Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

29/11/11

MỘT HÀNH ĐỘNG, HAI THÁI ĐỘ



Nguyên Hải

Ông Gary Locke, tân Đại sứ Mỹ ở Trung Quốc, đã tạo ra cơn sốt trong dư luận đất nước có 1,3 tỷ dân này ngay từ hôm ông tới sân bay Bắc Kinh về cách hành xử của ông. Họ ngạc nhiên rồi chân thành ca ngợi ông hết lời, và nhân dịp này họ so sánh ông với các quan chức nước mình khiến ông ngạc nhiên và giới quan chức Trung Quốc khó chịu.

Vì sao có chuyện như vậy?

Hôm 13/8, Gary Locke, một người gốc Hoa 100% đem theo vợ con đến Bắc Kinh nhậm chức. Trang mạng Chính Nghĩa hôm ấy đưa tin: Khi ông ra khỏi sân bay, người ta thấy vợ chồng ông cùng 3 người con, trừ cô út 6 tuổi ra, tất cả đều khệ nệ tay xách nách mang hành lý, chẳng thấy nhân viên nào xách giúp. Tới bãi đỗ xe, ông dẫn cả nhà lên chiếc xe 7 chỗ, chứ không lên chiếc xe con có cắm cờ Mỹ dành riêng cho Đại sứ.

Dăm ngày sau, Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden chính thức đến thăm Trung Quốc. Trưa hôm 18/8, sau khi hội đàm với lãnh đạo Trung Quốc xong, ông Biden cùng cô cháu gái được Đại sứ Gary Locke dẫn đến ăn trưa tại một cửa hàng ngoài phố. Ông Biden từ chối lời mời vào phòng ăn riêng mà ngồi lẫn với các thực khách Trung Quốc tại phòng lớn. 5 vị khách Mỹ gọi 5 bát mỳ (45 Nhân dân tệ, 1 NDT đổi hơn 0,15 USD hoặc hơn 3.000 VNĐ), 10 bánh bao (10 NDT), một đĩa dưa chuột (6 NDT), 1 đĩa sơn dược trộn đường (8 NDT), 1 đĩa khoai tây chiên (6 NDT) và 2 chai Coca-cola (4 NDT), tất cả hết 79 NDT.

Họ vừa ăn vừa thoải mái trò chuyện với các thực khách người Trung Quốc ngồi gần. Ăn xong, ông Biden rút ví lấy tờ 100 NDT (300.000 VNĐ) trả ông chủ, và không lấy tiền thừa, coi đó là tiền thưởng theo thói quen của người Mỹ. Ông còn xin lỗi các thực khách Trung Quốc và xin lỗi chủ cửa hàng là đã làm phiền họ (vì khiến nhiều người qua đường tò mò xúm vào xem).

Một số người Trung Quốc đã lấy điện thoại di động ra chụp ảnh cảnh bữa ăn và tung ảnh kèm thực đơn lên mạng. Lập tức hàng chục nghìn người truy cập tin này và tiếp tay truyền đi. Người ta đua nhau bình luận và không quên liên hệ với thói quan dạng, kênh kiệu, xa hoa lãng phí của các quan chức nước mình.

Phản ứng của giới chức Trung Quốc

Sự việc ngày càng có nhiều người Trung Quốc tham gia dàn hợp xướng ca ngợi tác phong “giản dị, liêm khiết, gần dân” của vị Đại sứ Mỹ, đồng thời chê trách giới quan chức bản xứ đã làm cho không ít vị khó chịu tới giận dữ. Và khi không chịu được nữa, giới quan chức đã lên tiếng trên hai tờ báo lớn.

Ba ngày sau khi Gary Locke đến Bắc Kinh, bản điện tử Quang Minh Nhật Báo (báo lớn thứ hai ở nước này) hôm 16/8 đăng bài Cảnh giác với chủ nghĩa thực dân mới do Gary Locke đem lại. Bài báo gọi tác phong thanh liêm của Locke là “chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ”, và tỏ ý e ngại quan chức Mỹ sẽ “cướp mất” lòng dân Trung Quốc, lên án Mỹ có dụng ý bỉ ổi “lấy người Hoa trị người Hoa”, kích động sự rối loạn chính trị ở Trung Quốc. Nhưng cuối cùng bài báo lại than thở: “Nếu Đảng CSTQ không thể chủ động tự giác diệt trừ vi-rút quan liêu để giữ cho mình khỏe mạnh, thế thì chẳng khác gì để Gary Locke cướp mất lòng dân ta!”

Thời báo Hoàn Cầu (phụ trương của Nhân dân Nhật báo) ngày 22/9 đăng xã luận dưới tít Mong Gary Locke làm tốt (nhiệm vụ) Đại sứ ở Trung Quốc, cảnh cáo không chút khách sáo: “Sự quan tâm mà Gary Locke nhận được (từ dư luận Trung Quốc) đã vượt xa vai trò một Đại sứ nên có”, chỉ trích ông dùng cách trình diễn bộ mặt liêm khiết để can thiệp dư luận Trung Quốc, làm tăng sự hiểu lầm và nghi ngờ giữa hai nước.

Tác giả nhắc nhở: cái giá bảo đảm an ninh cho Phó Tổng thống Mỹ Biden ăn bữa mỳ ở một quán ăn đầu đường xó chợ Bắc Kinh còn cao hơn nhiều lần khi ông chén các món sơn hào hải vị trong nhà khách chính phủ. Bài báo còn răn dạy các cơ quan truyền thông Trung Quốc “nên có thái độ tự trọng” khi đưa tin về sự liêm khiết của Gary Locke.

Dư luận xã hội

Có điều không ngờ là hai bài báo trên đã gây phản tác dụng tai hại. Dư luận nước này nhao nhao hỏi: Vì sao tác phong của quan chức Mỹ lại “chạm thần kinh” quan chức Trung Quốc?

Một nhà báo viết: Phó Tổng thống cùng Đại sứ người ta cả đoàn 5 người ăn bữa trưa hết có 79 NDT, trong lúc mấy vị “đày tớ dân” cỡ tép riu của Hội Hồng Thập Tự chúng ta nhậu một bữa trưa hết hơn chục nghìn NDT thì được coi là chuyện bình thường. Thử hỏi ai sai ai đúng mà Thời báo Hoàn Cầu đổi trắng thay đen viết bài như vậy? Khó lắm mới có một vị Đại sứ huyết thống Trung Quốc đến nước ta, lại có tác phong liêm khiết như thế, điều đó đáng quý lắm chứ, cớ sao chúng tôi không xúc động?

Một luật sư Bắc Kinh nói bài xã luận ấy phản ánh lối tư duy của quan trường Trung Quốc. Tác phong bình dân của Gary Locke vốn dĩ là chuyện cực kỳ bình thường ở nước Mỹ, nhưng ở Trung Quốc lại trở thành lạc loài (ling lei). “Quan chức chính phủ Mỹ hoặc Trung Quốc đều sống bằng tiền đóng thuế của dân, lẽ ra phải gần dân, phải bình dân hóa chứ” – ông này nói. Trong cuộc họp báo hôm 13/9 tại Diễn đàn Kinh tế thế giới (họp ở Đại Liên, Trung Quốc), Gary Locke cũng nói đi máy bay hạng ghế phổ thông là quy chế chung từ năm 2010 của quan chức Mỹ, kể cả thành viên chính phủ.

Trước sức ép dư luận, bài viết trên mạng Quang Minh Nhật Báo đăng được vài hôm đã phải gỡ xuống.

Nhân dịp này truyền thông Trung Quốc moi móc ra lắm chuyện kỳ quặc về tác phong của quan chức nước này.

Tạp chí Tân Thế kỷ đưa tin một huyện nghèo ở tỉnh Hồ Bắc bỏ ra 800.000 NDT (120.000 USD hoặc 2,4 tỷ VNĐ) để thết đãi mấy quan chức cấp tỉnh về huyện làm việc 20 ngày. Một người kể: một quan chức cấp Sở tỉnh Tứ Xuyên đến thăm nơi xảy động đất ở huyện Vấn Xuyên, trước khi đến cảnh sát phải dọn sạch hiện trường!

Mạng Đông Phương cho biết mới đây Cục Kiểm toán thành phố Hải Môn cử 24 cán bộ tiếp 15 quan chức Tứ Xuyên đến công tác 2 ngày 2 đêm, thời gian làm việc hết có 4 tiếng đồng hồ, còn lại là ăn nhậu, chơi bời, quà cáp, tốn hơn 100.000 NDT (300 triệu VNĐ).

Báo chí nước ngoài cũng lấy làm lạ trước phản ứng của dân Trung Quốc đối với tác phong sinh hoạt của Gary Locke. Báo The Christian Science Monitor đăng bài dưới tít Vì sao người Trung Quốc say mê Đại sứ Mỹ Gary Locke như vậy? (Why China seems so fascinated by US Ambassador Gary Locke?) Bài báo cho biết Tuần báo Kinh tế Trung Quốc đưa tin ông Gary Locke cùng gia đình xếp hàng như mọi người khác, chờ hơn 1 giờ để lên xe cáp treo thăm Vạn Lý Trường Thành mà không đòi hỏi ưu đãi nào.

Và nhà bình luận của báo này nói công chúng Trung Quốc say sưa bàn chuyện ấy chủ yếu vì vị Đại sứ này tuy có khuôn mặt người Trung Quốc nhưng cách hành xử lại rất “không Trung Quốc”. Bài báo viết: Tại Trung Quốc, nơi dân chúng bức xúc vì “quan chức tham nhũng thành bệnh kinh niên”, hành vi khiêm nhường giống hệt một người bình thường của Gary Locke như làn gió mát giúp ông khi vừa tới Bắc Kinh đã được công chúng khen ngợi.

Dù ai nói gì đi nữa, Gary Locke với diện mạo một người Hoa chính cống, da vàng, tóc đen, mắt đen đã trở thành vị Đại sứ Mỹ thành công nhất ở Trung Quốc. Hình ảnh Gary Locke vai đeo ba lô, tay xách túi laptop, điện thoại di động giắt ngoài quần, dùng phiếu mua hàng giảm giá xếp hàng mua cà phê đã làm dân Trung Quốc hả hê khoái chí ca ngợi, tạo ra cơn sốt dư luận chưa từng thấy.

Nguồn:
Tân Đại sứ Mỹ “chạm thần kinh” quan chức TQ



26/5/11

CẬU BÉ "ĐỒNG QUÊ" ĐĂNG QUANG AMERICAN IDOL



Thí sinh 18 tuổi Scotty McCreery đến từ bang Bắc Carolina đã đăng quang tại cuộc thi American Idol mùa thứ 10 sau khi chiến thắng thí sinh 17 tuổi Lauren Alaina.

Scotty (sinh ngày 9.10.1993) chơi cho đội bóng chày trường trung học và thường kiếm thêm ở tiệm tạp hóa gần nhà tại thị trấn Garner đã chiếm trọn trái tim của các fan American Idol khắp nước Mỹ bằng ngoại hình dễ nhìn, sự điềm tĩnh toát lên đầy vẻ tự tin và chất giọng baritone đặc trưng của dòng nhạc đồng quê.

Bắt đầu mùa American Idol bằng buổi thử giọng ở Milwaukee, Scotty dần chiếm được cảm tình của ban giám khảo và các fan qua từng vòng đấu. Chiến thắng của Scotty trước cô gái Lauren Alaina (sinh ngày 8.11.1994) trong đêm chung kết cho thấy sự thống trị của các giọng ca nam tại American Idol mấy mùa qua. Trước Scotty là David Cook, Kris Allen, Lee DeWyze giành chiến thắng ở các mùa 2008, 2009 và 2010.

Scotty cũng bước vào lịch sử với tư cách là thí sinh trẻ thứ hai thắng giải. Anh chia sẻ vinh quang này với Jordin Sparks, nữ thí sinh thắng giải năm 2007.

American Idol 2011 cũng lần đầu tiên chứng kiến hai thí sinh lọt vào đêm chung kết cuối cùng là hai thí sinh thuộc dòng nhạc đồng quê, khiến cho nhiều người cảm tưởng đây là cuộc thi “Nashville Star” tìm kiếm ngôi sao nhạc đồng quê chứ không “American Idol”. Rất lý tưởng cho các fan nhạc đồng quê nhưng không lý tưởng cho các fan mê dòng nhạc khác. Nhưng rating người xem truyền hình đêm chung kết cuối cùng vẫn rất cao: hơn 20 triệu người.

Riêng sau đêm chung kết cuối cùng, đã có 122,4 triệu lượt tin nhắn gửi về tổng đài để bầu chọn cho một trong hai thí sinh (trong khi dân số Mỹ là 308 triệu người). Tính cả mùa American Idol 2011, có 730 triệu lượt tin nhắn bầu chọn cho các thí sinh, thiết lập kỷ lục mới cho American Idol.

American Idol mùa thứ 10 bắt đầu vào 19.1.2011 và kết thúc vào 25.5.2011. Cuộc thi trở nên “bi” về cuối khi có tin đối thủ của Scotty là Lauren bị mất giọng trước đêm chung kết. Người bị loại ở vòng trước là nữ thí sinh Haley Reinhart được yêu cầu chuẩn bị để thay thế cho Lauren, điều chưa có tiền lệ trong 10 mùa American Idol.

Tuy nhiên, Lauren, cô gái đến từ bang Georgia đã được điều trị kịp thời trước đêm diễn ở nhà hát Nokia Theatre tại Los Angeles. Cô hát 3 bài và thậm chí còn khỏe hơn Scotty nhưng lá phiếu của các fan trên khắp nước Mỹ bỏ cho Scotty nhiều hơn để “cậu trai nhà bên” giành chiến thắng.

Đ.Hiệp (SGTT)

Nguồn:
American Idol 2011: Thí sinh nhạc đồng quê Scotty McCreery đăng quang


BONUS: CÁC BÀI HÁT SCOTTY TRÌNH BÀY TRONG ĐÊM CHUNG KẾT




P/S: Cách đây 3 tháng, hôm 19.2.2011, khi American Idol chọn top 40 thí sinh, tôi đã viết entry NHỮNG GIỌNG HÁT ẤN TƯỢNG TẠI AMERICAN IDOL 2011, dự báo 5 giọng hát có khả năng lọt sâu vào các vòng thi tiếp theo, bao gồm: Casey Abrams, Clint Jun Gamboa, Jacob Lusk, Scotty McCreery và James Durbin.

Ngoại trừ Clint Jun Gamboa lọt tiếp vào top 24 và chỉ chịu dừng lại trước top 12,
cả 4 ca sĩ Casey Abrams, Jacob Lusk, James Durbin và Scotty McCreery đều tiến rất sâu vào các buổi biểu diễn cuối cùng của American Idol.

Casey Abrams, ca sĩ mà tôi yêu thích nhất, lọt vào top 6.
Jacob Lusk, giọng ca mà tôi đánh giá cao nhất, lọt vào top 5.
James Durbin, lọt vào top 4.
Và Scotty McCreery, một giọng hát trầm cực kỳ ấn tượng, đã đoạt giải quán quân American Idol mùa thứ 10.

American Idol 2011 là mùa có nhiều thí sinh tài năng nhất.

NHỮNG GIỌNG HÁT ẤN TƯỢNG TẠI AMERICAN IDOL 2011
CHÀNG TRAI TỰ KỶ CHINH PHỤC AMERICAN IDOL


5/5/11

MỘT THÀNH TRÌ CỦA NHẠC CỔ ĐIỂN SỤP ĐỔ



Cuối tháng Tư vừa qua, việc Dàn nhạc Philadelphia tuyên bố sẽ nộp đơn xin phá sản đã trở thành một trong những sự kiện đáng buồn của đời sống văn hóa.

Tình hình tài chính của dàn nhạc danh tiếng được thành lập từ năm 1900 này đã xấu đi từ lâu trong bối cảnh kinh tế suy thoái toàn cầu. Họ phải vật lộn với tình trạng giảm sút khán giả và nguồn tài trợ. Các nghệ sĩ và nhân viên bị cắt lương, và nhiều hợp đồng thu âm của dàn nhạc bị mất hiệu lực. Giống như với một công ti, việc chấp nhận bảo hộ phá sản sẽ là một cơ hội cho dàn nhạc cơ cấu lại, giảm nợ và tránh một số nghĩa vụ hợp đồng. Tuy nhiên, tác động tâm lí của sự kiện này không khỏi gây chấn động trong giới hâm mộ nhạc cổ điển.

Thế kỉ 20 không chỉ có những bất ổn về kinh tế, chính trị mà thêm vào đó là những lo ngại trước sự xuống cấp của văn hóa. Những dàn nhạc lớn như Philadelphia đã trở thành biểu tượng, như một thành trì bảo vệ các kiệt tác âm nhạc cổ điển vốn vẫn được coi là thuộc đẳng cấp cao nhất của nghệ thuật. Nhưng nay họ không còn trụ vững. Dù các buổi hòa nhạc đã lên lịch sẽ vẫn được tiến hành, nhưng dàn nhạc có nguy cơ mất đi những nghệ sĩ tài năng nhất, và hơn thế, là những di sản tinh thần quý báu đã tồn tại suốt 111 năm.

Dàn nhạc Philadelphia là đơn vị nghệ thuật lớn đầu tiên của Mỹ đối mặt với sự sụp đổ, nhưng không phải là dàn nhạc duy nhất gặp khó khăn tài chính từ nhiều năm qua. Một trong những lí do cho cuộc khủng hoảng này là tiền chi cho các hoạt động nghệ thuật ngày càng ít hơn. Để dành ngân sách cho những nhu cầu xã hội cấp bách, Chính phủ Mỹ cũng như nhiều nước khác đã chọn cắt giảm chi tiêu dành cho văn hóa.

Nhưng theo một số nhà phê bình âm nhạc Mỹ, vấn đề thực sự nằm ở chỗ tuy những chương trình biểu diễn của các dàn nhạc lớn không còn chỉ dành cho người giàu như cách đây 40 năm, nhưng đối với giới trẻ nó vẫn bị coi là lạc hậu, không thay đổi và chẳng liên quan tới thị hiếu của họ.

Các dàn nhạc bị mắc kẹt trong mô hình tồn tại từ thế kỉ 19 tới nay. Họ có xu hướng biểu diễn tác phẩm của các nhạc sĩ nhất định, trong đó phổ biến nhất là Beethoven, Brahms và Tchaikovsky.

Số lượng của các dàn nhạc và các buổi hòa nhạc cũng đang dần trở thành gánh nặng. Một số chuyên gia cho rằng các “viện bảo tàng âm nhạc” này nhiều quá mức cần thiết. Nhạc trưởng danh tiếng người Anh Colin Davis cũng là một trong số đó - theo ông, giá trị các kiệt tác âm nhạc sẽ giảm đi nếu cứ biểu diễn liên tục hàng tuần vì những thứ được cung cấp quá thường xuyên cuối cùng có thể mất đi ý nghĩa.

Nhiều dàn nhạc lớn đã tăng thời lượng biểu diễn lên 52 tuần mỗi năm. Thoạt nhìn có vẻ như họ sẽ tự động có thêm thu nhập. Nhưng thực tế mỗi buổi hòa nhạc là một lần thâm hụt tài chính, và nó diễn ra ngày càng trầm trọng. Dàn nhạc Philadelphia phải dùng tới 46 triệu USD chi trả cho các hoạt động, trong khi doanh thu chỉ có 31 triệu USD.

Dàn nhạc Philadelphia sẽ phải tiến hành chiến dịch gây quỹ lớn nhất trong lịch sử, mong đạt được 214 triệu đô la từ những người ủng hộ. Nhưng gốc rễ của vấn đề là các dàn nhạc lớn cần kết nối nhiều hơn với cộng đồng. Cách biệt với giới trẻ là nguy cơ thực sự của họ vì giới trẻ ngày nay nghĩa là khán giả trong tương lai.

VY KHANH

Nguồn:
Một thành trì của nhạc cổ điển sụp đổ

BONUS: Don Quixote Philadelphia Orchestra conducted by Christoph Eschenbach






Phần 6




4/5/11

TÊN TỘI PHẠM NỬA ĐẦU


Gã tội phạm kém may mắn vì hình dạng kỳ dị này đã tạo điều kiện cho cảnh sát dễ dàng nhận diện ra hắn.

Carlos Rodriguez, 25 tuổi, có biệt danh là "Mr. Half-a-Head" vì chỉ còn nửa hộp sọ sau một vụ tai nạn giao thông. Mới đây, hắn đã bị cảnh sát Miami (Mỹ) bắt giữ vì những hoạt động liên quan đến gái mại dâm, tàng trữ ma túy và ăn trộm.

Tên này đã có tiền án tiền sự, và cảnh sát không cần tốn nhiều thời gian để tiến hành thủ tục bắt giữ hắn. Trên lệnh bắt giam, chỉ cần ghi "Mr. Half-a-Head" là đủ.

Cảnh sát Miami nói: "Chúng tôi đã phải sờ đến hắn vài lần. Rất tiếc cho hắn là hắn dễ bị bắt quá. Nhưng chúng tôi phải thực thi phận sự của mình".

Đúng là với cái bản mặt có một không hai này, Carlos Rodriguez là tên tội phạm "độc nhất vô nhị".



3/5/11

ĐOẠN CUỐI CỦA OSAMA BIN LADEN


Osama bin Laden đã bị lực lượng tinh nhuệ của Mỹ sát hại rạng sáng 2.5 ở độ tuổi 54. Thủ lĩnh của mạng lưới khủng bố Al Qaeda đã thoát chết trong nhiều chiến dịch truy sát của Mỹ kể từ sau vụ tấn công khủng bố nước Mỹ 11.9.2001. Lực lượng tinh nhuệ và CIA đã tiến hành chiến dịch chớp nhoáng tại nơi ẩn náu của ông ta ở thành phố Abbotabad, Pakistan. Sau khi được nhận diện bằng xét nghiệm ADN, thi thể của ông ta đã được thủy táng ở biển Arab.

Bức ảnh trên của Bin Laden do nhà nhiếp ảnh Rahimullah Yousafzai của hãng AP chụp tại một buổi nói chuyện của ông ta với báo giới ở khu vực miền núi thuộc tỉnh Helmand (Afghanistan) ngày 24.12.1998.

Tổng thống Mỹ Barack Obama thông báo về cái chết của Bin Laden, được phát sóng truyền hình trực tiếp từ Nhà Trắng ngày 1.5.2011 (giờ Mỹ).
Ảnh: Brendan Smialowski/Pool via Bloomberg

Nơi ẩn náu của Bin Laden theo định vị của Google Earth
ở tọa độ (34° 10'09.64"N 73° 14'33.17"E)

Sơ đồ nơi ẩn náu của Bin Laden.

Nơi ẩn náu của Bin Laden bị bốc cháy sau vụ tấn công của đặc nhiệm Mỹ.
Ảnh chụp từ đoạn clip quay bằng điện thoại di động.

Lính Pakistan đi tuần quanh nơi ẩn náu của Bin Laden ở Abbotabad, thuộc tỉnh Khyber Pakhtunkhwa, toàn bộ khu vực đã được bao quanh bằng vải đỏ.
Ảnh: Faisal Mahmood/Reuters

Cảnh phòng ngủ, nơi Bin Laden bị sát hại.

Chiếc trực thăng Mỹ bị nạn bên ngoài nơi ẩn náu của Bin Laden.

Một nhóm người ngồi thắp nến ở phố Vesey gần nền zero - nơi trước kia là
tòa tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới (New York), sáng sớm 2.5
.
Ảnh: Jason DeCrow/AP

Dionne Layne (phải) ôm Mary Power, sau khi hay tin Bin Laden đã bị sát hại,
hôm 2.5 tại khu vực gần Trung tâm Thương mại Thế giới trước đây ở New York.

Ảnh: Mark Lennihan/AP

Chân dung của những người lính cứu hỏa bị thiệt mạng trong vụ khủng bố
Trung tâm Thương mại Thế giới ngày 11.9.2001.

Ảnh: Mario Tama/Getty Images

Cảnh sát đứng gác tại Ga Trung tâm New York ngày 2.5.
An ninh được xiết chặt ở Mỹ sau cái chết của Bin Landen.

Ảnh: Stephen Chernin/AP

David Huber và Nicole Lozare tưởng nhớ các nạn nhân vụ 11.9
tại khu tưởng niệm Lầu Năm Góc bên ngoài trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ
ở Arlington (bang Virginia) sáng sớm 2.5.

Ảnh: Alex Wong/Getty Images

Hai người phụ nữ tưởng nhớ cô của họ là bà Cecelia E. Richard,
bị thiệt mạng trong vụ tấn công vào Lầu Năm Góc ngày 11.9.2001.
Họ mang bức ảnh của bà đến gần Nhà Trắng rạng sáng 2.5.

Ảnh: Jonathan Ernst/Reuters

Lính Mỹ đồn trú tại Afghanistan theo dõi Tổng thống Mỹ thông báo tin
Bin Laden đã bị sát hại qua truyền hình.

Ảnh: Bay Ismoyo/AFP/Getty Images

Hai người đàn ông Afghan ôm nhau trong một cửa hàng bán máy thu hình
ở thủ đô Kabul, khi hay tin Bin Laden đã bị sát hại.

Ảnh: Paula Bronstein/Getty Images

Người Ấn Độ đốt ảnh Osama bin Laden trên đường phố Ahmedabad, ngày 2.5.
Ảnh: Stringer/Reuters

Một người sống sót trong vụ Al Qaeda khủng bố Đại sứ quán Mỹ tại Nairobi năm 1998 đứng bên cạnh bức tường tưởng niệm 248 nạn nhân của vụ đánh bom này hôm 2.5.
Ảnh: Thomas Mukoya/Reuters

Ảnh Osama bin Laden được bầy bán trong tiệm tạp hóa ở Quetta ngày 2.5.
Ảnh: Naseer Ahmed/Reuters

Người dân Pakistan đọc báo có dòng tít lớn "Osama bin Laden bị sát hại"
tại một quầy bán báo ở Hyderabad, ngày 2.5.

Ảnh: Pervez Masih/AP

Người dân đến khu tưởng niệm các nạn nhân vụ đánh bom Bali
ở Kuta (đảo Bali - Indonesia) ngày 2.5.

Ảnh: Sonny Tumbelaka/AFP/Getty Images

Người đàn ông Hàn Quốc theo dõi tin Osama Bin Laden bị sát hại trên màn hình lớn ở Ga đường sắt Seoul ngày 2.5.
Ảnh: Lee Jin-man/AP

Người Nhật đọc báo ở Tokyo đưa tin về cái chết của Bin Laden.
Ảnh: Shizuo Kambayashi/AP

Bức tượng cát "Kết cục" của nghệ sĩ Sudarshan Patnaik
trên bãi biển Puri, Ấn Độ ngày 2.5.

Ảnh: Stringer/Reuters

Nguồn:



24/2/11

NGƯỜI PHỎNG VẤN HÀNG ĐẦU CỦA TRUYỀN HÌNH MỸ



Từ Phố Wall, Washington đến thung lũng Silicon, giới trí thức đều thích tham gia chia sẻ quan điểm với Charlie Rose. Rose trò chuyện với đủ loại người, từ trùm băng đảng khét tiếng tại California, tới ca sĩ Bruce Springsteen, tỉ phú Bill Gates hay Warren Buffett.

Tại sao là Charlie Rose?

Chương trình “Trò chuyện cùng Charlie Rose” thực chất là một cuộc đối thoại mở rộng, sâu sắc về nhiều vấn đề: chính trị, văn hóa, kinh doanh, khoa học, y tế, kỹ thuật, truyền thông, luật pháp, giáo dục… Chương trình được phát trên đài PBS (đài truyền hình phi lợi nhuận của Mỹ) trong suốt 18 năm qua với 6.500 vị khách mời tham gia. Mỗi tối lượng người xem chương trình này lên tới khoảng hơn 1 tỉ người, theo hãng nghiên cứu thị trường Nielsen (Mỹ).

Duyên dáng và bền bỉ, có khả năng chế ngự và xoay chuyển cuộc đối thoại, Rose có thể điều khiển một cuộc thảo luận khó và khơi gợi ra những câu trả lời bí mật mà thông tin chưa bị chọn lọc hay gọt giũa. Hank Paulson, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ, nhận định: “Ông ấy có thể khiến bạn bị cuốn hút vào cuộc nói chuyện và hỏi bạn những câu hỏi khó nhưng theo một cách rất mềm mại”.

Chiếc bàn nổi tiếng của Charlie Rose trong trường quay
mà rất người muốn được ngồi vào
.

Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu, là nhà sản xuất kiêm dẫn chương trình, Rose đã gặp không ít khó khăn. Được Michael Bloomberg, chủ hãng tin Bloomberg, cho mượn trường quay, Rose chỉ phải lo trả lương nhân viên, phí dịch vụ truyền hình vệ tinh và đi lại. Tất cả chỉ được chi trả trong khoản ngân sách 3,5 triệu USD/năm.

Để phát triển chương trình, Rose bắt đầu gây quỹ. Tuy nhiên, điều này không dễ. Rose nói, ông thích sự độc lập và ghét bị can thiệp vào việc lựa chọn khách mời. Do đó, dù xem Warren Buffett và Bill Gates như là những người bạn tốt, nhưng ông không bao giờ mời họ tài trợ cho chương trình của mình. Ông cũng không hỏi tiền từ PBS.

Trong khi các chương trình khác có hẳn một tổ chức để gây quỹ thì Rose chỉ có chiếc điện thoại di động và một danh sách liên lạc. Rose thiết lập một trang web để nối mạng với những người ông nhắm đến.

Sở hữu chương trình truyền hình “Trò chuyện cùng Charlie Rose” từ năm 1994, Rose chưa bao giờ nghĩ đến chuyện làm sao kiếm ra tiền từ nó. Một trong những nhà tài trợ của Rose, James B. Lee, Phó Chủ tịch của J.P Morgan Chase, không ngừng khuyến khích Rose trở thành nhà kinh doanh. “Charlie là một nghệ sĩ. Anh ta thích vẽ tranh nhưng không lo nghĩ nhiều về việc bức tranh sẽ được bán bao nhiêu. Tôi nhắc thì anh ta đáp: “Tôi không có 3 tuần để làm một dự án kinh doanh. Nếu dành thời gian cho việc đó, tôi sẽ không có đủ thời gian để làm phỏng vấn”.

Sau bức màn nhung


Gia đình Rose sống gần ga xe lửa. Lúc còn bé, Rose đã nói rằng, cậu mơ ước sẽ đến một nơi xa xôi, không còn tiếng còi hú của xe lửa, chẳng hạn như Manhattan (New York) để lập nghiệp.

Sau kỳ thực tập ở Thượng nghị viện Mỹ, Rose phát hiện ra mình có nhiều sở thích và hay thay đổi. Rose chuyển sang học lịch sử, sau đó là luật. Cuối cùng, anh đón tàu lửa đến ngân hàng Bankers Trust. Làm việc ở đó được vài năm, anh lại chán và chuyển đi nơi khác.

Rose gặp lại bạn học cũ Mary King và cưới cô ấy sau khi tốt nghiệp ngành luật. Mary là một nhà nghiên cứu tại đài CBS.

Chưa đầy 30 tuổi, Rose đã ký hợp đồng làm báo tự do tại BBC và sau đó được đề nghị làm phóng viên cho đài truyền hình WPIX tại New York. Dù vậy, Rose vẫn thích làm công việc sản xuất chương trình hơn là phụ trách đưa tin về hỏa hoạn và biểu tình. Năm 1974, vợ của Rose gặp Bill Moyers của PBS và thuyết phục ông ta nói chuyện với Rose.

Đó là điểm then chốt trong sự nghiệp của Rose. Ông trở thành nhà sản xuất trong chương trình của Moyers và được Moyers đỡ đầu. Chương trình “Một cuộc đối thoại với Jimmy Carter” của Rose đã đoạt giải thưởng Peabody (giải thưởng quốc tế hằng năm dành cho những chương trình truyền hình hoặc phát thanh xuất sắc nhất) vào năm 1976.

Sau 2 năm làm việc với Moyers, Rose tiếp tục thành công tại đài NBC News ở Washington, sau đó là một nhà phỏng vấn cho chương trình thị trường trong nước Dallas Roft Worth tại Chicago. Nhưng Rose vẫn chưa dừng lại ở đó. Ba năm gắn bó với chương trình phỏng vấn hằng đêm Nightwatch của CBS, Rose gần như không ngủ. Chương trình này đã đạt giải Emmy năm 1987.

Ngay cả những lúc có bộ dạng xấu thế này, Charlie Rose vẫn lên hình.

Bỏ việc tại CBS, Rose lên Los Angeles để dẫn chương trình mới Personalities của Fox. Không muốn làm những chuyện trống rỗng, lần thứ sáu, Rose bỏ việc phóng viên truyền hình vào năm 1990. Lúc này, ông đang bị khủng hoảng tinh thần sau khi cha mất. “Trong mắt của cha tôi, tôi chỉ là một đứa trẻ của một người cha yêu tôi sâu sắc. Nhưng chúng tôi đã không có nhiều dịp trò chuyện hay chơi với nhau”, Rose nói.

Từ sau cuộc phẫu thuật van tim vào năm 2006, nhịp thở của Rose trở nên rối loạn. Alain Carpentier, một người bạn của Rose, nói: “Tình trạng của Charlie lúc ấy rất tệ. Nếu không có lòng tin vào bản thân và sự can đảm, có lẽ anh ấy đã không thể vượt qua”.

Rose từng nói, ước gì ông có 1 đứa con trai hay con gái (Rose chấm dứt cuộc hôn nhân kéo dài 12 năm với Mary King vào năm 1980 và họ chưa có con). Amanda Burden, bạn lâu năm của Rose và là Giám đốc Sở Quy hoạch thành phố New York, cho biết: “Mỗi khi chiều xuống, lúc Rose cởi giày ra và đặt lên chiếc ghế chỗ chiếc bàn lớn bằng gỗ sồi, có lẽ đó là lúc ông ấy cảm thấy cô đơn”. Rose thì cho biết: “Đối với tôi, hạnh phúc nhất là lúc lên truyền hình”

Nguồn:
Vì sao giới kinh doanh thích Charlie Rose?



22/2/11

MẸ HỔ DẠY CON



Người châu Á có câu “Yêu cho roi vọt, ghét cho ngon ngọt”. Kỷ luật “sắt” và yêu cầu cao đối với lũ trẻ là nguyên tắc của giáo dục phương Đông. Trẻ em phải học cực nhiều, hết học ở trường lại học ở nhà, học thêm ở ngoài. Chúng bị buộc phải bỏ mất tuổi thơ để đổi lấy tương lai ổn định. Nhiều người hy sinh tất cả vì con, thậm chí bỏ việc của mình để kèm con học suốt ngày.Không ít người cho rằng tài năng được rèn rũa trong roi vọt.

Đầu năm nay, câu chuyện một bà mẹ dạy con quá nghiêm khắc đã gây ra một cuộc tranh luận ồn ào chưa từng thấy tại nước Mỹ. Nhân vật chính ở đây là bà Amy Chua – tự xưng Mẹ Hổ – có lẽ vì bà sinh năm Hổ (1962), hoặc vì bà cho là mình đã dạy con nghiêm như Hổ mẹ.

Amy Chua có cha mẹ là người Hoa từ Phillippines di cư sang Mỹ đã lâu. Hiện nay bà là giáo sư trường Luật thuộc Đại học Yale, chồng bà là ông Jed Rubenfeld người Mỹ gốc Do Thái, giáo sư cùng trường. Họ có hai cô con gái là Sophia và Louisa, năm nay 18 và 15 tuổi. Chúng được Mẹ Hổ dạy dỗ kèm cặp từ nhỏ, theo bà nói nay đã “thành tài”: 4 tuổi đọc sách của văn hào Jean Paul Sartre; tất cả các môn học đều đạt thành tích cao nhất; Sophia 14 tuổi độc tấu dương cầm tại Phòng Hòa nhạc thành phố; Louisa là cây vĩ cầm chủ lực của dàn nhạc giao hưởng thiếu niên thành phố; ...

Giữa tháng 1 vừa rồi, Amy Chua định xuất bản cuốn sách bà mới viết, có tên Chiến ca của Mẹ Hổ . Sách Chiến ca của Mẹ Hổ dầy 256 trang tiếng Anh, ngay trong ngày phát hành đầu tiên đã được xếp hạng bestseller thứ 6 trên mạng bán sách Amazon. Khoảng 100 nghìn lời bình sách này xuất hiện trên mạng xã hội Facebook..

Sau khi tạp chí Time số cuối tháng 1/2011 đưa chuyện Mẹ Hổ lên trang bìa, cuộc tranh luận về cách dạy con của Amy Chua lan ra khắp năm châu “như một cơn sốt vi rut”. Mẹ Hổ quả thực làm rung chuyển cả thế giới.

Một số người tán thành Amy Chua, nhưng đa số, trong đó có cả nhiều bà mẹ Trung Quốc, phản đối gay gắt, gọi bà là “quý sứ”, là “mẫu người nguy hiểm” của xã hội, buộc tội bà “ngược đãi” con. Trong số hàng chục nghìn bức thư gửi Amy Chua, một số người còn đe dọa “khử” bà. Nhiều người kêu gọi phê phán Mẹ Hổ, vì nếu không “bà ta sẽ kiêu ngạo tiếp tục hành hạ lũ con mình”.

Amy Chua rất khổ tâm. Trả lời phỏng vấn của tuần báo Newsweek, bà nói: “Có người dọa giết tôi, có người bảo tôi nên cút về Trung Quốc, họ gọi tôi là quái vật ... khiến tôi rất ngạc nhiên.”

Mẹ Hổ dạy con như thế nào?

Cách dạy con của Amy Chua thực ra chẳng có gì xa lạ với người Việt Nam; còn với người Trung Quốc thì quá bình thường. Tuổi thơ của rất nhiều trẻ em Trung Quốc bị bố mẹ bắt dùng hết vào việc học; xuất hiện những “thần đồng” hơn 10 tuổi đã viết tiểu thuyết hái ra tiền, 13 tuổi vào Đại học... Phương Tây cũng biết cả. Có điều khi viết chuyện dạy con ấy ra sách thì lại khác, người phương Tây cảm thấy “kinh khủng, khiếp hãi”, “không thể hiểu nổi”.

Sophia và Louisa (tên thân mật là Lulu) suốt đời sống trong sự rèn cặp của bà mẹ mà chúng gọi yêu là Mẹ Điên, vì bà bắt chúng học như điên mọi thứ theo ý bà. Amy Chua từng nói sở dĩ trẻ con không yêu thích công việc là do chúng chưa thạo công việc ấy; khi nào đã thạo thì chúng sẽ thích công việc. Người phương Tây quá tôn trọng cá tính và sở thích, nguyện vọng của con nên thiếu nghiêm khắc với con. Người châu Á thì chỉ lo chuẩn bị tương lai cho con, vì thế bắt con phải chăm học từ nhỏ, có vậy sau này ra đời chúng mới sống được trong cuộc cạnh tranh tàn khốc.

Amy Chua viết: Nhiều người muốn biết phụ huynh người Hoa dạy con như thế nào để chúng trở thành những đứa trẻ thành công, những thiên tài toán học hoặc thần đồng âm nhạc, dù chúng không muốn. Sau đây là những điều Sophia và Louisa phải tuân theo:

- Không được qua đêm ở nơi không phải nhà mình;
- Không được xem phim;
- Không được tham gia biểu diễn văn nghệ ở trường;
- Không được than phiền vì điều cấm ấy;
- Không được xem truyền hình hoặc chơi game máy tính;
- Không được tự chọn hoạt động ngoại khóa (mà do mẹ chọn);
- Điểm sát hạch, điểm thi tất cả các môn học phải đạt mức A (tức cao nhất);
- Trừ môn thể dục và sân khấu ra, thành tích học tất cả các môn khác đều phải nhất lớp;
- Trừ dương cầm và vĩ cầm ra, không được chơi bất cứ nhạc cụ nào khác;

Amy Chua viết: Các bậc cha mẹ phương Tây dù nghiêm khắc đến đâu cũng không bằng cha mẹ người Hoa. Thí dụ, họ cho rằng bắt con mỗi ngày tập đàn từ 30 phút đến 1 giờ là quá nghiêm khắc, nhưng các bà mẹ người Hoa thì bắt con tập đàn liền 3 tiếng đồng hồ. Người Hoa cho rằng con học không giỏi là do cha mẹ chưa làm tròn bổn phận. So với người phương Tây, hàng ngày họ bỏ ra thời gian gấp 10 lần để bàn chuyện học tập với con. Thực ra cha mẹ người Hoa có thể làm nhiều chuyện rất khó tưởng tượng, thậm chí người phương Tây cho là phạm luật. Họ có thể nói với con một cách không lịch sự nhẹ nhàng, chẳng hạn bảo con “Thằng (Con) béo kia! Phải giảm cân đi!”, còn người phương Tây vì ngại xúc phạm con nên chỉ đi đi lại lại bên cạnh con, nói bóng gió về chuyện giữ sức khỏe chứ không hề động đến từ “béo”. Hậu quả là sau đấy con họ lại ăn uống thỏa thê.

Amy Chua cho rằng phụ huynh người Hoa suy nghĩ khác người phương Tây ở 3 điểm:

1- Người phương Tây rất ngại làm tổn thương lòng tự tin, tự trọng của con, cho nên thường hay khen con quá mức, khi con bị điểm xấu cũng vẫn khen, còn người Hoa thì mắng ngay và hỏi cho ra nhẽ tại sao bị điểm xấu. Nói khác đi, phương Tây quan tâm tới tâm lý của con, còn người Hoa thì không quan tâm, họ rất kiên quyết; cho nên kết quả khác nhau.

2- Người Hoa cho rằng con cái phải biết ơn cha mẹ về mọi chuyện họ làm cho chúng, do đó chúng phải phục tùng cha mẹ, phải cố làm cho cha mẹ tự hào. Nguyên nhân có thể do quan niệm của Nho giáo và do cha mẹ hy sinh vì con rất nhiều.

3- Cha mẹ người Hoa tin rằng họ biết điều gì là tốt nhất đối với con mình, cho nên họ phớt lờ yêu cầu và thị hiếu của con mà cứ ép buộc con làm theo ý họ, dù chúng không thích. Thí dụ nữ sinh trung học người Hoa không được có bạn trai và không được qua đêm ở ngoài nhà mình.

Amy Chua kể: Hồi Lulu (tên thân mật của Louisa) lên 7, cháu vẫn chơi hai nhạc cụ, và đang tập chơi piano bài Chú lừa con lông trắng. Bản nhạc rất hay nhưng vì còn nhỏ nên Lulu khó phối hợp được hai tay Tôi kèm cháu tập suốt cả tuần. nhưng tay cháu cứng đờ tập mãi không được. Cuối cùng, Lulu chán nản và tức giận bỏ đàn, giậm chân thình thịch. Tôi ra lệnh: “Ngồi vào đàn ngay!” Lulu cãi: “Mẹ không được bắt con làm thế.” Tôi bảo: “Ô hay, mẹ được làm thế đấy!”

Sau khi ngồi vào đàn, con bé phản ứng bằng cách bấm phím loạn xạ rồi bỗng dưng xé bản nhạc vứt đi. Tôi dán lại bản nhạc rồi kẹp vào bìa ni lông, để nó không thể xé được nữa. Rồi tôi kéo túi đồ chơi của Lulu đến bên chiếc ô tô và bảo: “Nếu ngày mai con chưa tập được bài ấy thì mẹ sẽ đem chỗ đồ chơi này cho đội Xì-cút.” Con bé nói: “Mẹ nên đem cho hết đi từ lâu rồi mới phải.” Tôi dọa không cho cháu ăn trưa, ăn tối, không có quà Giáng sinh, 2-3-4 năm tới không có tổ chức sinh nhật.

Jed kéo tôi ra ngoài khuyên tôi chớ nên mắng Lulu; anh ấy cho rằng dọa con chỉ vô ích, Lulu hoàn toàn không có kỹ năng phối hợp hai tay chơi đàn. Tôi bảo: “Như thế là anh chưa tin vào con bé. Sophia bằng tuổi này đã chơi được bài nhạc ấy rồi.” “Nhưng Lulu không phải là Sophia!” “Không phải thế”, tôi trừng mắt....” Anh cứ để mặc em. Em sẽ dạy nó tập kỳ được mới thôi, em sẵn sàng mang tiếng là người ác đấy!”

Tôi xắn tay áo, kèm Lulu tập đàn bằng đủ mọi cách cho tới bữa ăn tối, không cho cháu nghỉ một phút nào, không cho uống nước, không cho đi toa-lét. Phòng tập đàn cứ như bãi chiến trường.

Cuối cùng không khí chán nản biến mất. Hai tay Lulu đã có thể phối hợp được với nhau. Hai mẹ con cùng cảm thấy sắp thành công rồi. Tôi thở dài khoan khoái. Lulu mỉm cười nói: “Mẹ xem này, dễ thôi mà!” Sau khi chơi thạo bản nhạc, nó không muốn rời cây đàn. Tối hôm ấy cháu ngủ chung giường với tôi. Hai mẹ con ôm nhau như không muốn xa rời nữa.

Mấy tuần sau, Lulu biểu diễn bài Chú lừa con lông trắng rất thành công. Các vị phụ huynh đến nhe xúm lại chỗ tôi khen: “Ôi, Louisa giỏi quá!”

Từ đó trở đi Jed cứ khen tôi hoài...

Người phương Tây tôn trọng cá tính của con, khuyến khích con theo đuổi nguyện vọng của chúng, ủng hộ sự lựa chọn của con và tạo điều kiện cho con thực hiện nguyện vọng ấy. Ngược lại người Hoa tin rằng cách tốt nhất để bảo vệ con là chuẩn bị cho con có một tương lai tốt, làm cho chúng hiểu rằng chúng có thể làm được một việc nào đấy, giúp con có được kỹ năng, thói quen làm việc và có tự tin – đó là những thứ không ai có thể lấy mất khỏi chúng.

Amy Chua là ai?

Amy Chua thừa hưởng phương pháp dạy con nghiêm khắc từ chính cha mẹ mình, những người đã dạy 4 cô con gái của họ khá thành công: cô cả Amy Chua và cô thứ ba Katrin trở thành giáo sư của hai trường ĐH danh tiếng Yale và Stanford. Cô út bị bệnh Đao nhưng từng đoạt hai huy chương vàng môn bơi tại Thế vận hội người tàn tật. Bản thân ông bố cũng là giáo sư khoa Máy điện và Máy tính ĐH California, Berkeley. Một nhà 6 người mà có tới 3 là giáo sư 3 trường ĐH danh tiếng ở Mỹ chứng tỏ gia đình này có truyền thống gia giáo rất tốt; là một điển hình thành công của Giấc Mơ Mỹ. Vì vậy không có lý do gì nghi ngờ Amy Chua là người có tâm lý không bình thường. Năm 22 tuổi, bà tốt nghiệp khoa kinh tế ĐH Harvard với thành tích “cực giỏi”.

Nên dạy con theo cách nào?

Cách dạy con của phương Đông và phương Tây đều có những mặt mạnh và yếu, không thể đơn giản thay thế nhau.

Cách đây ít lâu ở ta có phổ biến trên mạng tài liệu “Dâu Tây dạy con”. Nhiều người thấy hay đã thử áp dụng, nhưng chẳng được bao lâu đành thôi. Lý do: trẻ con ta khác trẻ con Tây, khác từ hàng ngàn năm nay. Trẻ con Tây có tính tự lập cao từ nhỏ.. Ở Nga muốn bế một đứa bé 2 tuổi thì luôn bị nó từ chối: “Sam, sam ...” (Để cháu tự đi) – khác hẳn trẻ con ta thích bế ẵm. Ra bãi biển, thường thấy trẻ con Tây 2-3 tuổi chơi giỡn sóng không có bố mẹ kèm. Ở ta không ai để con chơi như vậy và lũ trẻ cũng không dám chơi một mình.

Người châu Á dành quá nhiều sức cho việc kèm cặp chăm chút dạy bảo con từng ly từng tý, lúc nào cũng sợ con ốm con hư. Trẻ con Tây được tự do hơn. Nữ sinh trung học có quyền dẫn bạn trai vào phòng ngủ của mình, bố mẹ không được can thiệp. Ở ta, con cái bị cha mẹ cấm đủ thứ. Quả thật, không cấm thì chúng rất dễ hư, làm khổ cha mẹ.

Phương Tây rất chê cách dạy con của phương Đông, cho là không tôn trọng nhân quyền, thiếu nhân tính, chuyên chế áp đặt, tước mất tuổi thơ của lũ trẻ; chúng có thể học giỏi nhưng giỏi thuộc lòng chứ không có sáng tạo. Nhà kinh tế lừng danh Larry Summers (nguyên Bộ trưởng Tài chính thời Tổng thống Clinton, cố vấn kinh tế mấy đời Tổng thống Mỹ) khi tranh luận với Amy Chua có nói: nếu các bà mẹ của Gates và Zuckerberg là Mẹ Hổ thì họ nhất định không cho con trai họ bỏ học ĐH Harvard để lập công ty riêng, và như thế loài người sẽ không có Microsoft và Facebook.

Có người ví trồng người như thể trồng cây. Ở phương Đông, cây được cha mẹ che chắn, chăm bón từ nhỏ, cây lớn nhanh nhưng khi gặp mưa bão sâu bọ thì dễ hỏng. Tại phương Tây, cây mọc trong rừng không được cha mẹ chăm sóc mà phải tự lớn lên, thân cứng cáp, nhưng lớn chậm, có điều khi đã lớn thì rất khó bị mưa bão sâu bọ làm hỏng.

Đúng là Trung Quốc hiện nay đào tạo được nhiều kỹ sư hơn Mỹ, nhưng vẫn chưa hề có giải Nobel nào cả! Nhưng người châu Á không phải không có lý khi bào chữa: thà để con bị mất tuổi thơ còn hơn là để chúng ra đời không có tương lai sáng sủa. Xã hội phương Tây được tổ chức tốt hơn, trật tự, kỷ cương; mọi công dân, nhất là trẻ em, được nhà nước chăm sóc chu đáo, thậm chí được bảo đảm có cuộc sống ổn định từ trong bụng mẹ cho tới khi xuống mồ, cha mẹ già không phải nhờ cậy con. Họ có thể cho con chơi game tùy ý mà con vẫn trưởng thành tốt. Ở ta thì khác. Trẻ lêu lổng lười học thì dễ hư hỏng, vì xã hội có rất nhiều cạm bẫy.

Câu chuyện dạy con của Mẹ Hổ đang tiếp tục được dư luận tranh cãi om xòm. Người Mỹ nói riêng và phương Tây nói chung sau đây sẽ có thay đổi gì trong cách nhìn nhận phương pháp giáo dục của phương Đông hay không? Điều đó chúng ta hãy chờ xem.

(sưu tầm)


4/6/10

NHẬT BẢN VÀ CĂN CỨ QUÂN SỰ MỸ


Việc đưa căn cứ quân sự của Mỹ khỏi Futenma (Okinawa) là vô cùng phức tạp. Nếu căn cứ vẫn ở nguyên chỗ đó, người dân Okinawa sẽ vẫn tiếp tục phản đối. Nếu căn cứ được di chuyển đến một vị trí khác trong Nhật Bản, thì dư luận vẫn không chịu buông tha và tinh thần chống Mỹ sẽ vẫn được kích động. Nếu căn cứ được chuyển hoàn toàn khỏi lãnh thổ Nhật Bản, người dân sẽ than phiền về việc để tiền Mỹ đội nón ra đi.

Tại sao Mỹ vẫn duy trì căn cứ quân sự tại Nhật Bản? Một trong những nguyên nhân là sự ỳ trệ. Mỹ xâm chiếm Okinawa năm 1945, ban đầu những căn cứ là chiến lợi phẩm. Ngay cả sau khi Okinawa được trả lại cho Nhật Bản năm 1972, một phần sáu diện tích đảo vẫn do Mỹ chiếm đóng và là nơi đồn trú của 75% lính Mỹ tại Nhật Bản.

Nguyên nhân thứ hai là hệ tư tưởng của Chiến tranh Lạnh với những lập luận về một hàng không mẫu hạm không thể bị đánh chìm (nếu như Okinawa được cho Mỹ sử dụng). Theo lập luận đó, thì đây là bức tường thành để đối trọng với một CHDCND Triều Tiên ngang ngạnh và một Trung Quốc đang vươn lên. Theo logic Chiến tranh Lạnh, thì “con sói luôn trực sẵn ngoài cửa, tai ương sẽ xảy ra với bất cứ ai lơ là chuyện canh gác và gây nguy hiểm cho an ninh khu vực”.


Tiếp theo phải kể đến phần việc đầy ấn tượng của quân đội Mỹ xuất phát từ nỗi ám ảnh về sự mất an ninh đó. Theo học giả Chalmers Johnson, tính đến năm 2005 có 737 căn cứ quân sự của Mỹ bên ngoài nước Mỹ (tăng đáng kể sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt) và 2,5 triệu quân nhân Mỹ đồn trú trên toàn thế giới. Điều gì đã xảy ra sau đối với những cam kết đã được đưa ra hai thập niên trước sau khi Bức tường Berlin sụp đổ? Một phần của những cam kết đó đã bị chìm xuồng xuống những chỗ như Okinawa.

Còn một nguyên nhân nữa cho thấy sự ngạo mạn cơ bản của chính phủ Mỹ: “Giữ thần trong chai” xuất phát từ thực tế Nhật Bản không được phép tái vũ trang hóa. Thái độ của quân đội Mỹ dường như là “chúng tôi ở đây là đặc ân cho các anh”.


Nói về đặc ân. Lịch sử cho thấy, một khi đã thiết lập căn cứ ở nước ngoài, người Mỹ thường không rút. Họ thường hoặc thua trận (như trong chiến tranh Việt Nam), không còn sự lựa chọn nào khác (núi lửa Pinabuto hoạt động ở Philippines), hoặc bị nhà độc tài tống cổ (như ở Uzbekistan). Những lập luận về sự cân bằng quyền lực trong khu vực chỉ là sự lừa mị. Đừng bao giờ tính đến những vấn đề về chủ quyền quốc gia – đòi hỏi của đế chế Mỹ bắt buộc sức mạnh quân sự phải được đồn trú ở nước ngoài.


Người Nhật biểu tình đòi Mỹ rút các căn cứ quân sự khỏi Okinawa

Nhưng trong trường hợp Nhật Bản, thì lại xuất hiện diễn biến mới: Vấn đề Futenma đang đánh thức chính phủ Nhật.

Thủ tướng Hatoyama đã bỏ lỡ một số thời hạn đưa ra giải pháp, khiến nhiều người chỉ trích ông là không quyết đoán. Ông đã đến Okinawa nhiều lần để lắng nghe và giải thích cho người dân địa phương. Trong khi đó, phe đối lập là Đảng Dân chủ Tự do (LDP) lại lên án ông Hatoyama là người thất hứa (thực ra chính LDP trong 5 thập niên đã phớt lờ Okinawa, và Haytoyama là người chấp thuận bản hiệp ước do LDP ký kết năm 2006).


Futenma đã giành hết thời gian, khiến người ta xao lãng khỏi các chính sách mà nước Nhật quan tâm như tham nhũng, sự mất cân đối đang ngày một gia tăng trong kinh tế nội địa, những khoản nợ công xấu và tương lai của nước Nhật với dân số ngày một già trong thế giới.


Người Nhật thường được nghe rằng sự bất hợp tác của Nhật sẽ làm yếu đi quan hệ quý giá giữa Nhật và Mỹ, nhưng mối quan hệ này đã lỏng lẻo từ lâu. Tuyên bố về “mối quan hệ song phương bị đe dọa” là không có thật – Mỹ quan tâm nhiều hơn đến việc tăng cường tổ hợp công nghiệp quân sự hơn là an ninh khu vực ở Châu Á.

Nói tóm lại, Nhật Bản càng ít muốn căn cứ Mỹ ở lại thì Mỹ lại càng không muốn ra đi.


Nguồn: Japan Times
Căn cứ quân sự tại Futenma - Wikipedia
Thủ tướng Nhật xin lỗi người dân Okinawa - LAO ĐỘNG
Thủ tướng Nhật Bản từ chức vì mất uy tín - LAO ĐỘNG



18/5/10

NGƯỜI DO THÁI ''MÔ PHẠM"



“Người đàn ông đầu hói, râu bạc, đôi mắt mệt mỏi, ngồi trong phòng làm việc quá rộng ở Washington D.C. và nói về kinh tế. Ông không có bộ dạng chỉ huy. Ông không phải là nhà hùng biện có tài thôi miên. Ông không phải là kẻ vênh váo ta đây, cũng không phải là người có duyên khiến ai cũng phải nghe giống như những người đàn ông có văn phòng quá rộng ở Washington. Lý lẽ của ông không thiên vị hay có màu sắc ý thức hệ, mà dựa trên số liệu và tài liệu học thuật mới nhất. Khi ông không biết điều gì, ông không quát tháo và tháu cáy. Ông mô phạm và đó là điều có ý nghĩa, bởi vì phần lớn sự nghiệp của mình ông là giáo sư”.

Đó là phần mở đầu trong bài giới thiệu về Ben Bernanke, Chủ tịch Quỹ Dự trữ Liên bang (FED hay Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ), người được tạp chí danh tiếng Time bình chọn là “Nhân vật trong năm” của năm 2009. Theo ban biên tập của tạp chí này, cuộc khủng hoảng kinh tế “có thể sẽ còn tồi tệ hơn nếu không có sự chèo lái của vị học giả ôn hòa này”.

“Chúng ta hiếm khi có được sự xem xét lại một cách hoàn hảo suy nghĩ dập khuôn rằng ai không học bài học lịch sử sẽ phải chịu số phận bi đát” - Richard Stengel, trưởng ban biên tập Time, bình luận. Ông còn cho hay Bernanke đã từng viết rằng có thể tránh được đại suy thoái nếu như FED không thực hiện một số hành động mà Quỹ đã từng làm trong cuộc Đại suy thoái thập niên 1930. “Bernanke chẳng những không học được từ lịch sử, mà còn tự viết ra lịch sử: sẽ là bi kịch nếu như ông lặp lại điều đó” – Stengel viết.

Bernanke không giống với hình mẫu của những người nắm giữ quyền lực ở Washington. Ông có vẻ nhút nhát. Không thích những bữa tiệc ồn ào, ông thường trở về nhà ăn cơm với vợ - một người phụ nữ vẫn còn tự nấu ăn cho chồng và đi đổ rác. Sau đó họ chơi ô chữ, đọc sách báo... Ông là tuýp người “mọt sách”. Chỉ có điều đó là “con mọt sách” quyền lực nhất thế giới.

Thời còn giảng dạy tại Đại học Princeton, Bernanke là học giả hàng đầu về Đại suy thoái. Ông biết rõ tại sao FED thụ động của thập niên 1930 lại góp phần tạo ra tai họa – vì đã cương quyết từ chối mở rộng tiếp tế tiền, vì sự nghèo nàn trong sáng tạo và thử nghiệm. Chủ tịch Bernanke quyết tâm không trở thành một vị Chủ tịch FED chỉ huy để vượt qua Đại suy thoái lần thứ hai.


Khi sự hỗn loạn trên thị trường địa ốc Mỹ di căn thành cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, ông đã huy động hàng nghìn tỉ USD và ném chúng vào nền kinh tế; tạo nên những cuộc giải cứu trên diện rộng đối với các công ty tư nhân làm ăn thua lỗ; giảm lãi suất xuống còn 0%; cấp tín dụng cho các quỹ ủy thác, các ngân hàng nước ngoài, ngân hàng thương mại, các nhà sản xuất, các công ty bảo hiểm và hàng loạt đối tượng đi vay khác – những người chưa bao giờ dám mơ đến việc được nhận được của FED; khởi động thị trường tín dụng bị đình trệ ở tất cả các lĩnh vực; thực hiện cuộc cách mạng trong tài chính địa ốc với làn sóng ngoạn mục mua bán những văn bản cầm cố; tăng cán cân của FED lên 3 lần so với quy mô trước đây; và nhìn chung đã biến chuyển vũ đài yên ả của ngân hàng trung ương thành sân khấu của khúc tùy hứng liều lĩnh.

Vị Chủ tịch tiền nhiệm của FED – ông Alan Greenspan, đã tạo nên sự sùng bái cá nhân một cách kỳ cục. Bernanke hy vọng đưa FED trở lại là nơi được càng ít người biết đến càng tốt. Nhưng những bước đi xông xáo của ông nhằm tránh ngày tận thế, cũng như mối quan hệ mật thiết một cách bất thường với hai vị bộ trưởng tài chính của Bush và Obama là Henry Paulson và Timothy Geither đã khiến ông và cơ quan của ông bị chỉ trích từ tất cả mọi phía.

Ông được gọi bằng những biệt danh như Bailout Ben (ông Ben Giải cứu), thần hộ mệnh của lũ ô trọc ở Wall Street (thị trường chứng khoán New York), hay Vua Ben – sa hoàng không ngai của nhánh thứ tư trong chính phủ. Ông giữ quan điểm từ tốn về lạm phát, đem tiền rải khắp đất nước, nói năng nhẹ nhàng về nạn thất nghiệp, phớt lờ những lời kêu khóc của Main Street đòi phải có hành động quyết liệt hơn. Điều đó khiến những người theo chủ nghĩa tự do quyết tâm phong tỏa việc bổ nhiệm ông thêm một nhiệm kỳ kéo dài 4 năm nữa. Nghị sĩ Đảng Tự do Ron Paul lớn tiếng quảng bá cuốn sách “Kết liễu FED”, kêu gọi Quốc hội Mỹ xem xét lại các điều luật cắt một số quyền và sự độc lập của FED.


Một ngày trước khi Quốc hội Mỹ xem xét quyết định này, tạp chí Time đã tung ra quả tạ khổng lồ - bầu chọn Ben Bernanke nhận danh hiệu cao quý nhất của báo chí Mỹ “Nhân vật trong năm”. Với 16 phiếu thuận và 7 phiếu chống, Ủy ban Ngân hàng Thượng viện đã thông qua việc bổ nhiệm người đàn ông 56 tuổi này làm Chủ tịch FED nhiệm kỳ thứ 2. Tuy nhiên, ông cũng phải đối mặt với sự phản đối gay gắt và áp lực phải đưa FED vào khuôn khổ. Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ Chris Dodd - Chủ tịch Ủy ban cho hay, ông vẫn ủng hộ Bernanke, mặc dù FED đã thất bại trong việc thực hiện chức năng giám sát và bảo vệ người tiêu dùng.

TNS Bernie Sanders – một người theo đường lối tự do, thừa nhận: “Wall Streer rất quyền lực. Bernanke là người của họ và họ muốn người của họ vẫn ở lại nhiệm sở”. Ai cũng biết thế lực tài chính mạnh nhất nước Mỹ đều do người Do Thái nắm giữ. Và Ben Bernanke không xa lạ với cộng đồng này. Ông là người Do Thái.

Ben Bernanke - WIKIPEDIA



 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết