức sống vốn có của nó. Tiếc rằng giọng hát hay và những nỗ lực xử lý riêng của Nguyệt Anh đã không làm cho bài này hay hơn.

Dự đoán: Có thể Nguyệt Anh sẽ chiến thắng.

PHONG CÁCH NHẠC NHẸ

1. Nguyễn Huy Quyết

Quyết hát 2 bài: "Sẽ mãi yêu anh" nhạc Phùng Tuấn Hà, thơ: Pushkin và "Giấc mơ" của Hải Thuận. Ấn tượng chung là Quyết có một giọng hát trữ tình đẹp. Tuy nhiên, ở cả hai bài, Quyết chọn cách hát an toàn, hiền lành, không có cao trào. Ban nhạc đệm cho Quyết chơi rất ra chất nhạc nhẹ, nhưng Quyết lại không thể hiện điều đó trong giọng hát của mình.

2. Đoàn Thị Thúy Trang

Tôi luôn thích các ca khúc của nữ nhạc sĩ Giáng Son. "Mùa đông không lạnh" là một ca khúc mà Giáng Son phổ thơ của Quế Chi. Các bài của Giáng Son đầy những nỗi khắc khoải và được thể hiện bằng những giọng hát rất kịch tính như Tùng Dương. Lần này, những khắc khoải của Giáng Sơn được Thúy Trang thể hiện bằng một giọng cao và thanh thoát, khá lạ và cũng hay. Nhưng có một số nốt cao Trang hát bị vỡ.

Rất tiếc, sang bài tự chọn "Nếu như anh đến" của Nguyễn Đức Cường, Trang lại đánh mất toàn bộ cá tính của mình trong một bài hát mà lẽ ra rất phù hợp với một ca sĩ trẻ như cô.

3. Lê Việt Anh

Hoàn toàn không có cảm giác rằng Việt Anh hát "Anh yêu em" của Vũ Quang Trung là ca khúc bắt buộc, vì đã biết phả vào bài hát cũ này một không gian rất mới. Ưu điểm của Việt Anh là hát các nốt thấp rất rõ, không bị xỉn. Có lẽ Việt Anh là thí sinh duy nhất của Sao Mai 2011 làm chủ được giọng hát của mình. Cậu đã làm mới bài hát một cách đầy thuyết phục, nhất là cách tạo ra đoạn cao trào rất phê.

Hy vọng Việt Anh sẽ trở thành nam ca sĩ thứ hai ở Việt Nam sau Tùng Dương có giọng hát biến hóa. Tôi có suy nghĩ thế sau khi nghe Việt Anh hát "Vậy thôi" của Xuân Thủy. Thật không uổng khi để cậu thi ở vị trí cuối cùng. Việt Anh xứng đáng là ca sĩ hát hay nhất đêm chung kết.

Dự đoán: Lê Việt Anh đoạt giải Nhất.

KẾT QUẢ CHUNG CUỘC:

Phong cách thính phòng
Giải Nhất - Đào Tố Loan
Giải Nhì - Vũ Thắng Lợi

Phong cách dân gian
Giải Nhất - Lương Nguyệt Anh
Giải Nhì - Nguyễn Thị Phương Thanh

Phong cách nhạc nhẹ
Giải Nhất - Đoàn Thị Thúy Trang
Giải Nhì - Lê Việt Anh

Một chút bất ngờ khi giải Nhất phong cách nhạc nhẹ không thuộc về Lê Việt Anh như dự đoán. Tôi lại cứ ngỡ là Thúy Trang chỉ đoạt giải Ba thôi đấy.

Ban nhạc dưới sự chỉ đạo của nhạc sĩ Xuân Thủy vẫn chơi rất hay, giống như họ đã từng chơi ở Sao Mai 2009.

Tham khảo:
CHUNG KẾT SAO MAI 2009



1/8/11

CỨ CỐNG HIẾN ĐI, ĐỜI SẼ KHÔNG QUÊN ANH




Họa sĩ ĐỖ ĐỨC

1. Nhân chuyện lùm xùm trong giới nghệ sĩ biểu diễn và sáng tác âm nhạc (và trước đó là điện ảnh) về xét giải thưởng Nhà nước năm nay tôi lại nhớ đến một câu tục ngữ đồng quê: “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” còn đang tồn tại trong đời sống tinh thần chúng ta. Cái tâm lí so sánh, ganh tị đua chen, con gà tức nhau tiếng gáy còn đang quá nặng nề trong xã hội.

Tiền nong của giải tuy to nhưng chắc không phải mục đích chính để người ta kiện cáo, đòi, mà chính là cái danh. Đã nói đến cái danh, tức là cái tiếng để đời “làm trai sống ở trong trời đất/phải có danh gì với núi sông” (Nguyễn Công Trứ). Cho nên sự tìm kiếm cái danh đôi khi người ta cũng làm khổ cho mình, cho đời lắm.

2. Nói đến danh, lại nhớ có chính danh và có cả danh hão. Chính danh thì mọi người dễ hiểu, đó là cái danh giữa cuộc đời mặc nhiên được cả xã hội thừa nhận, biết đến và tôn vinh. Trong lĩnh vực mỹ thuật, dù chẳng có cái bằng công nhận nào nhưng hầu như ai cũng biết đến cụ Nguyễn Gia Trí. Trong âm nhạc thì Trịnh Công Sơn cũng vậy. Đó là những giá trị lao động tự nó được xác lập trong xã hội chứ không phải bằng sự công nhận của một tổ chức với giấy má và con dấu.

Còn cái danh tuy lớn nhưng lại không xứng với tài, đức của mình thì chỉ là cái “áo mượn” để khoác ra bên ngoài. Thiên hạ có câu “áo rộng hơn người” để chỉ những nghệ sĩ, nhà khoa học tuy có danh vị to lớn, hoành tráng, như cây đa, cây đề, nhưng xét đến tác phẩm thì lại chẳng có gì đáng kể. Vì cái “áo mượn” đó mà đôi khi có sự chen lấn. Cũng vì sự chen lấn mà dễ xảy ra lối ứng xử xin- cho...

3. Lại nhớ thời còn chiến tranh, Bác Hồ được Nhà nước Xô viết gợi ý tặng Huân chương Lê-nin nhưng Bác đã từ chối vì không muốn riêng mình được hưởng vinh dự đặc biệt to lớn. Người đề nghị Liên Xô tạm hoãn việc trao tặng phần thưởng cực kỳ cao quý ấy. Ðến ngày nhân dân Việt Nam đánh đuổi được bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam, Người sẽ đại diện cho toàn thể nhân dân Việt Nam trân trọng và vui mừng lãnh lấy Huân chương mang tên Lê-nin vĩ đại.

Vâng đó là cái chí của chim hồng, chim hộc, bay cao và nhìn xa.

4. Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh là 2 giải thưởng vô cùng cao quý, là sự ghi nhận “chính danh” của Nhà nước và nhân dân đối với những cống hiến của các văn nghệ sĩ, nhà khoa học... Điều đó đã thể hiện rõ trong tiêu chí của giải. Nhưng có một điều cũng nên đặt ra bàn, đó là cách thức xét giải, để làm sao có thể tránh được những ì xèo không đáng có.

Theo thiển ý của tôi thì khi xét giải mà cá nhân phải tự khai báo thành tích, có xác nhận, rồi hội đồng các cấp mới xét theo tờ khai và áp vào tiêu chuẩn thì chưa linh hoạt. Và một khi lại xảy ra thắc mắc để dẫn đến kiện cáo thì nơi xét giải đã biến thành cái chợ mất rồi.

Tôi thấy trên thế giới, nhiều văn nghệ sĩ, nhà khoa học được trao giải mà họ có phải xây dựng hồ sơ đâu, có khi họ còn không được biết trước nữa kia. Nhờ thế, lễ công bố giải càng trở nên cao quý, ý nghĩa; càng vỡ òa ra niềm vui, hạnh phúc của người được trao; càng đề cao được sự liên tài của người hay tổ chức trao; và càng khẳng định được một quy luật muôn đời, ấy là anh cứ cống hiến cho đời đi, đời sẽ không quên anh.

Nguồn:
"Đừng để giải thưởng kém thiêng"



29/7/11

CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN "CƠ HỘI"



ĐÔNG KINH

1. Tôi sẽ không chú ý đến chàng trai thi Tài năng âm nhạc Hàn Quốc (Korea’s Got Talent) Choi Sung Bong (ảnh), nếu như tôi không nhìn thấy những khuôn mặt vui sướng tột độ kèm theo những giọt nước mắt hạnh phúc của mọi người khi nghe anh hát. Anh hát hay, dĩ nhiên. Nhưng người ta khóc, cười nhìn anh trên sân khấu còn vì câu chuyện gắn với anh, một chàng trai mồ côi, từng đi bán kẹo, bây giờ bước thẳng lên cuộc thi tài năng này bằng chất giọng đáng kinh ngạc. Người ta ví anh là Susan Boyle của Hàn Quốc.

Một câu chuyện không diễn ra ở Việt Nam ta, nhưng tất nhiên truyền thông của ta ít nhiều cũng bị đánh lừa. Bởi thông tin vừa qua cho hay, đúng là anh chàng này từng có một tuổi thơ nhọc nhằn (mồ côi, bán kẹo cao su) nhưng sau đó anh đã được đào tạo bài bản trong trường nghệ thuật hẳn hoi trước khi lên sân khấu, chứ không phải là dạng “móc được từ dưới cống lên” và chuyện quá khứ vất vả kia cũng đã lâu lâu rồi.

Hàn Quốc coi đây là một sự lừa dối và đã phạt một đài truyền hình về việc cố tình “cắt” bỏ chi tiết quan trọng này trong lý lịch thí sinh nhằm tăng mức độ bi kịch, hòng câu nước mắt của khán giả, tạo hiệu ứng truyền thông..



2. Trong xã hội hiện đại, có thể sự vô cảm gia tăng trong tâm hồn mỗi chúng ta khi đứng trước cái nghèo, cái khổ của những người xung quanh, nhưng chúng ta lại rất hào hứng với những câu chuyện mang tính nhân văn được lan truyền trong xã hội thông tin, nhất là trên mạng.

Sở dĩ có điều đó, bởi nước mắt có hiệu ứng lan truyền. Đó là điều rất bình thường, bởi bản chất con người là hướng thiện. Nhưng nó chỉ không bình thường ở chỗ, có những người luôn muốn “diễn” lại quá khứ vất vả của mình để gây ấn tượng với công chúng, và ăn theo đó là những người “bán khóc mua cười” thông qua việc xây dựng những hình mẫu nhân văn một cách phóng đại.

Khoái cảm từ một cậu bé chăn trâu thành VIP, cô bé giúp việc thành “sao” là khoái cảm của con cá chép vượt vũ môn, con vịt biến thành thiên nga.

Nhưng không chỉ có thế, ngay cả khi thông tin về các sĩ tử đi thi hay các thủ khoa, á khoa sau này, người ta cũng có xu hướng muốn gắn vào chuyện “vượt khó”, cực nghèo, cực khổ. Có nơi mở hẳn chiến dịch, huy động nhân lực bằng mọi giá phải “tìm” bằng được những tấm gương kiểu này. Vì thế người đưa tin có xu hướng “có ít sít ra nhiều”... Một trong những cách thức dễ lấy nước mắt nhất là đặt tít đại loại như: cậu bé chăn trâu, cô bé bán rau, bán phở, mót khoai trở thành thủ khoa, á khoa...

Phải nói thật, những ai ở nông thôn thì đều biết chăn trâu, cắt cỏ, hái rau, đi chợ, mót khoai thậm chí hót phân... là chuyện thường tình, bởi ngoài giờ học ra thì phải giúp gia đình. Nhưng đó cũng chỉ là việc phụ giúp cho bố mẹ. Nếu không chọn đúng tấm gương trò nghèo vượt khó thực sự, cứ xoáy vào mấy chuyện nghèo mang tính tượng trưng kể trên thì không đúng thực chất.

3. Có thể trong rất nhiều trường hợp, cũng như thí sinh Hàn Quốc kia, họ bất đắc dĩ bị biến thành một hình mẫu nhân văn do ý đồ của người khác. Suy cho cùng thì chính họ bị thiệt. Ở đời cái gì nên đi cái ấy. Thi cử, thi thố thì phải căn cứ vào tài năng, kiến thức, và hãy tôn vinh họ bằng chính tài năng, kiến thức đó, còn chuyện nghèo khổ, vượt khó như thế nào chỉ là chuyện thứ yếu thôi. Đừng biến cái chính yếu thành cái thứ yếu mà vô hình trung lại đánh giá thấp tài năng của họ.

Chẳng cần tô điểm bằng quá khứ bán kẹo cao su, Choi Sung Bong hát hay, thế thôi.

Nguồn:
Chủ nghĩa nhân văn “cơ hội”





Example

12/7/11

CON THẤY MẸ TRONG MƠ



Cậu bé 12 tuổi người Mông Cổ tên là Uudan (乌达木) đã làm hàng triệu khán giả rơi nước mắt khi cất giọng cao hút hát bài "Con thấy mẹ trong mơ" với những âm hưởng của thảo nguyên Nội Mông bao la tại cuộc thi tìm kiếm tài năng "China's Got Talent" của Trung Quốc.

Uudan mất mẹ khi mới lên 8 tuổi. Mẹ em qua đời trong một tai nạn giao thông. Hai năm sau, cha em cũng qua đời trong một tai nạn tương tự. Cậu bé sống một mình và cứ mỗi khi buồn, nhớ mẹ, cậu lại hát "Con thấy mẹ trong mơ". Và cứ mỗi khi như vậy, cậu lại như thấy mẹ hiện về ngồi bên.

Bài hát bằng tiếng Mông Cổ, nên khán giả rất ít người hiểu được lời ca. Tuy nhiên, giọng hát mạnh mẽ và da diết của Uudan đủ lay động mọi trái tim người nghe. Cậu bé hát bằng tình yêu đối với người mẹ đã đi xa.

Cậu bé có một ước mơ: tạo ra một loại mực đặc biệt để chỉ cần nhỏ một giọt xuống đất là cả thế giới sẽ biến thành đồng cỏ xanh mướt.

Mẹ cậu lúc còn sinh thời đã khát khao được trông thấy con mình đứng trên sân khấu lớn.

Và đây, Uudan đã làm được điều đó.







6/7/11

CUỘC THI TCHAIKOVSKY, NIỀM TỰ HÀO CỦA NGƯỜI NGA



Hơn 50 năm qua, cuộc thi Cuộc thi Tchaikovsky quốc tế (The International Tchaikovsky Competition) luôn luôn là niềm tự hào của người Nga, một biểu tượng thu nhỏ của văn hóa Nga bên cạnh Quảng trường Đỏ hay Điện Kemlin. Năm nay, cuộc thi diễn ra từ ngày 14/6 đến 1/7, với nhiều nét mới.

Hai năm cho một cuộc thi...

Trưởng ban tổ chức chức cuộc thi Tchaikovsky quốc tế lần thứ 14 năm 2011 là Valery Gergiev, Tổng giám đốc và Giám đốc nghệ thuật của Nhà hát Mariinsky ở St. Petersburg, nhạc trưởng chính của Dàn nhạc giao hưởng Luân Đôn và là một trong những nghệ sĩ cổ điển có ảnh hưởng nhất thế giới hiện nay.

Ban tổ chức đã lập quỹ và đặt ra các chuẩn mực cao nhất cho cuộc thi từ hai năm trước. Một bộ thể lệ, quy tắc chấm điểm mới đã được thông qua.

Ban giám khảo cũng bao gồm nhiều tiên tuổi sáng giá như Vladimir Ashkenazy và Anne-Sophie Mutter... Van Cliburn là Chủ tịch danh dự của cuộc thi piano, còn Plácido Domingo là Chủ tịch danh dự của cuộc thi thanh nhạc.

Cuộc thi cũng tập hợp được ba nhà soạn nhạc lỗi lạc nhất thế giới hiện nay để viết tác phẩm mới cho tất cả các thí sinh lọt vào vòng bán kết trình diễn. Đó là nhà soạn nhạc người Nga Rodion Shchedrin (phần thi piano), nhà soạn nhạc người Ba Lan Krzysztof Penderecki (cello) và nhà soạn nhạc người Mỹ John Corigliano (violin). Cả Penderecki và Corigliano đều là thành viên ban hội thẩm.

Năm nay, lần đầu tiên cuộc thi được diễn ra đồng thời tại một số phòng hòa nhạc ở cả hai thành phố Moscow và St Petersburg. Cuộc thi piano và cello sẽ diễn ra tại Moscow trong khi St Petersburg là nơi tổ chức các cuộc thi violin và thanh nhạc.

Nét mới nổi bật của cuộc thi năm nay là nhờ các dự án truyền hình trực tiếp cuộc thi qua Internet, người yêu nhạc cổ điển khắp thế giới được chứng kiến cuộc thi. Dựa vào số lượt truy cập của Cuộc thi Piano quốc tế Van Clibunrn năm 2009, ước tính sẽ có khoảng gần hai triệu người theo dõi Cuộc thi Tchaikovsky quốc tế 2011 và khoảng 200 nghìn đến 300 nghìn người theo dõi vòng chung kết qua Internet.

Theo Molly McBride, nhà sản xuất chương trình truyền hình qua mạng của cuộc thi, việc truyền hình trực tiếp qua mạng sẽ không làm giảm số người tới theo dõi trực tiếp tại các phòng hòa nhạc. Bởi vì không có gì hào hứng hơn việc có mặt trong phòng hòa nhạc, cảm thấy luồng điện xẹt qua giữa người trình diễn và khán giả, những trải nghiệm chung trong cùng một không gian và thời gian. Với những người sống tại Moscow và St. Petersburg (cũng như những ai có thể tới nước Nga vì cuộc thi này), việc truyền hình trực tiếp cuộc thi qua Internet sẽ là một cái gì đó kích thích… khiến họ càng khao khát muốn được đến xem trực tiếp tại sảnh hòa nhạc.

Các buổi truyền hình chất lượng cao các vở opera từ Nhà hát Opera Metropolitan ở New York và Nhà hát quốc gia ở Luân Đôn đều đang thu được những kết quả hết sức mỹ mãn. Trong cuộc thi Van Cliburn 2009, lượng khán giả theo dõi vòng chung kết tăng lên đáng kể từ những khán giả đã theo dõi cuộc thi qua truyền hình Internet và bị “lôi kéo” tới xem các buổi biểu diễn tại nhà hát.

Các hoạt động chính của Cuộc thi Tchaikovsky quốc tế được Chính phủ Nga tài trợ; còn các sự kiện bên lề và các dự án truyền hình và truyền thông qua mạng được các tổ chức và cá nhân khác trong và ngoài nước Nga. Tổng số tiền giải thưởng của cuộc thi lên tới gần 350 nghìn Euros.

...và tiến trình hơn nửa thế kỷ

Trên tiến trình hơn nửa thế kỉ, Cuộc thi Tchaikovsky quốc tế vẫn tiếp tục tự khẳng định là một trong những cơ hội hàng đầu cho các nghệ sĩ trẻ nhằm đạt được danh tiếng và củng cố sự nghiệp. Mỗi lần được tổ chức tại Moscow, cuộc thi đều trở thành sự kiện nổi bật nhất trong đời sống âm nhạc nước Nga.

Dưới sự chỉ đạo của các vị trưởng ban tổ chức có uy tín lớn như Dmitri Shostakovich và Mstislav Rostropovich, thành viên ban giám khảo trong quá khứ bao gồm những tên tuổi huyền thoại như Sviatoslav Richter, David Oistrakh, Heinrich Neuhaus, Maria Callas, Leonid Kogan...

Cuộc thi đã giúp nhận diện nhiều tài năng mới, những người mà hơn 50 năm qua đã lọt vào danh sách các nghệ sĩ trình diễn hàng đầu thế giới. Trong số những người chiến thắng của giải Tchaikovsky phải kể đến các nghệ sĩ piano Van Cliburn, Vladimir Ashkenazy, Mikhail Pletnev, Grigory Sokolov; các nghệ sĩ violin Viktor Tretiakov, Gidon Kremer, Vladimir Spivakov, Viktoria Mullova; các nghệ sĩ cello David Geringas, Nathaniel Rosen, Antonio Meneses, Natalia Gutman, Mario Brunello; cùng các ca sĩ Evgeny Nesterenko, Paata Burchuladze, Elena Obraztsova và Deborah Voigt.

Cuộc thi Tchaikovsky quốc tế được tổ chức bốn năm một lần. Cuộc thi đầu tiên, năm 1958, chỉ gồm hai hạng mục – piano và violin. Từ cuộc thi thứ hai, năm 1962, hạng mục cello được bổ sung và hạng mục thanh nhạc cũng được đưa vào từ cuộc thi lần thứ ba năm 1966. Năm 1990, hạng mục thứ năm xuất hiện - cuộc thi dành cho các nhà làm đàn violin mà theo truyền thống, diễn ra trước các hạng mục thi chính.

Các dàn nhạc hàng đầu của Nga được mời tới để trình diễn cùng những nghệ sĩ lọt vào vòng chung kết của giải. Các nghệ sĩ tham gia buổi hòa nhạc chung kết ở Moscow tại hai Phòng hòa nhạc của Nhạc viện Moscow, Phòng hòa nhạc Tchaikovsky (Tchaikovsky Concert Hall), Sảnh trụ cột (Hall of Columns) và Viện Âm nhạc quốc tế Moscow (Moscow International House of Music). Vòng chung kết ở hạng mục piano cũng như lễ trao giải và buổi hòa nhạc của những người đoạt giải được tổ chức tại phòng hòa nhạc số 1 của Nhạc viện Moscow – Phòng hòa nhạc Lớn.

Cơ hội biểu diễn cùng nhạc trưởng danh tiếng

Cuộc thi Tchaikovsky quốc tế sẽ cộng tác với ba tổ chức đại diện cho nghệ sĩ lớn tại Nga, Mỹ và Vương quốc Anh để tổ chức hòa nhạc theo cam kết trong hơn ba năm với những người thắng giải, bao gồm cả các buổi hòa nhạc với nhạc trưởng danh tiếng Valery Gergiev – Trưởng ban tổ chức cuộc thi lần này.

Valery Gergiev nổi lên từ những năm 1980 như một trong các nhà chỉ huy mới nhiệt thành nhất, đặc biệt là trong lĩnh vực opera và ballet. Từ đó ông vẫn duy trì và ngày càng nâng cao danh tiếng của mình.

Bố mẹ là người Ossetia nhưng sinh ra ở Moscow, Gergiev bộc lộ tài năng âm nhạc khác thường từ khi còn rất nhỏ. Từ tuổi niên thiếu Gergiev đã quyết định trở thành một nhạc trưởng nên vào học lớp chỉ huy của Ilya Musin tại Nhạc viện Leningrad (nay là Nhạc viện St. Petersburg). Năm 1975 khi vẫn còn là sinh viên, Gergiev chiến thắng trong Cuộc thi chỉ huy toàn Liên bang tại Moscow. Năm tiếp theo ông lại chiến thắng trong Cuộc thi chỉ huy Herbert von Karajan tại Berlin.

Năm 1977, ở tuổi 24 tuổi, Gergiev được bổ nhiệm làm trợ lý chỉ huy tại Nhà hát Opera và Ballet Mariinsky (Kirov), St Petersburg, dưới quyền nhạc trưởng Yuri Temirkanov. Năm tiếp theo ông chỉ huy trong buổi hòa nhạc ra mắt vở opera đồ sộ Chiến tranh và hòa bình của Prokofiev. Buổi này cùng các buổi biểu diễn opera đầy hào hứng khác đã đánh dấu cho sự xuất hiện của một nhà chỉ huy khác thường. Năm 1981, Gergiev trở thành giám đốc của của Dàn nhạc quốc gia Armenia, tham gia chỉ huy các chương trình hòa nhạc trên khắp Liên bang Soviet.

Ông được bổ nhiệm làm Giám đốc âm nhạc của Mariinsky năm 1988 khi Temirkanov rời bỏ vị trí này để tiếp nhận vị trí chỉ huy tại Leningrad Philharmonic. Trong thời gian làm nhạc trưởng tại Mariinsky, với lòng nhiệt tình và năng lực dồi dào, Gergiev đã phát triển dàn nhạc của nhà hát tới mức cạnh tranh được với dàn philharmonic danh tiếng của quốc gia. Trên cương vị giám đốc Nhà hát Mariinsky, ông đã tổ chức liên hoan thường niên rất thành công có tên Những ngôi sao Đêm Trắng tại St. Petersburg.

Gergiev đã đem các đoàn nghệ thuật Kirov đi lưu diễn khắp thế giới. Ông là người chỉ huy các dàn dựng opera của Kirov như vở Boris Godunov của Mussorgsky tại Nhà hát Champs-Elysées, Paris; vở Hoàng thân Igor của Borodin tại Metropolitan Opera, New York. Sau đó ông cũng tham gia dàn dựng Boris Godunov tại Metropolitan Opera.

Gergiev từng chỉ huy các đoàn opera và giao hưởng lớn khắp thế giới, là nhạc trưởng khách mời chính của Metropolitan Opera từ năm 1997 tới năm 2008, ông cũng là nhạc trưởng chính của Dàn nhạc giao hưởng Rotterdam cho tới tháng 8/2008.

Gergiev đã thu âm và thu hình nhiều tác phẩm trong danh mục opera Nga, các tác phẩm giao hưởng của Rachmaninov, Shostakovich và Borodin; cũng như trọn bộ tác phẩm piano concerto của Prokofiev. Bên cạnh các bản thu nói trên, ông còn trở thành một nhà chỉ huy danh tiếng các tác phẩm giao hưởng của tác giả phương Tây, đặc biệt là bộ giao hưởng Mahler thu âm cho LSO Live.

Nguồn:
Cuộc thi Tchaikovsky, niềm tự hào của người Nga
Link:
Website cuộc thi Tchaikovsky


BONUS:
Valery Gergiev & London Symphony Orchestra /
Tchaikovsky's Romeo & Juliet





28/6/11

NSND QUÝ DƯƠNG - TÀI HOA VÀ NGHỊ LỰC



PGS, TS LƯƠNG QUỲNH KHUÊ

Thế hệ những người đã làm nên kỳ tích của một “Điện Biên Phủ trên không” đều biết đến Quý Dương như một “Giọng ca vàng”, một nghệ sĩ opera hàng đầu của nền thanh nhạc Việt Nam hiện đại.

Quê gốc ở Gia Lâm Hà Nội, song lại được sinh ra ở Hải Dương, cha mẹ ông chọn tên gọi Quý Dương để đặt cho con với hàm nghĩa “quý tử” sinh ở đất “Hải Dương”, kỷ niệm nơi người cha làm việc khi đó.

Tốt nghiệp Trung học phổ thông Chu Văn An Hà Nội năm 1956, Quý Dương cùng với những người bạn sau này cũng trở thành những nghệ sĩ nổi tiếng như Trần Hiếu, Hồ Quang Bình.. cùng thi vào khoa Thanh nhạc trường Âm nhạc Việt Nam. Sau khi tốt nghiệp (1959 ), Quý Dương được giữ lại làm giảng viên thanh nhạc của trường. Sự nghiệp ca hát của ông bắt đầu từ đấy.

Trong ký ức của người Hà Nội hẳn không thể quên những vở ôpêra trong lộng lẫy ánh đèn sân khấu Nhà Hát Lớn Hà Nội vào những năm 60 - 70 của thế kỷ trước như “Épghênhi Ônhêghin” của nhạc sĩ vĩ đại người Nga Traicôpxki (dựa theo tác phẩm thơ của Puskin) do các đạo diễn Liên Xô dàn dựng hay “Núi rừng hãy lên tiếng” của Triều Tiên do chính các chuyên gia Triều Tiên đạo diễn. Tiếp đó là nhiều vở nước ngoài khác như “Madam Butterfly”, “Ruồi Trâu”, “ La vie Parisiene” (Đời sống người Pari ) …

Lớp nghệ sĩ opera Việt Nam đầu tiên trong các vở diễn trên như Quý Dương, Trần Chất, Trần Hiếu, Ngọc Dậu …đều là những người chưa được học tập, đào tạo về opera một cách bài bản mà chỉ được truyền thụ trực tiếp qua các chuyên gia Liên Xô, Triều Tiên, Trung Quốc lúc đó (thậm chí, Ngọc Dậu xuất thân là một nữ Nghệ sĩ Cải lương). Vậy mà, các chuyên gia nghệ thuật nước ngoài đã phải thốt lên kinh ngạc trước sự thông minh, tài hoa của các nghệ sĩ Việt Nam khi Quý Dương và các đồng nghiệp của ông thể hiện thành công những vở opera kinh điển của thế giới trên sân khấu Nhà Hát Lớn Hà Nội.

Bầu không khí nghệ thuật ấy đã thúc đẩy các Nhạc sĩ Việt Nam sáng tác những vở opera nói về đất nước, con người Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận viết hai vở “Cô Sao” và “Người tạc tượng”, nhạc sĩ Nhật Lai viết vở “Bên bờ Krông pa”...

Với những vở opera nước ngoài hay trong nước nói trên, nghệ sĩ Quý Dương luôn được chọn vào những vai “nặng”, những vai chính có nội tâm phức tạp như vai Ônhêghin (Epghênhi Ônhêghin) – một trí thức quý tộc Nga đầu thế kỷ XIX chán ghét cuộc sống nhàm chán của tầng lớp quý tộc, có hoài bão lớn lao, có khát vọng tự do, song bế tắc và bất lực trước cuộc sống; vai ông già yêu nước Triều Tiên (Núi rừng hãy lên tiếng), đặc biệt là vai Hồng y giáo chủ Montaneli (Ruồi Trâu) là một nhân vật có sự giằng xé nội tâm vô cùng phức tạp v.v…

Những năm 1979 – 1983 Quý Dương được Nhà nước cho đi học thanh nhạc ở Bungari.a Đây là thời gian giúp ông được trang bị phương pháp Bel Canto, tức phương pháp thanh nhạc cổ điển của thế giới một cách bài bản và hệ thống. Song không dừng lại ở đó, cái quý giá là ở chỗ ông đã dùng phương pháp Bel canto kết hợp với cách xử lý của nghệ thuật ca hát dân gian Việt Nam để tạo ra một cách hát rất bác học mà vẫn gần gũi với thị hiếu âm nhạc của người Việt. Trong nghệ thuật thanh nhạc, ông đã tạo ra một phong cách kết hợp nhuần nhụy giữa kỹ thuật thanh nhạc cổ điển với cách hát dân gian Việt Nam bằng trí tuệ và trái tim của một nghệ sĩ mà cuộc sống luôn gắn bó với nhân dân và dân tộc.

Ông luôn tâm niệm rằng, một nghệ sĩ chân chính, một tài năng nghệ thuật đích thực trên lĩnh vực ca hát đòi hỏi phải có bốn yếu tố: Kỹ thuật thanh nhạc tốt, hiểu sâu ngôn ngữ dân tộc, có tâm hồn dân tộc và một tình yêu đất nước.

Một đạo diễn ôpêra đã đánh giá Quý Dương là một nghệ sĩ thuộc loại hiếm có bởi ông là người hát ca khúc nghệ thuật và hát cổ điển, cả hai phương diện ấy ông đều có những dấu ấn vượt thời gian. Quý Dương cũng là người “mở đường”, nói về ông người ta nhắc nhiều đến hai tiếng “đầu tiên” như một “điệp khúc” đáng tự hào: Ông là giảng viên thanh nhạc đầu tiên của Nhạc viện Hà Nội, là nghệ sĩ hát opera đầu tiên của Việt Nam, là người vào vai chính của vở opera kinh điển của nước ngoài lần đầu tiên được dàn dựng và công diễn ở Nhà Hát Lớn Hà Nội, là người đầu tiên và có lẽ là duy nhất mang opera đến trại phong Quỳnh Lập (Nghệ An), hát cho những bệnh nhân đang mắc căn bệnh mà ngoài các thày thuốc ra, ai cũng ngại ngần khi gặp họ. Vậy mà Quý Dương đã đến, đến một cách lặng lẽ, mang tấm lòng và tiếng hát của mình sẻ chia với các số phận kém may mắn, giúp họ có thêm tình yêu cuộc sống để chiến thắng bệnh tật …

Vào giữa những năm 80, trong cương vị Phó Giám đốc Nhà hát Nhạc Vũ kịch Việt Nam, Quý Dương cùng với nghệ sĩ piano Hoàng My và nhiều người bạn khác nữa đã đề xướng tổ chức “Đêm nhạc Văn Cao”, giới thiệu những ca khúc cách mạng và trữ tình nổi tiếng của nhạc sĩ Văn Cao với đông đảo công chúng Hà Nội và cả nước. Trong hai năm 1986 – 1987, hơn 60 “Đêm nhạc Văn Cao” đã được tổ chức ở Hà Nội và nhiều tỉnh thành phố khác. Thành công vang dội này đã góp phần quan trọng khẳng định lại giá trị của Văn Cao, của Âm nhạc Văn Cao với những tác phẩm sống mãi với thời gian như Tiến quân ca, Trường ca sông Lô, Ngày mùa, Đàn chim Việt, Suối mơ, Thiên thai, Trương Chi v.v… Đó không chỉ là tấm lòng tri âm của một người nghệ sĩ với một người nghệ sĩ mà còn là lương tâm và trách nhiệm của thế hệ đi sau đối với thế hệ đi trước mà Quý Dương và những người bạn của ông đã nêu một tấm gương đẹp.

Hiện nay, ở tuổi 71, vừa lặng lẽ và kiên cường chống lại bệnh tật vừa tiếp tục dạy thanh nhạc cho những người yêu thích nghệ thuật ca hát: Sinh viên thanh nhạc, giảng viên đại học, cô giáo, kỹ sư, công nhân… Nhìn ông ngồi bên cây đàn pianô, nghe âm vang tròn đầy trong giọng hát sang trọng của ông, không ai có thể hình dung được rằng, vừa mới đây ông còn phải nằm lọc máu ở bệnh viện vì căn bệnh nan y mà ông đã phải chịu đựng từ gần 20 năm qua.

Những ca khúc kinh điển của nước Ý, của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng trên thế giới và Việt Nam luôn vang lên trong ngôi nhà nhỏ của ông. Đến với ông, người học không chỉ được tiếp cận với kỹ thuật thanh nhạc, được hiểu biết và trân trọng những giá trị âm nhạc đích thực mà còn đựợc cảm nhận từ ông một niềm đam mê sự nghiệp, một tình yêu cuộc sống, nghị lực phi thường. Ở tuổi 71, ông vẫn đẹp, phong thái vẫn tài hoa...

Danh hiệu cao quý Nghệ sĩ Nhân dân mà Nhà nước phong tặng cho ông vào đầu những năm 1990, khẳng định những cống hiến nghệ thuật đáng trân trọng của ông. Phục hồi Nhà hát opera, đào tạo lớp nghệ sĩ opera trẻ tuổi, sáng tác những vở opera phù hợp với đời sống và cảm xúc của con người Việt Nam hiện nay là ước mong lớn nhất của NSND Quý Dương và nhiều nghệ sĩ cùng thế hệ với ông hiện nay. Mong sao mong ước của ông sẽ trở thành hiện thực...

Người Việt Nam đầu tiên hát opera trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội,
giảng viên thanh nhạc đầu tiên của Nhạc viện Hà Nội -
người đã hát Tình em bên các mâm pháo của trận địa phòng không
trong 12 ngày đêm “Hà Nội - Điện Biên phủ trên không” -
NSND Quý Dương đã qua đời chiều 28-6
sau gần 10 năm chiến đấu với bệnh thận hiểm nghèo, thọ 75 tuổi.

Nguồn:
NSND Quý Dương: Tài hoa và nghị lực

BONUS: CÁC BÀI HÁT DO NSND QUÝ DƯƠNG THỂ HIỆN

TÌNH EM
Sáng tác: Huy Du



LÁ ĐỎ
Sáng tác: Hoàng Hiệp


BÀI CA XÂY DỰNG
Sáng tác: Hoàng Vân


TRƯỜNG CA SÔNG LÔ
Sáng tác: Văn Cao


CHIỀU HẢI CẢNG
Nhạc Nga
Biểu diễn: Các NSND Quý Dương, Trung Kiên, Trần Hiếu




27/6/11

NHỮNG CA KHÚC NỔI TIẾNG ĐẦU THẬP NIÊN 1980


HÃY CHO TÔI LÊN ĐƯỜNG
Sáng tác: Trần Chung
Biểu diễn: Ái Vân


NHỮNG ĐÔI MẮT MANG HÌNH VIÊN ĐẠN
Sáng tác: Trần Tiến
Biểu diễn: Khánh Duy


CHIẾC BA LÔ VÀ BÀI CA TÌNH NGUYỆN
Sáng tác: Hoàng Tạo
Trình bày: NSƯT Bích Việt


LỜI TẠM BIỆT LÚC LÊN ĐƯỜNG
Sáng tác: Vũ Trọng Hối
Biểu diễn: NSƯT Trần Thụ


ĐẤT NƯỚC TÌNH YÊU
Sáng tác: Lệ Giang
Trình bày: NSƯT Thúy Lan


CHIỀU BIÊN GIỚI
Nhạc: Trần Chung
Thơ: Lò Ngân Sủn
Biểu diễn: NSƯT Thúy Lan


ĐẤT NƯỚC BÊN BỜ SÓNG
Sáng tác: Thái Văn Hóa
Biểu diễn: NSƯT Bích Việt




26/5/11

CẬU BÉ "ĐỒNG QUÊ" ĐĂNG QUANG AMERICAN IDOL



Thí sinh 18 tuổi Scotty McCreery đến từ bang Bắc Carolina đã đăng quang tại cuộc thi American Idol mùa thứ 10 sau khi chiến thắng thí sinh 17 tuổi Lauren Alaina.

Scotty (sinh ngày 9.10.1993) chơi cho đội bóng chày trường trung học và thường kiếm thêm ở tiệm tạp hóa gần nhà tại thị trấn Garner đã chiếm trọn trái tim của các fan American Idol khắp nước Mỹ bằng ngoại hình dễ nhìn, sự điềm tĩnh toát lên đầy vẻ tự tin và chất giọng baritone đặc trưng của dòng nhạc đồng quê.

Bắt đầu mùa American Idol bằng buổi thử giọng ở Milwaukee, Scotty dần chiếm được cảm tình của ban giám khảo và các fan qua từng vòng đấu. Chiến thắng của Scotty trước cô gái Lauren Alaina (sinh ngày 8.11.1994) trong đêm chung kết cho thấy sự thống trị của các giọng ca nam tại American Idol mấy mùa qua. Trước Scotty là David Cook, Kris Allen, Lee DeWyze giành chiến thắng ở các mùa 2008, 2009 và 2010.

Scotty cũng bước vào lịch sử với tư cách là thí sinh trẻ thứ hai thắng giải. Anh chia sẻ vinh quang này với Jordin Sparks, nữ thí sinh thắng giải năm 2007.

American Idol 2011 cũng lần đầu tiên chứng kiến hai thí sinh lọt vào đêm chung kết cuối cùng là hai thí sinh thuộc dòng nhạc đồng quê, khiến cho nhiều người cảm tưởng đây là cuộc thi “Nashville Star” tìm kiếm ngôi sao nhạc đồng quê chứ không “American Idol”. Rất lý tưởng cho các fan nhạc đồng quê nhưng không lý tưởng cho các fan mê dòng nhạc khác. Nhưng rating người xem truyền hình đêm chung kết cuối cùng vẫn rất cao: hơn 20 triệu người.

Riêng sau đêm chung kết cuối cùng, đã có 122,4 triệu lượt tin nhắn gửi về tổng đài để bầu chọn cho một trong hai thí sinh (trong khi dân số Mỹ là 308 triệu người). Tính cả mùa American Idol 2011, có 730 triệu lượt tin nhắn bầu chọn cho các thí sinh, thiết lập kỷ lục mới cho American Idol.

American Idol mùa thứ 10 bắt đầu vào 19.1.2011 và kết thúc vào 25.5.2011. Cuộc thi trở nên “bi” về cuối khi có tin đối thủ của Scotty là Lauren bị mất giọng trước đêm chung kết. Người bị loại ở vòng trước là nữ thí sinh Haley Reinhart được yêu cầu chuẩn bị để thay thế cho Lauren, điều chưa có tiền lệ trong 10 mùa American Idol.

Tuy nhiên, Lauren, cô gái đến từ bang Georgia đã được điều trị kịp thời trước đêm diễn ở nhà hát Nokia Theatre tại Los Angeles. Cô hát 3 bài và thậm chí còn khỏe hơn Scotty nhưng lá phiếu của các fan trên khắp nước Mỹ bỏ cho Scotty nhiều hơn để “cậu trai nhà bên” giành chiến thắng.

Đ.Hiệp (SGTT)

Nguồn:
American Idol 2011: Thí sinh nhạc đồng quê Scotty McCreery đăng quang


BONUS: CÁC BÀI HÁT SCOTTY TRÌNH BÀY TRONG ĐÊM CHUNG KẾT




P/S: Cách đây 3 tháng, hôm 19.2.2011, khi American Idol chọn top 40 thí sinh, tôi đã viết entry NHỮNG GIỌNG HÁT ẤN TƯỢNG TẠI AMERICAN IDOL 2011, dự báo 5 giọng hát có khả năng lọt sâu vào các vòng thi tiếp theo, bao gồm: Casey Abrams, Clint Jun Gamboa, Jacob Lusk, Scotty McCreery và James Durbin.

Ngoại trừ Clint Jun Gamboa lọt tiếp vào top 24 và chỉ chịu dừng lại trước top 12,
cả 4 ca sĩ Casey Abrams, Jacob Lusk, James Durbin và Scotty McCreery đều tiến rất sâu vào các buổi biểu diễn cuối cùng của American Idol.

Casey Abrams, ca sĩ mà tôi yêu thích nhất, lọt vào top 6.
Jacob Lusk, giọng ca mà tôi đánh giá cao nhất, lọt vào top 5.
James Durbin, lọt vào top 4.
Và Scotty McCreery, một giọng hát trầm cực kỳ ấn tượng, đã đoạt giải quán quân American Idol mùa thứ 10.

American Idol 2011 là mùa có nhiều thí sinh tài năng nhất.

NHỮNG GIỌNG HÁT ẤN TƯỢNG TẠI AMERICAN IDOL 2011
CHÀNG TRAI TỰ KỶ CHINH PHỤC AMERICAN IDOL


18/5/11

ĐI QUA NỖI NHỚ...



Post giúp một người bạn không có blog...

...Tôi đi qua nỗi nhớ nước Anh bằng sự ám ảnh về tiếng đàn piano của người nghệ sĩ đường phố. Trong một ngày đông lạnh giá với làn không khí nhẹ bẫng, trong suốt, vấn vít vài sợi nắng, tiếng đàn thánh thót cứ vương vào tim tôi một nỗi đau mơ hồ, nhè nhẹ. Người nghệ sĩ già ngả mình đàn, đàn mãi và cảm xúc tuôn trào trên mỗi ngón tay ông đã làm bao con tim khách vãng lai thổn thức.

Cả vùng không gian dường như rộng ra, sâu hơn và thời gian như lắng lại, từng giọt, từng giọt…


Ấy là tiếng đàn tôi đã nghe ở York, thành phố nhỏ cổ kính mộng mơ. Khi đó, tôi đã biết, không gian này, tiếng đàn này sẽ gieo vào lòng tôi nỗi nhớ khi vô tình, nó chạm vào nỗi cô đơn êm dịu trong tôi.

Nếu có dịp đi qua nhiều thành phố của nước Anh, người ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh những nghệ sĩ đứng biểu diễn nhiệt tình và say sưa trên đường phố và đó đã trở thành một phần hình ảnh của đất nước này… Không phải lần đầu tiên đón năm mới nơi đất khách nhưng Noel ở London, dù ông già Tuyết có hiện diện ít hơn so với một số nước châu Âu khác nhưng những bản nhạc vui nhộn được tấu lên bởi các nghệ sĩ đường phố đã làm vui chân khách vãng lai khi đón năm mới nơi xứ lạ.

Đường phố London càng lúc càng vắng khi đồng hồ nhích dần đến con số 12. Người đi lại lúc này hầu như chỉ là khách ngoại quốc bởi Noel là dịp sum họp gia đình. Và chúng tôi dường như là những người khách cuối cùng rời bến tàu điện ngầm. Những người bản xứ còn đủ bình tĩnh nán lại không ai khác, chính là những người nghệ sĩ đường phố và một trong những nơi được họ chọn biểu diễn nhiều nhất là các bến tàu điện ngầm.

Trong thanh âm rộn ràng đón chào năm mới, chợt tiếng violin réo rắt ở một góc underground làm tôi dừng bước. Tiếng violin gợi buồn về kỷ niệm, về chốn xưa khiến tôi rưng rưng nhớ nhà. Lẳng lặng bỏ vài đồng xu vào chiếc mũ, tôi nhìn người nghệ sĩ mỉm cười và ông cũng nhìn tôi, cười thân thiện. Ở xứ lạ, giữa hai con người xa lạ nhưng trong một khoảng khắc ngắn ngủi, âm nhạc đã là một sợi dây kết nối cảm xúc vô hình…

Vâng, tôi nhớ nước Anh, nhớ Endinburgh... Tôi là người may mắn vì được có mặt, có thể, chỉ là một lần duy nhất, đắm mình trong không gian mê hoặc nửa hư nửa thực của thủ đô Scotland. Vẫn còn đây, cảm giác huyền hoặc khi vào thăm lâu đài cổ Endinburgh, vẫn còn đây, trên môi, ngất ngây hương vị Scotch whisky nồng say, và vẫn còn đây, cảm giác phiêu bồng khi vừa thả bước trên những con đường lát đá vừa lắng nghe tiếng kèn dìu dặt của những người nghệ sĩ mặc váy Scotland đứng say sưa biểu diễn ở các con phố cổ.

Chính họ là người giới thiệu tuyệt vời cho nét văn hoá đặc sắc của Scotland và làm tròn đầy thêm cảm giác đây là một chốn riêng đặc biệt của thế giới, chỉ đến nơi này mới có, riêng Scotland mới có.


Âm nhạc đường phố cũng là một trong rất nhiều âm thanh quen thuộc của đời sống hàng ngày ở thành phố Bristol. Trong những hôm mưa lạnh ẩm ướt hay những ngày đẹp trời, nắng vàng rực rỡ, tiếng nhạc len lỏi vào tâm tư xúc cảm và như những sợi dây rất mảnh, kéo tôi gần hơn đến với tâm hồn nước Anh: dù buồn, vui, dù đau đớn nhớ nhung hay hân hoan hạnh phúc thì mình hãy sống trọn vẹn giây phút ấy, là chính mình giây phút ấy, chẳng có gì phải âu lo.

Những bản nhạc được tấu lên như vốn dĩ tự nhiên vẫn là như thế nhưng đó lại là tiếng lòng yêu đời thiết tha của người nghệ sĩ dù cho cuộc sống có khó khăn… Phải thế chăng mà nó ám ảnh, nó trở thành nỗi nhớ mơ hồ nhưng dai dẳng trong tôi.

Những đêm không ngủ, trong thinh không tĩnh mịch, nghe tiếng piano của ai từ xa vọng lại, lòng chợt se thắt trong một cảm giác thân thuộc mà biết rằng nó đã xa xôi…

BONUS:




5/5/11

MỘT THÀNH TRÌ CỦA NHẠC CỔ ĐIỂN SỤP ĐỔ



Cuối tháng Tư vừa qua, việc Dàn nhạc Philadelphia tuyên bố sẽ nộp đơn xin phá sản đã trở thành một trong những sự kiện đáng buồn của đời sống văn hóa.

Tình hình tài chính của dàn nhạc danh tiếng được thành lập từ năm 1900 này đã xấu đi từ lâu trong bối cảnh kinh tế suy thoái toàn cầu. Họ phải vật lộn với tình trạng giảm sút khán giả và nguồn tài trợ. Các nghệ sĩ và nhân viên bị cắt lương, và nhiều hợp đồng thu âm của dàn nhạc bị mất hiệu lực. Giống như với một công ti, việc chấp nhận bảo hộ phá sản sẽ là một cơ hội cho dàn nhạc cơ cấu lại, giảm nợ và tránh một số nghĩa vụ hợp đồng. Tuy nhiên, tác động tâm lí của sự kiện này không khỏi gây chấn động trong giới hâm mộ nhạc cổ điển.

Thế kỉ 20 không chỉ có những bất ổn về kinh tế, chính trị mà thêm vào đó là những lo ngại trước sự xuống cấp của văn hóa. Những dàn nhạc lớn như Philadelphia đã trở thành biểu tượng, như một thành trì bảo vệ các kiệt tác âm nhạc cổ điển vốn vẫn được coi là thuộc đẳng cấp cao nhất của nghệ thuật. Nhưng nay họ không còn trụ vững. Dù các buổi hòa nhạc đã lên lịch sẽ vẫn được tiến hành, nhưng dàn nhạc có nguy cơ mất đi những nghệ sĩ tài năng nhất, và hơn thế, là những di sản tinh thần quý báu đã tồn tại suốt 111 năm.

Dàn nhạc Philadelphia là đơn vị nghệ thuật lớn đầu tiên của Mỹ đối mặt với sự sụp đổ, nhưng không phải là dàn nhạc duy nhất gặp khó khăn tài chính từ nhiều năm qua. Một trong những lí do cho cuộc khủng hoảng này là tiền chi cho các hoạt động nghệ thuật ngày càng ít hơn. Để dành ngân sách cho những nhu cầu xã hội cấp bách, Chính phủ Mỹ cũng như nhiều nước khác đã chọn cắt giảm chi tiêu dành cho văn hóa.

Nhưng theo một số nhà phê bình âm nhạc Mỹ, vấn đề thực sự nằm ở chỗ tuy những chương trình biểu diễn của các dàn nhạc lớn không còn chỉ dành cho người giàu như cách đây 40 năm, nhưng đối với giới trẻ nó vẫn bị coi là lạc hậu, không thay đổi và chẳng liên quan tới thị hiếu của họ.

Các dàn nhạc bị mắc kẹt trong mô hình tồn tại từ thế kỉ 19 tới nay. Họ có xu hướng biểu diễn tác phẩm của các nhạc sĩ nhất định, trong đó phổ biến nhất là Beethoven, Brahms và Tchaikovsky.

Số lượng của các dàn nhạc và các buổi hòa nhạc cũng đang dần trở thành gánh nặng. Một số chuyên gia cho rằng các “viện bảo tàng âm nhạc” này nhiều quá mức cần thiết. Nhạc trưởng danh tiếng người Anh Colin Davis cũng là một trong số đó - theo ông, giá trị các kiệt tác âm nhạc sẽ giảm đi nếu cứ biểu diễn liên tục hàng tuần vì những thứ được cung cấp quá thường xuyên cuối cùng có thể mất đi ý nghĩa.

Nhiều dàn nhạc lớn đã tăng thời lượng biểu diễn lên 52 tuần mỗi năm. Thoạt nhìn có vẻ như họ sẽ tự động có thêm thu nhập. Nhưng thực tế mỗi buổi hòa nhạc là một lần thâm hụt tài chính, và nó diễn ra ngày càng trầm trọng. Dàn nhạc Philadelphia phải dùng tới 46 triệu USD chi trả cho các hoạt động, trong khi doanh thu chỉ có 31 triệu USD.

Dàn nhạc Philadelphia sẽ phải tiến hành chiến dịch gây quỹ lớn nhất trong lịch sử, mong đạt được 214 triệu đô la từ những người ủng hộ. Nhưng gốc rễ của vấn đề là các dàn nhạc lớn cần kết nối nhiều hơn với cộng đồng. Cách biệt với giới trẻ là nguy cơ thực sự của họ vì giới trẻ ngày nay nghĩa là khán giả trong tương lai.

VY KHANH

Nguồn:
Một thành trì của nhạc cổ điển sụp đổ

BONUS: Don Quixote Philadelphia Orchestra conducted by Christoph Eschenbach






Phần 6




27/3/11

"BÓNG NÚI" Ở HÀ NỘI



Chương trình ca nhạc có chủ đề "Bóng núi" - một trong 6 buổi biểu diễn của chuỗi chương trình kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã diễn ra tại Hà Nội đêm 25.3 vừa qua. Khá lâu rồi mới xem một chương trình nghệ thuật "đã" như vậy.

Chương trình khá hoàn hảo, diễn ra hấp dẫn từ đầu đến cuối. Vietnam Net khen là "tinh tế và đẳng cấp" quả không sai. Thử chấm điểm nhé.

Điểm 10 cho Trần Mạnh Tuấn, nghệ sĩ saxophone trong vai trò đạo diễn âm nhạc. Tuấn đã ưu tiên chọn những ca khúc còn ít được biết đến của TCS và thổi màu sắc hiện đại vào các bản hòa âm làm cho nhạc của TCS trở nên gần gũi hơn, nhẹ nhàng hơn, trẻ trung hơn. Một số bản hòa âm rất kịch tính đã tạo được đất phô diễn giọng hát cho Hồng Nhung, Cẩm Vân.

Điểm 10 cho Nguyên Thảo. Cô ca sĩ Đà Lạt này hát Trịnh theo kiểu jazz rất lạ với những đoạn phiêu thực sự gây được dấu ấn trong lòng khán giả. Là người miền nam, nhưng cô phát âm và nhả chữ theo giọng Hà Nội thật điêu luyện.


Điểm 9,5 cho Phạm Hoàng Nam, đạo diễn. Chương trình được kết cấu mạch lạc, chặt chẽ, với đường dây xuyên suốt là cái nhìn của TCS về thân phận con người, về tình yêu và về "cõi tạm". Tuy nhiên, ở một vài đoạn, những những ảnh trên màn hình (trong hình tượng chiếc lá) vẫn còn rườm rà (như hình trên chẳng hạn).

Điểm 9,5 cho Trịnh Vĩnh Trinh. Lần đầu tiên biểu diễn tại sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội, Trịnh Vĩnh Trinh tỏ ra khá hồi hộp. Nhưng chị đã không phụ lòng khán giả thủ đô khi trình diễn "Nhớ mùa thu Hà Nội" bằng một giọng hát vang, tha thiết và rất nhiều xúc cảm.

Điểm 9,5 cho Đức Tuấn. Có vẻ như Đức Tuấn đang vượt lên trở thành ngôi sao entertaiment theo kiểu Mỹ. Đức Tuấn hát "Con mắt còn lại" kết hợp với vũ điệu rất đẹp, trông không khác gì vừa bước ra từ một vở nhạc kịch của Broadway. Đức Tuấn hát ngày một tinh tế hơn và "ăn" sân khấu hơn.

Điểm 9 cho Uyên Linh. Cô không tỏ ra lép vế so với các ca sĩ đàn anh đàn chị và biết tự tỏa sáng theo cách của mình. Nhưng "Tình xa" dường như là quá sức đối với cô. Uyên Linh cần trưởng thành hơn, "bầm dập" với cuộc sống hơn, thì lúc đó hát mới "ngấm" được.

BONUS:

Nguồn ảnh: VietnamNet, VNMedia


23/3/11

PHẢI BỎ CÀ PHÊ THÌ CHA MỚI GẢ CHỒNG



NGỌC ANH

Đề tài nóng bỏng, lời ca hài hước, âm nhạc tuyệt diệu là lý do khiến Cantata “Cà phê” từ khi ra đời đã rất được yêu thích và trình diễn vô số lần. Ngày nay Cantata “Cà phê” vẫn được thu âm và trình diễn thường xuyên trên thế giới. Với tác phẩm này, cái tên Johann Sebastian Bach không chỉ được nhắc đến trong lịch sử thể loại cantata mà còn được nhắc đến trong lịch sử văn hóa cà phê.

"Phải bỏ cà phê thì cha mới gả chồng!” là tối hậu thư mà người cha (Schlendrian) đưa ra cho con gái mình (Lieschen) sau bao ngày khuyên nhủ, đe dọa, cấm đoán con gái uống cà phê bằng nhiều cách nhưng không mang lại kết quả. Việc bỏ uống cà phê với Lieschen thật là khó vì theo lời cô:

“Nếu con không được uống cà phê ba lần một ngày thì trong nỗi dằn vặt, con sẽ quắt queo như miếng thịt dê quay.” Và “vị cà phê mới ngon làm sao, còn ngọt ngào hơn cả hàng ngàn nụ hôn, dịu êm hơn cả rượu nho đen!”

Để tiếp tục được uống cà phê, Lieschen có thể dễ dàng hi sinh thú vui đứng bên cửa sổ ngắm người qua lại, hi sinh chiếc váy thời trang hay những dải ruy-băng làm đẹp mà cha hứa mua cho. Nhưng khi buộc phải lựa chọn giữa cà phê và một vị hôn phu, Lieschen đành ngậm ngùi hứa sẽ bỏ uống cà phê mãi mãi.


Đó là nội dung của bản Cantata “Schweigt stille, plaudert nicht” (Yên lặng nào, hãy ngừng tán gẫu) hay còn gọi là Cantata “Cà phê” của nhà soạn nhạc Johann Sebastian Bach. Trong danh mục tác phẩm của Bach, bản cantata này mang ký hiệu BWV. 211 và là một trong những bản cantata thế tục nổi tiếng nhất của ông, cùng với các Cantata “Đi săn” và Cantata “Nông dân”.


Cantata là một thể loại thanh nhạc cổ điển gồm một số tiết mục hoàn thiện như các aria, các đoạn hát nói (recitative) và hợp xướng dựa trên một đề tài. Thể loại cantata có sự gần gũi với thể loại oratorio (thanh xướng kịch). Tuy nhiên khuôn khổ của cantata không lớn bằng và không diễn tả một câu chuyện kịch lớp lang như oratorio.

Trong đời sáng tác của mình, Bach đã soạn một số lượng khổng lồ các tác phẩm ở thể loại cantata. Từ năm 1713 đến 1717, thời kỳ làm nhạc công đàn organ và nhạc sĩ sáng tác tại Weimar, Bach phải soạn mỗi tháng một cantata theo nhiệm vụ. Trong 5 năm đầu mới chuyển đến Leipzig, từ năm 1723 đến 1729, theo yêu cầu của nhà thờ, Bach phải viết cantata cho tất cả các buổi lễ trong năm (khoảng 59 cantata mỗi năm: mỗi tuần một cantata và một số dịp lễ đặc biệt khác).


Điều đặc biệt ở thiên tài của Bach là với khối lượng công việc đồ sộ và cường độ sáng tác nặng nề như vậy nhưng ông vẫn viết nên rất nhiều những kiệt tác trong số những tác phẩm phải ra đời cho kịp lịch trình. Một phần ba trong số khoảng 300 cantata của Bach bị thất lạc nhưng các cantata còn lại cũng đủ cho thấy sức sáng tạo phi thường, sự phát triển và tiếp thu những nhân tố âm nhạc mới từ những thể loại âm nhạc khác nhau, những trường phái và nền âm nhạc khác nhau để tạo nên những tác phẩm cách mạng vượt ra khỏi mục đích và phạm vi tôn giáo ban đầu.

Quy mô dàn nhạc, dàn hợp xướng và những đòi hỏi của Bach về biểu diễn ngày càng vượt ra khỏi khả năng và phạm vi của những buổi lễ thánh. Việc được đãi ngộ không thỏa đáng và một số xung đột về quyền lợi đã khiến Bach thất vọng và ngừng viết cantata cho nhà thờ. Ông bắt đầu chú ý hơn tới các dự án âm nhạc bên ngoài nhà thờ và trở thành giám đốc Hội Âm nhạc Leipzig (Collegium Musicum).

Tọa lạc tại phố Saint-Catherine ở Leipzig, quán cà phê của Gottfried Zimmermann là nơi diễn ra các buổi hòa nhạc hàng tuần của Collegium Musicum (Hội âm nhạc) vào thế kỷ 18. Được Georg Philipp Telemann thành lập và Johann Sebastien Bach chỉ huy từ năm 1729 đến năm 1739, Collegium Musicum đã trình diễn các cantata thế tục, các duet và trio sonata, các tác phẩm cho nhạc cụ độc tấu, các concerto cho violin, harpsichord, oboe… trước toàn khán giả sành nhạc. Vào thời J.S Bach, Leipzig và thành phố lân cận Dresden thu hút đông đảo các nghệ sĩ háo hức gặp gỡ vị trưởng ca đoàn nhà thờ hoặc tham gia vào đời sống âm nhạc sôi động tại thủ đô của người Saxon. Do đó quán cà phê của Zimmerman đã đưa ra một danh mục biểu diễn phong phú và đa dạng: âm nhạc của J.S. Bach và các con; âm nhạc của G. P. Telemann; âm nhạc của những nghệ sĩ bậc thầy và nhà soạn nhạc của Dàn nhạc nhà thờ Dresden cũng như của các nhà soạn nhạc lớn châu Âu – những người mà tác phẩm chủ yếu được lưu hành dưới dạng bản sao chép hoặc chuyển soạn, hay chỉ đơn giản là được các ca sĩ và nghệ sĩ lưu động biểu diễn khi họ ngang qua Leipzig.

Vào các tối thứ Sáu hằng tuần, Hội âm nhạc Leipzig tổ chức hòa nhạc tại quán cà phê Zimmermann, một trong những trung tâm âm nhạc và văn hóa của Leipzig thời đó. Nhiều cantata thế tục của Bach đã ra đời vì mục đích hòa nhạc này và nổi tiếng nhất trong số đó là Cantata “Cà phê”.


Cantata “Cà phê”, với libretto do Christian Friedrich Henrici (bút danh là Picander) viết, gồm 10 tiết mục: hai đoạn hát nói của người dẫn chuyện, hai aria của Schlendrian, hai aria của Lieschen, ba đoạn hát nói của hai cha con và một trio kết thúc tác phẩm.

Theo tài liệu ghi lại, vào khoảng năm 1600, cà phê từ cảng Mocha thuộc Yemen được xuất khẩu sang châu Âu để cung cấp cho những quán cà phê đang bắt đầu rất thịnh hành ở đây. Từ đó cà phê đã dần nhuộm nâu cả châu Âu. Thói nghiện cà phê bị coi là một vấn nạn xã hội ở Leipzig vào thời điểm Cantata “Cà phê” được công diễn lần đầu.

Xung đột lớn giữa chính quyền và thực khách của các quán cà phê ở Đức đã xảy ra từ những năm 1670. Nguyên nhân sâu xa là do lợi nhuận của việc bán cà phê rơi vào tay những người ngoại quốc trong khi lợi nhuận của những người bán bia ở Đức vì thế bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Lệnh cấm hoàn toàn hay lệnh hạn chế tiêu dùng cà phê đã từng được ban hành nhưng đều bất khả thi. Bởi vì uống cà phê là một chuyện rất “tự nhiên”, đúng như khúc trio kết thúc Cantata “Cà phê” khẳng định:

“Một con mèo không thể ngừng bắt chuột và các cô gái vẫn thủy chung với cà phê. Người mẹ thân thiết với cà phê. Người bà cũng uống cà phê. Vậy ai có thể quở mắng những cô con gái?”






Nguồn:
Phải bỏ cà phê thì cha mới gả chồng



4/3/11

BÀ LÃO NHÀ QUÊ THI TIẾNG HÁT TRUYỀN HÌNH


Hai năm trước Susan Boyle, người phụ nữ vô danh ở Scotland đã làm cả thế giới xúc động khi cất tiếng hát "I Dreamed a Dream" tại cuộc thi Britain's Got Talent.

Nhưng năm đó Susan Boyle mới 47 tuổi. Có bà nào ngoài 70 tuổi, người nhà quê, bạo gan đi thi hát không? Không phải cuộc thi hát bình thường, mà là cuộc thi hát truyền hình Eurovision lừng danh của Châu Âu?

Nghe tưởng chuyện như đùa, nhưng lại có thật 100%.

10 bà lão nông dân ở làng Buranovo, huyện Malopurginsky, nước cộng hòa Udmurtia (LB Nga) hợp thành một nhóm hát dân ca nghiệp dư bằng tiếng Udmurtia có tên là "Lão bà Buranovo" (Бурановские бабушки). Đa phần đều đã ở tuổi thất thập cổ lai hy. Ca mục của các bà gồm toàn các bài hát du dương, dễ nghe, dễ hát.

Các bà cũng đi thi thố vài nơi, ở huyện, ở tỉnh cho phong trào văn nghệ không chuyên. Những khi ấy các bà lại vận những bộ trang phục truyền lại từ thời bà cố, đi những đôi xăng-đan từ gỗ bạch dương, mặt mũi để mộc, trút tâm hồn giản dị và trong sáng của mình vào lời ca tiếng hát.

Nhóm có 10 bà, nhưng hiếm khi toàn bộ có mặt. Bà thì đau ốm, bà thì không biết để việc nhà cho ai trông nom. Thế nên thường thì chỉ có khoảng 6-8 bà có mặt trên sân khấu mà thôi. Công việc nhà cửa, đồng áng, vắt sữa bò, bổ củi là những thứ mà các bà phải làm hàng ngày. Vào những lúc rảnh rang hiếm có, các bà lại tụ tập ca hát tại câu lạc bộ của làng.

Vài năm trước, người phụ trách câu lạc bộ đề nghị các bà bổ sung vào ca mục một số bài hát nhạc nhẹ và một số bài hát nước ngoài đã được dịch lời sang tiếng Udmurtia. Các bà hơi vất vả khi hát theo phong cách dân gian nhưng trên nền hòa âm có tiết tấu rộn ràng hơn.

Nhưng hiệu quả thật bất ngờ. Tình cờ một lần biẻu diễn trên truyền hình, các bà trở nên nổi tiếng trên khắp đất nước Nga rộng lớn.

Năm ngoái, các bà được đề cử vào vòng tuyển lựa Eurovision 2010 của Nga và xếp ở vị trí thứ ba.

Năm nay, các bà không nản chí và đã chiến thắng trong vòng thi tuyển lựa quốc gia, trở thành đại diện của Nga trong cuộc thi Eurovision 2011 sắp được tổ chức tại Đức.

Ông Guennadi Gokhshtein, Giám đốc sản xuất kênh truyền hình "Russia-1" khẳng định: "Tôi cho rằng không thể tìm được đại diện nào tốt hơn nhóm "Lão bà Buranovo" cho cuộc thi Eurovision 2011".

Mọi người thử nghe một số bài hát do các lão bà trình bày:

Eurovision 2010

Let It Be - Beatles






 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết