Hiển thị các bài đăng có nhãn Belarus. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Belarus. Hiển thị tất cả bài đăng

7/9/11

MINSK - NHÌN TỪ TRÊN CAO


Minsk - thủ đô Belarus. Thành phố bị phá hủy hoàn toàn trong Chiến tranh Thế giới thứ 2 và được xây dựng lại sau chiến tranh. Minsk do vậy là thành phố trẻ. Thời Liên Xô, đây là một trong những thành phố đẹp nhất, hiện đại nhất và sạch sẽ nhất. Giờ đây, Minsk vẫn sạch vẫn đẹp như thế và hầu như không có sự xô bồ giống như các thành phố khác của Nga. Minsk được mệnh danh là "thành phố cấm".

Ảnh 1. Tháp cạnh Bộ Quốc phòng Belarus.


2. Khu vực tháp truyền hình.

3. Đảo Nước mắt (kỷ niệm những chiến sĩ chết trong chiến tranh Afghanistan)
trên sông Svisloch.


4. Cung thể thao và Sân trượt băng trong nhà.

5. Nhìn từ đỉnh ngôi nhà cao nhất Minsk.

6.Quảng trường trung tâm.

7. Trên nóc tòa nhà cạnh ga đường sắt.

8.9.10.11. Quang cảnh khu vực Nemiga.




12. Công viên Chiến thắng. Hồ Komsomolskoe.

13. Quảng trường Chiến thắng.

14. Thư viện Quốc gia Belarus.

15. Tháp đồng hồ trên đại lộ chính của Minsk.

16. Trụ sở chính phủ Belarus.

17. Dưới Quảng trường Độc lập là trung tâm thương mại ngầm "Thủ đô".

18. Nhà thờ Thánh Simeon và Elena.

19. Sân vận động Dinamo.

20. Trước Nhà hát Ballet và Opera Quốc gia.



15/3/11

MỘT CHIỀU LẠNH BẤT NGỜ


Sang nửa cuối tháng 3 rồi mà còn có gió mùa đông bắc. Đã thế dự báo thời tiết còn nhắc nhở đợt gió này cường độ rất mạnh, nhiệt độ sẽ tụt xuống 12 độ C và có thể kèm mưa đá.

Trưa đi dự một đám cưới, tình cờ ngồi đúng bàn với người bạn đã lâu không gặp. Chị thổ lộ: "Ngày mai mình đi Belarus. Ở bên đó nên đi thăm thú chỗ nào, dịp này có lễ hội gì không?"

Belarus! Cái tên ấy mới thân thương làm sao! Và tự nhiên nó được nhắc đến trong một ngày trời trở lạnh bất ngờ.

Mới đó mà đã 26 năm trôi qua. Thế mà cứ ngỡ như ngày hôm qua. Belarus là thiên đường tuổi trẻ của tôi và của rất nhiều người khác.

Một thời gian nan, một thời đẹp đẽ.

Nếu như 26 năm trước, có người nói: "Mai mình đi Liên Xô" (Nga, Ukraina, Belarus hay Uzbekistan, Gruzia, Azerbaijan gì gì nữa thì cũng đều là Liên Xô), thì câu tiếp theo sẽ là: "Bên đó hàng gì đang bán chạy (để mua mang sang), có thể mua được hàng gì (để mua đem mang về)?". Nhưng bây giờ thì người ta đã hỏi câu khác.

Khách sạn Đỏ

Ở cái thiên đường tuổi trẻ ấy, chúng tôi đã đi đâu? Tôi nói với người bạn: "Belarus đẹp lắm đấy. Nhưng sang mùa này thì chán chết. Tuyết tan, lép nhép, bẩn thỉu, xám xịt... Thôi cứ được đi là tốt rồi".

Rồi tôi kể ra những cái tên: Pháo đài Brest - Брестская крепость, làng Khatyn - Хатынь (những di tích của Đại chiến Thế giới II), Công viên quốc gia hồ Naroch, Biển Minskoe (thực ra là cái hồ đào rất rộng ở ngoại ô thủ đô Minsk - Минск), Bảo tàng kiến trúc dân gian, Rừng cấm Berezinski, các lâu đài Mirski và Lidski, rừng nguyên sinh Belovezhskaya Pusha - Беловежская пуща...

Còn lễ hội thì sao? Ngày 19.3 ở Belarus có lễ hội Thánh Iosif. Chỉ nghe thế, chứ chưa biết cái lễ hội này ra sao.

Bỗng nhiên thấy nhớ Belarus quay quắt.

Mùa hè 1986, trước khi lên tầu trở về Việt Nam, bạn hỏi: "Bao giờ cậu lại sang"? Nói đại: "Sau 5 năm nữa".

Thế mà rồi sau 5 năm nữa cũng sang thật. Lúc đó là tháng 8. Mùa thu vàng vẫn mê mải đẹp, nhưng đó là đã là thời tao loạn. Cuộc đảo chính bất thành vừa diễn ra ở Mátxcơva, không khí hừng hực bao trùm lên thủ đô Liên Xô. Minsk thì vẫn yên ả thế, gặp lại bạn bè cả Nga lẫn Việt, các cô giáo. Ai cũng quan tâm, trìu mến.

11 năm sau đó, mùa hè 2002 mới có cơ hội đặt chân đến Minsk lần thứ ba. Tầu nhanh đi một đêm từ Mátxcơva. Con tầu quả là một cuộc cách mạng so với tầu thời Liên Xô. Sang trọng, tiện nghi hơn cả TGV của Pháp. Sáng sớm sau khi Minsk đang ngái ngủ thì tầu đến ga. Một nhà ga mới sáng choang, bóng loáng, hiện đại với những bảng điện nhấp nháy đã mọc lên thế chỗ cho nhà ga cũ.

Quảng trường ga Minsk.

Bỗng thấy tiếc cái ga cũ. Bao nhiêu lần trên đường đến trường đã đi qua trước mặt, sau lưng của nó, đã thuộc nó, thế mà nay nó đã vĩnh viễn thuộc về quá khứ...

Minsk của thời kinh tế thị trường vẫn sạch sẽ, ngăn nắp như dưới thời Liên Xô. Và hầu như không có một tấm biển quảng cáo nào!

Trở lại thăm ký túc xá số 3, nhà 15, phố Artilleristov. Đường xá dẫn đến khu ký túc xá đã thay đổi toàn bộ. Bà thường trực từ giữa thập niên 1980 vẫn ngồi đó, nhưng nhất định không cho vào. "Có, tôi nhận ra cậu đã từng ở đây, nhưng không vào được. Cậu là người nước ngoài, giờ là mùa hè không có ai ở đây cả, phải có lệnh của Ban giám hiệu, tôi mới cho cậu vào được" - bà lạnh lùng giải thích.

May mà có cô giáo dạy văn đi cùng. Cô hỏi: "Bà cũng nhận ra tôi là giáo viên của trường phải không? Vậy thì bà hãy cho cậu ấy vào. Tôi bảo đảm không có chuyện gì xảy ra. Người ta tận từ một đất nước xa xôi đến đây, chỉ để thăm lại căn phòng đã ở năm xưa. Còn nhớ là còn quý, đúng không bà?"

Bà thường trực lẳng lặng đồng ý cho tôi vào.

Khu nhà này trước đã từng là ký túc xá tốt nhất của trường, nhưng nay xuống cấp trầm trọng. Cầu thang ẩm mốc. Tôi lên căn phòng số 513 đã từng ở xưa kia. Cánh cửa khép hờ. Hai chiếc giường trơ đệm, hai chiếc ghế để úp trên mặt bàn viết. Giấy dán tường chỗ rách chỗ lành.

Tôi tiến đến sát cửa sổ và nhìn thấy những ngón tay xanh mướt của cây bạch dương mọc dưới sân vươn lên mơn trớn bậu cửa. Bất giác tôi thở dài...

Hai cô trò đi xuống, chụp ảnh chung bên cây bạch dương, cố gắng lấy cho được biển số nhà. Cô an ủi: "Sang tháng người ta sẽ sửa lại ký túc xá này. Lần sau em tới, nó sẽ đẹp hơn".

Cô giáo tôi tỏ ra hài lòng với sự yên bình và ổn định ở Minsk. Cuộc sống không xáo trộn như trên khắp nước Nga rộng lớn. Người Belarus dường như thích trật tự cũ hơn là một xã hội dân chủ với đầy rẫy những bất trắc.

Belarus thân thuộc với những kỷ niệm quá đẹp của một thời tuổi trẻ ngày một lùi xa hơn. Để rồi hôm nay, tại cái đám cưới xa lạ, được một người nhắc tới, ký ức ồ ạt kéo về.

Thật nhớ. Nhớ trong một chiều lạnh bất ngờ...

Tuổi trẻ của tôi, Belarussia... Молодость моя, Белоруссия...

Chẳng lẽ phải sau đúng 11 năm mới quay trở lại Minsk lần thứ tư?




Entries liên quan:
HOA TULIP TRÊN TUYẾT
RỪNG NGA
BELLE VUE
YESTERDAY
BỨC THƯ GIÁNG SINH TỪ CÔ GIÁO CŨ


5/1/11

BỨC THƯ GIÁNG SINH TỪ CÔ GIÁO CŨ



Hôm nay là lễ Giáng sinh.

Đọc câu này, chắc sẽ có người hỏi: "Giáng sinh nào? Giáng sinh đã qua từ hơn 10 ngày trước rồi còn gì?"

Nhưng hôm nay đúng là Giáng sinh. Giáng sinh của những người theo đạo Slavơ Chính thống ở các nước như Nga, Ukraina, Belarus, Serbia...

Sáng mở email, thấy thư của cô giáo người Belarus dạy văn học hồi năm thứ ba ở Minsk. Mạn phép cô xin chép ra đây chia sẻ cùng mọi người:

"Chào em,

Thời gian mới đã đến ngoài sân.

Năm qua là một năm tồi tệ và nặng nề đối với cô. Em đừng nghĩ là em có lỗi gì đó khiến cô không viết cho em trong suốt năm qua. Cô vẫn nhớ em và vẫn yêu quý em như trước đây.

Người ta đã cho cô nghỉ hưu. Và cô không làm sao giảng hòa được với thực tế đó.

Mỗi người có một nguồn tài nguyên sống, và cô vẫn chưa khai thác hết nguồn tài nguyên ấy, thế mà người ta nỡ xử sự với cô như vậy.

Cô không tài nào trấn tĩnh được, và từ đó xuất phát bệnh tật, những nỗi thất vọng, không còn muốn gặp ai để người ta khỏi phải thông cảm và thương hại.

Chưa kể những điều tồi tệ khác trong thế giới này.

Em hiểu điều đó chứ? Chắc chắn là em hiểu rồi.

Cô lập tức trở thành già cả, không còn cần thiết nữa, không một tiếng chuông điện thoại từ trường đại học.

Số phận thật khủng khiếp.

Bây giờ thì cô hiểu rằng con người ta sống bằng nguồn năng lượng của chính mình, nguồn năng lượng mà mẹ và thiên nhiên ban tặng. Ta tiêu năng lượng đó cho ta, cho những người khác, thế mà có người lợi dụng cơ hội khi mà năng lượng đó đang cạn dần để vội vã loại bỏ ta ra khỏi cuộc sống chung.

Nhưng ta vẫn còn sống. Và không chỉ có thế, ta vẫn còn nguồn năng lượng dự trữ, để sống và thực hiện những trách nhiệm của mình, thế mà có ai đó từ chối ta và tước đoạt quyền công dân đầu tiên của ta – quyền được lao động.

Thật kinh khủng.

Cho cô than thở với em một chút như thế nhé.

Em nhất định phải viết cho cô, công việc của em thế nào, em đang suy nghĩ gì, em có thay đổi gì không?

Em cần phải biết một điều là cô chỉ chúc em những điều tốt đẹp nhất.

Đừng đánh mất chính mình.

Cô giáo của em".

Cảm ơn cô. Vẫn còn chưa trấn tĩnh lại sau cú sốc về hưu sớm, nhưng cô không quên nhắc nhở em: "Đừng đánh mất chính mình".

Em thành tâm chúc cô một Giáng sinh an lành, mong sao những điều tồi tệ sẽ sớm qua và 2011 sẽ đem đến cho cô những niềm vui mới, nghị lực mới, để cô lại thấy mình là người cần thiết, nếu không cần thiết được với nhiều người, thì với một số ít người thôi cũng được, trong đó có em. Cô nhé?

Ảnh trong entry chỉ có tính chất minh họa.

Entry liên quan:
Rừng Nga



26/1/10

CÀPHÊ VÀ TUYẾT



Tự nhiên muốn nhìn thấy tuyết bay. Vẫn còn nhớ buổi tối mùa đông đầu tiên ở Minsk cuối năm 1985. Ra khỏi rạp chiếu phim sau khi xem phim "Anh đào mùa đông" thì thấy tuyết rơi. Tuyết đầu mùa trắng tinh, xoay tròn trong gió. Ngửa cổ thích thú ngắm nhìn những bông tuyết nhỏ xíu lung linh trong ánh đèn đường, rơi nhẹ xuống tóc. Giơ tay hứng tuyết, thấy nó đậu nhè nhẹ lên tay và khe khẽ cựa mình tan chảy.

Tự nhiên muốn uống cà phê ở quán càphê của Gare de Lyon ở Paris. Quán nhỏ sực nức mùi càphê thơm nồng và quyến rũ, không hiểu những người đàn ông Thổ rang say và pha ra sao mà ly càphê lại thơm ngon đến như vậy. Ly càphê ở Paris chỉ bằng một phần ba ly càphê ở Việt Nam, tợp một miếng là hết. Muốn ngồi lâu phải gọi hai - ba ly.

Cái quán đó lúc nào cũng đông. Đủ loại người ngồi ở đây: da trắng, da đen, da nâu, da vàng, thuộc các nền văn hóa khác nhau với các đức tin khác nhau, nhưng cùng chung một niềm đam mê với càphê. Những bản nhạc Pháp lúc dạt dào lúc lơi lả làm cho cái không khí uống càphê rất vào.

Người sắp đi xa ngồi uống cà phê trước khi lên tầu. Người đi tiễn buồn rầu, lưu luyến. Người đến đón bồn chồn. Người vừa xuống tầu, muốn đôi chút thư thái để dọn mình bước vào thành phố đông đúc kia. Người vừa đón được ai đó cũng vào đây để uống mừng gặp mặt.

Đủ mọi tâm trạng.

Ly càphê là chất xúc tác đẩy họ đến tận cùng tâm trạng, có thể vui hơn, có thể buồn hơn. Càphê làm dung môi cho tất cả các cảm xúc.

Bỏ nỗi buồn vào đó khoắng cho nó tan ra.

Bỏ niềm vui vào đó nghe nó trào lên trong mùi hương.

Bỏ cô đơn vào đó để nhấm nháp vị đắng.

Bỏ tình yêu vào đó để thấy tim đập mạnh.

Bỏ tuyệt vọng vào đó để thấy nó tan chảy và hòa quyện trong một thứ dung dịch mà người ta khó chối từ...

Tôi đã ngồi đó chờ đợi chuyến tầu khởi hành từ Paris về miền đông nam nước Pháp. Ngoài kia tuyết rơi. Tuyết cuối mùa. Nó đã ngừng rơi từ cả tháng nay để nhường chỗ cho những bước chân rón rén của mùa xuân, nhưng rồi đột ngột quay trở lại để nói lời giã từ cuối cùng. Những chiếc áo khoác to sụ tối màu không còn nhiều, thay vào đó là những màu sắc mùa xuân rộn rã.

Đi qua ga tầu này có người bước hối hả, có người bước ung dung, có người chạy. Nhìn bước chân của họ, dáng vẻ của họ, gương mặt của họ có thể đoán được cuộc đời và số phận của mỗi người. Thật thú vị khi bỏ ra vài đồng franc ta có được quyền công khai theo dõi những con người đi qua mà không khiến ai phải khó chịu.

Tuyết và càphê. Một thứ trắng, một thứ đen.

Nào hãy gọi một ly càphê. Thả vào đó một chút đường. Giống như những bông tuyết nhẹ rơi xuống làn nước tối sẫm bốc khói nghi ngút. Hít một hơi thật mạnh mùi thơm quyến rũ tỏa ra từ ly càphê nóng hổi. Và nhấm nháp cuộc đời với dư vị tinh khôi mà trời đất thả vào qua những giọt tuyết.

Càphê và tuyết. Một thứ đen, một thứ trắng.

Ước gì có hai thứ ấy.

Ở quán càphê thơm nồng trên Gare de Lyon.



12/5/09

HAI ẤN TƯỢNG TẠI EUROVISION 2009



Cuộc thi ca nhạc truyền hình Châu Âu Eurovision 2009 đang diễn ra tại Mátxcơva, thủ đô Nga. Eurovision có truyền thống là cuộc thi được tổ chức ở nước có đại diện chiến thắng tại cuộc thi năm trước. Dima Bilan, ca sĩ Nga chiến thắng tại Eurovision 2008 ở Belgrad (Serbia), nên Eurovision 2009 diễn ra ở Nga là vì vậy.

Xem qua phần thi vòng loại của các thí sinh đến từ 40 nước, tôi có ấn tượng mạnh với hai ứng cử viên sau đây:

1. Alexander Rybak

Chàng trai này sinh tại Minsk (Belarus) năm 1986. Lên 4 tuổi, Alexander theo cha mẹ sang định cư tại Na Uy. Thừa hưởng gene âm nhạc của cha mẹ (đều là những nhạc công nổi tiếng), Alexander hiện nay vừa có thể sáng tác, vừa hát vừa kéo đàn violon (những thế mạnh này đều được chàng trai phô diễn trong video clip).



Alexander mang đến Eurovision 2009 bài hát "The fairytale" (Câu chuyện thần tiên) do chính anh tự sáng tác. Giọng hát tuy không thật xuất sắc, nhưng bù lại phần âm nhạc rất độc đáo, với chất liệu âm nhạc dân gian Na Uy rất rõ nét. Bài hát do vậy có sức cuốn hút rất lớn.

Các nhà cái đặt cược rất lớn cho Alexander và hiện nay anh đang là ứng cử viên số 1.

2. Anastasya Prikhodko

Lẽ ra Anastasya (ảnh) tham gia vào vòng loại để làm đại diện cho Ukraine tại Eurovision. Nhưng do một vài lý do, cô đã không thể tham gia vòng loại đó. Do đã từng tham gia vào cuộc thi ca nhạc "Fabrika Zvezd" (một dạng Idol) của Nga, nên cô quyết định ứng thí ở Nga vài ngày trước khi cuộc thi diễn ra và kết quả là cô được chọn làm đại diện cho Nga tại Eurovision.

Một thành viên của BGK vòng tuyển chọn của Nga cho hay: Họ hoàn toàn bị giọng hát của Anastasya thuyết phục.



Do chuẩn bị thi từ Ukraine, nên cô hát một ca khúc có âm hưởng dân ca Ukraine với nhan đề "Mamo" (Mẹ). Nhưng nay chuyển sang đại diện cho Nga, nên Anastasya phải hát bằng tiếng Nga và chỉ có thể hát đoạn điệp khúc bằng tiếng Ukraine trong nguyên bản.

Bài hát là sự sám hối của người con đối với những nỗi đau mà người mẹ đã trải qua. Quả thực đó là một ca khúc đầy ám ảnh.

Các nhà cái xếp Anastasya ở vị trí 15.


26/11/08

BÁNH MÌ (1)



Hiển nhiên, tôi thích bánh mì.

Thời bé, tức là hồi đầu thập niên 1970, tôi coi bánh mì như là một món quà xa xỉ. Sáng chủ nhật được mẹ dẫn đi chợ, tôi thích đứng ngoài cổng chợ. Nơi ấy có xưởng bánh mì nhỏ.

Háo hức xem người ta ngào bột, nặn thành những cục bột dài, xếp chúng lên khay, lấy lưỡi dao khía nhẹ dọc theo cục bột (khi bánh chín khía ấy sẽ thành bụng bánh), hồi hộp ngó theo chú công nhân mặc áo may ô, mặt lấp lánh mồ hôi, đẩy từng khay bánh thô vào lò nướng và rút những mẻ bánh chín vàng ruộm ra khỏi lò; phấn khởi hà hít mùi bánh chín thơm ngát.

Thời đấy, bánh mì bán bán qua sổ gạo, trừ vào khẩu phần gạo. Mỗi cân gạo mua được 5 chiếc bánh. Cân gạo thời đó rất quý, nên không ai dám ăn lạm vào khẩu phần thiết yếu hàng ngày. Vì vậy, bánh mì chỉ là món quà.

18 tuổi, sang Liên Xô, thấy ê hề bánh mì. Tôi còn nhớ cái buổi sáng chủ nhật đầu tiên đặt chân đến Minsk, tôi và Dũng (anh bạn cùng phòng người Hải Phòng) chạy loanh quanh khu vực gần ký túc xá đến nửa tiếng đồng hồ mới tìm được một cửa hàng thực phẩm mở cửa vào ngày nghỉ.

Tôi lấy đồng 10 rúp duy nhất (ông chồng bà dì dúi cho trước khi lên máy bay) để mua thức ăn. Hai đứa chọn hết cái nọ đến cái kia, bỏ ra gần 3 rúp mua thức ăn trong đó có cả bánh mì, khệ nệ bê về ký túc xá. Cái bụng lép kẹp của hai cậu sinh viên đói ăn từ một đất nước đói kém mới sang chỉ ăn hết 1/5 số đồ mua được.

Ăn no, nhìn đống đồ ăn mang về, Dũng bảo: "Chúng mình giống người thủy thủ trong chuyện "Khát vọng sống" của Jack London". Cả hai cười chảy nước mắt.

Ở Liên Xô, tôi học được cách ăn bánh mì. Các nhà ăn đều phát không bánh mì, ăn kèm với thức ăn bán ở đó. Nhưng tại những vị trí dễ nhìn thấy nhất trong nhà ăn, người ta cho treo những tấm poster với hình vẽ rất ấn tượng kêu gọi mọi người tiết kiệm bánh mì. Những mảnh vụn từ chiếc bánh mì chảy xuống ngưng tụ thành đống tiền ở bên dưới.

Người Liên Xô thường chỉ lấy 2 lát bánh mì, nếu ăn hết, họ đứng dậy đi lấy thêm một lát nữa. Không hoang phí bánh mì, không hoang phí điện trở thành thói quen và cách hành xử có đạo đức của một công dân văn minh.

Tôi cũng yêu bánh mì đen từ thời đó.

Bánh mì đen của Nga làm từ bột lúa mạch đen có mùi thơm dịu ngọt và ngai ngái của đất đai xứ sở Bạch Dương. Có những người không thích vị hơi chua của bánh mì đen, song những ai chịu được vị đó thì rất dễ bị nghiện.

Cô giáo người Nga của tôi kể một câu chuyện thế này: Trong thời gian chiến tranh Nga - Thổ trong thập niên 40 của thế kỷ 18, đạo quân Nga 54 nghìn người tiến vào lãnh thổ đối phương ở Krym. Những chuyến xe chở lương thảo (bột lúa mạch đen) bị lạc trên thảo nguyên Ukraina. Các "anh nuôi" buộc phải nướng bánh mì từ bột lúa mạch bình thường mua tại chỗ.

Quân Nga ăn bánh mì trắng và bắt đầu bị bệnh. Những người có sức đề kháng tốt hơn thì tuy không ngã bệnh nhưng đều cảm thấy uể oải, mệt mỏi. Hoá ra họ đã quen với bánh mì đen, thứ đồ ăn tuy kém hợp nhãn, nhưng lại giàu vitamin và khoáng chất, có thể đem lại cho họ sức mạnh cần thiết chống chọi với thời tiết và gian khổ trên đường hành quân.

Nhà ăn ở ký túc xá sinh viên ít khi có bánh mì đen. Đơn giản vì bánh mì đen đắt hơn bánh mì trắng.

(còn nữa)

14/8/08

GOGA - MỘT NGƯỜI GRUZIA



Ở chung trong 4 ngôi nhà cao tầng của ký túc xá Đại học Sư phạm Quốc gia Minsk (Belarus) những năm 1985 - 1986 là sinh viên đến từ nhiều nước: Từ Liên Xô có Nga, Belarus, Ukraina, Kyrgizia (Kyrgyzstan), Gruzia (Georgia)... Nước ngoài thì có Việt Nam, Bulgaria, Cuba. Tôi thân với Kolia (Belarus) và Goga (Gruzia).

Những lúc rảnh rỗi, Goga thường chạy đến phòng tôi, nằm đại xuống một chiếc giường và nghe nhạc. Chẳng là trong phòng tôi có máy quay đĩa (không phải đồ xịn lắm), nhưng là thứ mà trong phòng các sinh viên Liên Xô thường không có. Hơn nữa phòng tôi có một bộ sưu tập đĩa hát khá phong phú.

Goga rất vui tính, nói tiếng Nga nặng âm đặc trưng của người Gruzia. Cậu kể với tôi đủ thứ chuyện, từ chuyện trên lớp, chuyện ở quê, tới các cuộc chinh phục những cô nàng yêu kiều thuộc đủ quốc tịch học trong trường.

Goga cũng hay sốt sắng giúp các sinh viên Việt Nam mua thứ nọ, bán thứ kia. Các phi vụ cậu làm đều trót lọt và chúng tôi cũng chẳng để cậu thiệt bao giờ. Thỉnh thoảng cậu lại cầm sang cho tôi mấy thứ đồ ăn mà mẹ cậu nhờ ai đó lặn lội mang từ Tbilisi đến Minsk cho cậu (hai thành phố cách nhau khoảng 4.000 km đường xe lửa).

Chúng tôi nhấm nháp và cậu nói: "Này, trong cái ký túc xá này tao thích nhất bọn Việt Nam chúng mày". "Tại sao" - tôi hỏi. "Tại vì chúng mày giống người Gruzia" - cậu trả lời. Tôi cười, nói đùa: "Thôi, tụi tao mà giống chúng mày để bị người Nga ghét à!". Cậu xịu mặt không nói gì.

Người Gruzia có mặt khắp Liên bang Xô viết. Họ có những con người nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực: Loại chính khách lẫy lừng như Stalin, như Shevardnadze; những nhà văn có tầm ảnh hưởng như Nodar Dumbadze (Trên mảnh đất người đời); những đạo diễn điện ảnh xuất sắc như Georgi Danelia (Marathon mùa thu), Tengis Abuladze (Sám hối)... Đội Dinamo Tbilisi với danh thủ Chivadze một thời khiến nhiều khán giả Việt Nam say mê. Ít ai biết đại kiện tướng cờ vua Gari Kasparov cũng là người Gruzia.

Nhưng người Gruzia cũng danh bất hư truyền trong những chuyện mánh mung buôn bán, láu cá khôn vặt, trăng hoa tình ái. Người Liên Xô trước đây, người Nga hiện nay có hẳn một kho truyện tiếu lâm vô cùng phong phúvề những đặc tính này của người Gruzia.

Dẫu bị mang tiếng, nhưng đàn ông Gruzia lại rất được các bà các cô ái mộ. Nước da ngăm ngăm, nụ cười ngoác đến tận mang tai luôn thường trực trên gương mặt, năng lượng sống lúc nào cũng ngùn ngụt, sự ma ranh đầy duyên dáng... tất cả những điều đó khiến họ hầu như không bao giờ thất bại trên tình trường.


Phụ nữ Nga yêu họ, nhưng cũng căm thù họ. Đàn ông Nga thì đương nhiên cũng chẳng mấy ưa họ.

Nhưng phải công bằng mà nói, người Gruzia cũng khá chân thành và hiếu khách. Nếu được họ coi là bạn, thì họ sẵn sàng sẻ nhà sẻ cửa, giúp đỡ đến đồng bạc cuối cùng.

Khi tôi trở về nước mùa hè năm 1986, bức thư đầu tiên tôi nhận được từ Liên Xô chính là của Goga. Tôi thực sự cảm động về điều đó. Cậu kể cậu đang nghỉ hè ở Tbilisi và đang say mê xem World Cup Mexico. Cậu bảo rất hâm mộ Maradona và hy vọng có ngày được tận mắt xem anh thi đấu ở Tbilisi.

Chúng tôi trao đổi thư từ với nhau một thời gian nữa. Cậu vẫn kể cho tôi nghe những chuyện của cậu, từ gia đình, chính trị, xã hội cho đến những thành công trên tình trường. Cậu cú mỗi chuyện là không cưa được cô gái Việt nào.

Goga ra trường cũng đúng vào lúc Liên Xô bắt đầu có những xáo trộn và ít lâu sau thì tan rã hoàn toàn. Tôi bặt tin cậu từ đó. Nhưng tôi không bao giờ quên cậu, vì cậu thực sự là một người bạn. Cậu sống thật với chính mình, không cao ngạo đạo đức, cũng chẳng che giấu những yếu điểm của mình. Cậu thật như chính con người của cậu vậy.

Quan hệ Nga - Gruzia cơm không lành canh không ngọt đã nhiều lần rồi. Ai cũng đưa ra cái lý của mình. Tôi thì thường nghiêng về lý của người Nga nhiều hơn, mặc dù không phủ nhận là Gruzia vẫn có những người thú vị như Goga.

Ai được lợi trong cuộc chiến ở Nam Ossetia, nơi có hơn 2000 người Ossetia mang quốc tịch Nga bị thiệt mạng? Ai được lợi khi cả Nga lẫn Gruzia phải đưa quân vào đây. Chắc chắn không phải người Ossetia, chắc chắn không phải người Nga, lại càng không phải người Gruzia.

Một hai vị chính khách vì những toan tính đầy tham vọng của riêng mình đã đẩy họ đến với thảm họa. Xem "Đại chiến Xích Bích" của Ngô Vũ Sâm thì thấy chuyện này có từ thời xa xưa rồi. Điều đáng tiếc là ngay cả bây giờ con người vẫn không ngăn chặn được những toan tính tham vọng như vậy.

Ảnh biếm hoạ: Một người Gruzia đọc báo "Moskva - tổ quốc của chúng ta" với dòng tít lớn "Moskva trượt trên vỏ dưa hấu" (Người Gruzia sống ở Moskva rất đông, nên đã coi Moskva là "quê hương" của mình, nhiều người trong số đó buôn dưa hấu tại tất cả các chợ hoa quả).

9/7/08

HOA TULIP TRÊN TUYẾT



Anh vẫn còn nhớ Minsk, những tháng đầu tiên của năm 1986. Tuyết rơi nặng hạt, bao phủ khắp không gian một màu trắng.

Anh từ Riga đến thủ đô Balarus để nghỉ đông theo lời mời của một người bạn đồng hương hơn anh vài tuổi. Người đó quen khá nhiều nữ sinh viên của Trường Sư phạm Gorky. Các em nhờ vả gì cũng đều được anh giúp chu đáo, nên được các cô rất yêu quý.

Anh được người bạn dẫn đi thăm các cô ở đầu kia thành phố. Phải đi tầu điện ngầm, đến ga trung tâm thì xuống đi xe buýt ba bến, sau đó đi bộ một đoạn đường chừng 500 mét mới đến được ký túc xá của các cô.

Đến ga, anh giở ví mua một bông hoa tulip đỏ rực. 5 rúp là số tiền không nhỏ, nhưng một bông tulip giữa mùa đông tuyết trắng xoá với nhiệt độ xuống đến - 15 độ C thì thật chẳng thấm tháp gì. Anh cho bông hoa vào bên trong áo măng tô, như thể ủ ấm cho nó.

Xuống xe buýt, hai anh em lảo đảo bước đi trên tuyết. Do một tay phải giữ bông hoa trong áo, nên anh đi lại hơi khó khăn. Có nhiều chỗ anh phải cố gắng giữ thăng bằng lắm mới khỏi ngã.

Họ đến ký túc xá và gõ cửa phòng 507. Một cô gái có gương mặt trái xoan với hai bím tóc xinh xắn, mắt tròn vo sau cặp kính trắng, hiện ra sau cánh cửa. Anh chết lặng nhìn cô gái. Ở cô có cái gì đó thật quen thuộc mà cũng thật lạ lẫm. Một vẻ đẹp tinh khiết và trong trẻo. Anh chỉ sực tỉnh khi được ông bạn kéo tay vào phòng.

Anh thận trọng mở áo măng tô, rút bông tulip đỏ rực ra và chìa cho cô gái: "Tặng em!".

Cô tất tả lấy một chiếc chai đựng sữa chạy đi lấy đầy nước, mang về đặt lên bậu cửa sổ và trịnh trọng cắm bông hoa vào. Sau đó cô lùi về cuối phòng và ngắm nghía. Quả là đẹp. Bông hoa đỏ rực, phá tan cái màu trắng đơn điệu của lớp băng tuyết bám chắc vào phía bên kia cửa kính.

Cô gái tên là Yên, ở cùng phòng với một cô bạn không đeo kính tên là Ánh. "Yên, thật là bình yên" - anh lẩm bẩm. Lần đầu tiên anh thấy mình luống cuống, chân tay thừa thãi, không biết nói gì.

Hai cô gái đi nấu cơm đãi khách. Ông bạn nhìn dáng vẻ luống cuống của anh nháy mắt: "Bị bắt mất hồn rồi hả?". "Vâng" - anh thú nhận.

Suốt cả bữa ăn anh hầu như không rời mắt khỏi cô gái đeo kính. Cô gái cũng phát hiện ra cái nhìn kỳ lạ của anh và lẩn tránh một cách thiếu tự nhiên.

Ăn xong, hai chàng trai rủ hai cô gái đi xem phim. Cô không đeo kính hỏi: "Nhiệt độ trong phòng ấm thế này liệu bông hoa có mau tàn không nhỉ?". Anh đáp: "Cũng có thể. Tốt nhất là các em đưa nó ra phía bên ngoài cửa sổ. Lát đi xem phim về lại lấy vào". Các cô nghe theo.

Họ đi xem phim. Anh ngồi cạnh Yên. Không nói gì. Anh chỉ muốn chạm vào bàn tay nhỏ nhắn của cô hiện ra sang sáng trong bóng tối. Nhưng một sức mạnh nào đó đã giữ tay anh lại. Anh tin chắc rằng cả anh và cô đều không hiểu bộ phim đang nói gì.

Họ xem phim xong khi đêm đã khuya. Hai chàng trai tiễn hai cô gái về ký túc xá. Trước cổng khu nhà, họ dừng lại bịn rịn. Cô hỏi bao giờ anh trở lại Riga, anh đáp "Ngày kia". Cô rụt rè: "Thế mai mời hai anh lại sang chơi nhé?". Anh thở thật mạnh và nói nhanh: "Hẹn ngày mai gặp lại".

Lần này thì cô chìa tay cho anh. Anh vội vã nắm lấy nó, xiết thật nhanh rồi buông ra, như thể sợ cô gái đọc được hết những ý nghĩ của anh truyền qua bàn tay.

... Chiều hôm sau, anh vượt chặng đường hôm qua, một mình đến ký túc xá. Cô gái có đôi mắt trong veo sau cặp kính cận lại ra mở cửa. Cô cười rạng rỡ và anh thấy trái đất như quay cuồng.

Anh vào phòng và quay về phía cửa sổ. Khung cửa trắng một màu đơn điệu. Hoàn toàn không có dấu ấn đỏ rực của bông tulip!

- Đoá hoa tulip đâu rồi? - anh hỏi ngỡ ngàng.

- Nó chết rồi anh ạ. Hôm qua bọn em về thì thấy nó bị héo quắt lại. Trời về đêm lạnh, cô bạn người Nga ở phòng bên nói nếu hoa cứ để ngoài cây mọc trên tuyết thì không sao, nhưng đã cắt cho vào chỗ ấm rồi mà lại cho ra ngoài lạnh thì nó chết rất nhanh anh ạ. Rút kinh nghiệm lần sau vậy.

Đoá hoa ấy không chỉ được cắt ra cho vào chỗ ấm, mà nó còn được sưởi bằng hơi ấm từ chính trái tim của anh. Sao anh lại quên mất điều đó nhỉ? Sao anh lại ngu ngốc, dại dột bảo các cô đưa bông hoa mà anh đã sưởi ấm ra ngoài trời tuyết nhỉ?

Bông hoa chết làm cho câu chuyện giữa anh và cô trở nên không đầu không cuối. Ngồi được một lát, anh nói với cô chạy ra ngoài phố mua thuốc lá. Nhưng đó là cái cớ để anh quầy quả trở lại ga trung tâm. Thật không may cho anh, cửa hàng hoa mà anh ghé vào hôm qua không còn một bông tulip nào.

Chẳng lẽ quay lại tay không? Anh cảm thấy ngượng, ngập ngừng đi đi lại lại trước nhà ga đến nửa tiếng đồng hồ và cuối cùng quyết định trở về nhà anh bạn.

Ngày hôm sau đoàn tàu đưa anh trở lại Riga trong day dứt. Anh cảm thấy mắc nợ với cô, mắc nợ với chính mình.

Về đến Riga, anh chạy ra bưu điện xin gửi điện hoa 5 bông tulip. Hai ngày sau, anh nhận được một bức điện báo rằng yêu cầu của anh không thể thực hiện được. Nhiệt độ ở Minsk xuống dưới -20 độ C, chắng bói đâu ra hoa tulip.

Nhưng mãi rồi tuyết cũng tan. Nước chảy thành những con suối nhỏ róc rách trên đường, những cây bạch dương trổ mầm xanh ngắt. Nắng lên cũng là lúc tulip trổ bông và khoe sắc rực rỡ trên các đại lộ. Chắc Minsk cũng thế, tulip gửi vào lúc này có giá trị gì nữa đâu???

Học hành cuốn anh vào guồng quay của nó, nhưng thỉnh thoảng trong tâm trí anh lại loé lên hình ảnh bông hoa tulip đỏ ngã gục quắt queo xuống bậu cửa sổ ngập tràn tuyết trắng.

... Mùa hè. Trước môn thi cuối cùng, anh nhận được điện thoại của người bạn: "Này, cô em đeo kính của cậu thi xong rồi. Mai kia lên đường về nước. Cậu có định xuống chia tay không?". Anh vội vã đáp "có".

Nhưng anh phải chờ hai hôm mới đến ngày thi. Trả bài xong, anh vội vã đáp tàu đi Minsk. Mùa hoa tulip đã hết, nhưng có cần gì đến hoa tulip nữa đâu? Nỗi day dứt suốt mấy tháng trời đủ khiến anh hiểu rằng, một bông hoa tulip chết không thể là cái cớ để ngăn cản anh nói lên cái điều mà trái tim anh thôi thúc.

Bạn anh ra mở cửa và ngao ngán lắc đầu: "Gọi cậu từ 3 hôm nay mà sau giờ mới vác xác xuống à? Cô em lên tầu đi Mátxcơva tối qua rồi. Có lẽ giờ này đang chuẩn bị ra sân bay cất cánh về nước..."

Anh ngồi phịch xuống nền nhà.

Giá như bông tulip đỏ không chết...

Giá như... Giá như...

13/7/07

BELLE VUE



Tối hôm trước, đột nhiên ông bạn thân làm nghề chụp ảnh, nhắn tin hỏi: "Bellevue" là gì?

Bellevue chắc chắn là tên một địa danh, một khách sạn, một quán cà phê, hay đại loại một cái gì đó tương tự. Belle Vue tương đương với Beautiful View, hay "quang cảnh đẹp" trong tiếng Việt.

Anh bạn nhắn tin trả lời: "Hay nhỉ!".

Hay chứ! Nhưng cũng chẳng nhất thiết là xung quanh cái địa danh hay khách sạn có gắn tên "bellevue" phải có quang cảnh đẹp. Ví dụ như cô Mỹ Dung chưa chắc đã có dung nhan kiều diễm hay cô Bạch Tuyết chưa chắc đã có làn da trắng nõn nà.

Có may mắn được đi khá nhiều nước, nên tôi cũng đã nhìn thấy nhiều belle vue. Thành phố có lẽ không đâu đẹp bằng Prague (Czech), lâu đài thành quách có lẽ không đâu đẹp bằng Italia, đền đài kỳ vĩ có lẽ Taj Mahal của Ấn Độ xếp đầu bảng...

Nhưng đó chỉ là những vẻ đẹp xa lạ, ta trầm trồ một lát rồi đi. Thảng hoặc có thể nhớ đến, nhưng không mấy chút vấn vương.

Đối với tôi, cho đến giờ phút này, belle vue thực sự, mới chỉ có hai. Một là phong cảnh mùa thu vàng Nga và hai là chiều mưa trên những kênh rạch ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Lần đầu tiên tôi đặt chân đến Nga (chính xác hơn là Bạch Nga) cách đây đã 22 năm. Một đứa trẻ 19 tuổi, chưa một lần xa nhà, tạm thời bị nhấc khỏi những khó khăn chồng chất của thời bao cấp và được đặt xuống thiên đường của chủ nghĩa xã hội.

Vào học được 3-4 tuần gì đó, cô giáo chủ nhiệm lớp là Alla Fedorovna đã đưa cả lớp đi dã ngoại ở Minskoe More. Tôi còn nhớ đó là buổi sáng chủ nhật đầu tiên của tháng Mười. Đấy cũng là thời điểm Châu Âu đổi sang giờ mùa đông, tức chậm lại một tiếng đồng hồ. Do không biết điều này, nên cả lớp đã đến ga sớm, chẳng thấy cô giáo đâu mà cũng chẳng thấy tầu đâu...

Lần ấy tôi biết thế nào là mùa thu vàng. Mùa thu vàng thực sự, chứ không chỉ là mùa thu vàng (đã rất đẹp) trên tranh của Levitan.

Tôi nhớ cái khoảnh khắc đứng trên cây cầu cũ tróc vôi loang lổ. Phía dưới là dòng sông, nước trong vắt có thể nhìn thấy những viên đá cuội tròn và đám rong rêu ngả nghiêng vuốt ve chúng ở dưới đáy.

Gió mùa thu đã bắt đầu lạnh thổi qua những tán cây tạo nên những tiếng rì rào kỳ ảo. Từ cầu phóng tầm mắt về xa thì thấy cả một bản giao hưởng mầu sắc của thiên nhiên. Thoạt tiên là màu vàng chanh, rồi màu vàng tươi, vàng thẫm, rồi màu da cam, rồi màu đỏ. Càng xa ta bao nhiêu, thì hình như cánh rừng mùa thu ấy càng trở nên uất hận bấy nhiêu. Nó kết thúc ở tít tắp nơi chân trời bởi một đường viền sẫm đỏ ối như máu...

Thằng bé 19 tuổi trong tôi đứng sừng sờ trên cầu mà không hề để ý rằng nước mắt nó thốt nhiên chảy dài trên má. Không gì có thể mô tả được cái quang cảnh huy hoàng, kỳ vĩ và thê lương ấy. Màu đỏ ối của rừng thu Nga đã đi theo nó mãi mãi...

7 năm trở lại đây, năm nào tôi cũng đi Đồng bằng Sông Cửu Long hai lần. Và kỳ lạ lần nào từ Sài Gòn đáp xe về Cần Thơ, đều rơi vào những buổi chiều mưa.

Mưa miền Tây buồn lắm. Con đường nhiều khi xuyên qua những cánh đồng và đột nhiên nó có hai đời sống hoàn toàn tách biệt. Trên đường là của thế giới văn minh với những chiếc xe hối hả chạy. Còn ngoài kia là những cánh đồng bất tận (xin lỗi, phải dùng cụm từ của Nguyễn Ngọc Tư, vì chắc chẳng có ai nghĩ ra cái cụm từ này hay hơn chị) với đời sống riêng của nó.

Xuyên ngang con đường là những dòng kinh. Khi xe chạy qua, ngó xuống, thấy mưa giăng kín mặt kinh. Những hàng dừa nước hai bên vặn vẹo oằn mình đón mưa vừa như miễn cưỡng vừa như thoả thuê.

Con kinh chảy dài tít tắp như không có điểm đầu và điểm cuối. Không một bóng người, không một bóng ghe thuyền. Dường như không ai muốn phá quấy sự giao hoà của làn mưa ràn rạt với con kinh hoang vắng.

Cuộc hoan lạc thầm lặng của con kinh dưới màn mưa đối lập tuyệt đối với sự ồn ã xe cộ của con đường. Như âm với dương, như lửa với nước...


Từ con kinh toát ra một nỗi buồn trơ trọi. Một cảnh tượng đẹp đến não lòng khiến tôi hiểu hơn một câu trong bài hát của Trần Tiến về vùng đất này mà trước đây tôi thường cho là rất sến: "Ôi những đêm ngắm trăng, nhớ em, buồn muốn khóc"...

Belle Vue! Bạn đã bao giờ nhìn thấy một belle vue khiến lòng bạn trào dâng một nỗi buồn se sắt?

Free blog counter

9/5/07

CHÁO LÍNH



Câu chuyện này xảy ra cách đây đã 21 năm...

Ngày 8.5.1986, cô Alla Fiodrovna, dạy môn ngôn ngữ, bảo cả lớp: “Ngày mai các em nhớ tới Công viên Văn hoá nếm thử món cháo lính nhé. Các chiến sĩ Hồng quân đã từng ăn món này trong suốt 4 năm Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại đấy.”

Đã thành truyền thống, tại Minsk (Belarus) cứ đến Ngày Chiến thắng (9.5), các chiến sĩ CA (Sovetskaya Armia – Quân đội Liên Xô) lại chở đến Công viên Văn hoá những chiếc nồi quân dụng to tướng. Họ dựng những chiếc lều bạt màu khaki và tái hiện khung cảnh nấu cháo lính (солдатская каша) của một thời oai hùng đã qua.

Tôi hỏi Volodia, cậu ở cùng tầng trong ký túc xá: “Mai cậu dẫn bọn tớ đi ăn cháo lính nhé?” Volodia khinh khỉnh: “Cái món ấy chán chết đi được. Tớ đã phải ăn nó suốt hai năm nghĩa vụ rồi. Tối nay cậu về nhà tớ, ăn thịt hun khói còn ngon hơn”.

Không, tôi phải đi ăn cháo lính. Nay mai về Việt Nam còn có cái mà kể chứ. Tôi rủ thêm được mấy đứa đồng hương rỗi việc nữa đi cùng. Háo hức lắm. Phải “sờ mó” cho được hình hài của cuộc chiến tranh ấy chứ.

Công viên hình như tấp nập hơn bất cứ một dịp hội hè nào khác. Tiếng đàn phong cầm náo nức bản “Hãy đeo huân chương, hỡi các cựu chiến binh”. Những người lính phong trần đầu bạc ôm nhau nhảy múa. Không còn những lo âu về nguy cơ thảm hoạ Chernobyl vừa diễn ra. Không còn những ưu tư về một tương lai “perestroika” vừa mới bắt đầu. Họ chỉ còn là những đứa trẻ.

Sao mà nhiều người xếp hàng ăn cháo lính thế. Nửa tiếng đầu, chúng tôi đứng vui vẻ. Nửa tiếng sau đã bắt đầu uể oải và mệt mỏi. Bỗng nhiên một cậu “chuyên gia cửa hàng” chạy đến, mặt mũi đầy nghiêm trọng: “Này, thằng Vladic vừa đến ốp. Nó tìm được nguồn nồi hầm vô biên. Mau mau về mua!”

Cháo lính ơi, thôi đành tạm biệt nhé. Chúng tôi còn phải nghĩ đến cháo của ngày mai, không chỉ cho bản thân, mà cho cả gia đình nữa.

Volodia giờ đây kinh doanh phát đạt, đi xe Mercedes. Gặp tôi ở Mátxcơva trước Ngày Chiến thắng lần thứ 50 (9.5.1995) và nghe tôi kể lại câu chuyện ăn cháo lính hụt, anh ngậm ngùi: “Bây giờ cậu có muốn thì cũng chẳng ai nấu món ấy. Nước Nga phải nghĩ nhiều hơn đến những thứ khác”.

Chúng ta cũng không nghĩ đến cháo nữa. Những chiếc nồi hầm may mắn mua được trong Ngày Chiến thắng được tôi mang về Việt Nam và bán hết. Chắc chẳng có ai nấu cháo trong những chiếc nồi sang trọng ấy.

(đăng trên báo Lao Động, Chủ nhật, ngày 11.5.1997)

27/7/06

Không còn trong danh sách



Một buổi trưa giá lạnh tháng Giêng năm 1986, tôi đến Brest, thành phố cực tây của Liên Xô, nơi đón nhận cú đánh đầu tiên của quân đội Hitler sáng sớm ngày 21.6.1941. Tôi đã có dịp được đi trên những dãy phố đổ nát hoang tàn bởi pháo kích và hít thở thứ không khí sặc mùi khói súng, khi đắm chìm trong tác phẩm “Tên anh không có trong danh sách” của Boris Vasiliev.

Đi lang thang trong thành phố cho đến lúc mỏi dừ chân, tôi trở về khách sạn và làm một giấc ngủ vùi. Khi tôi tỉnh dậy, thì màn đêm xanh thẫm đã phủ kín ngoài ô cửa sổ. Đã 8 giờ tối. Rôi nảy ra ý định làm cuộc dạo chơi đêm trong pháo đài Brest.

Chiếc xe trolleybus thả xuống bãi tuyết mênh mông người du khách duy nhất đến thăm pháo đài vào cái giờ muộn mằn ấy, rồi lại quày quả bỏ đi kéo theo âm thanh rin rít của ròng rọc cần điện xiết vào các đương dây cùng với tiếng nghiến lạo xạo của bánh xe vào lớp tuyết trên đường. Người lính gác cổng còn rất trẻ nhìn tôi bằng ánh mắt hồ nghi, nhưng không hỏi gì cả.

Thật không uổng công chút nào. Quang cảnh đổ nát của pháo đài hầu như vẫn còn được giữ y nguyên. Tất cả được chiếu bằng thứ ánh sáng đỏ trông thật ấn tượng. Những tiếng u u rờn rợn không hiểu phát ra từ đâu khiến tôi có cảm giác như linh hồn của hàng vạn người lính đang đuổi nhau trong những dãy đường hào. Tôi đánh bạo rẽ xuống một căm hầm đỏ quạch và bỗng giật mình kinh hãi bởi tiếng rào rào của bánh xe xích. Định thần lại, tôi phát hiện ra đó chỉ là tiếng vỗ cánh của bầy quạ hoang đen trũi bị sự xuất hiện của tôi làm cho tỉnh giấc.

Tuyết trắng và sự quạnh quẽ khiến tôi thấy lạnh. Đang run rẩy thử đếm số những người lính vô danh trên tấm bia tưởng niệm khổng lồ, tôi thấy sau lưng có tiếng người: “Chào con trai! Sao lại đến đây đêm hôm khuya khoắt thế này?” Tôi ngoảnh lại. Một người đàn ông chừng 60 tuổi đang hướng ánh mắt nhân từ vào tôi. Tôi ngập ngừng: “Bác là…?”

- Ta là Ivan Pavlovich, bảo vệ ở pháo đài. Con từ đâu tới đây?

Mắt người đàn ông như sáng lên khi tôi tôi nói đến từ Việt Nam. Ông ôm chấm lấy tôi, như ôm đứa cháu từ xa trở về: “Ồ, cậu bé yêu quý. Ta đã ủng hộ Việt Nam suốt những năm trai trẻ của mình. Ở cái nơi heo hút này ta chưa bao giờ dám hy vọng được gặp đại diện của một dân tộc anh hùng như vậy”.

Nhìn mớ quần áo rét mỏng manh của tôi, Ivan Pavlovich xót xa: “Sao con lại có thể ăn mặc phong phanh như vậy được? Ngoài trời lạnh những 15 độ âm. Con hãy mặc áo panto và đội mũ lông của ta cho đỡ lạnh”. Tôi ái ngại: “Cháu về ngay bây giờ. Bác còn trực ở đây, bác sẽ cảm lạnh mất”. Ivan Pavlovich cười: “Ta còn có cái này” – ông rút trong túi ra một chai nhỏ: “Samogon (*) ta nấu đấy. Con làm một hớp nhé!”

Ivan Pavlovich cởi áo và mũ, khoác chúng lên người tôi. Ông rót rượu ra cái nắp nhỏ, chìa cho tôi uống trước. Nắp rượu làm tôi ho sặc sụa, nhưng quả nhiên sau đó, người tôi nóng rực lên.

Tôi và Ivan Pavlovic nói chuyện với nhau mãi. Trước lúc chia tay, tôi cương quyết gửi trả lại ông áo panto và mũ lông. Ông buồn.

Năm năm sau, mùa thu 1991, tôi lại có dịp quay trở lại Brest. Con tàu từ Varsava đi Mátxcơva dừng lại ở Brest hơn một tiếng đồng hồ. Tôi vội vã lấy taxi đi vào pháo đài, hy vọng chuyển được cho Ivan Pavlovich một món quà nhỏ. Vẫn bằng ánh mắt hồ nghi như tôi đã thấy hồi nào, người đàn ông trung niên ở khu di tích giở một quyển sổ trên bàn rồi nói:

- Không còn trong danh sách nữa rồi. Ông ta đã chết cách đây ba năm. Chết vì rượu. Ông ấy say rượu trong ca trực đêm, vứt hết áo ấm, nằm gục trên tuyết. Chết vì lạnh thì đúng hơn.

Có gì đó không ổn! Ivan Pavlovich không chết vì rượu. Suốt cho đến tận bây giờ tôi vẫn đinh ninh như thế. Hình như có ai đó đã ngoan ngoãn mặc áo panto và đội mũ lông mà ông hào phóng đưa cho như những người Nga chân chính vốn hào phóng vào một đêm đông giá rét nào đó năm 1988 chăng?

-----

(*) samogon: rượu vodka tự nấu

(đăng trên báo Lao Động, Chủ nhật ngày 11.8.1996)

28/5/06

Rừng Nga



"Hai ngày ở Minsk em thích làm gì? Đi trượt sóng ở hồ Naroch hay đi nướng thịt ở biển Minsk? Những thứ ấy ở Việt Nam cũng làm được đúng không? Thôi mình đi hái nấm nhé! Rừng Nga, em biết rồi đấy, có bao nhiêu điều thú vị. Để cô gọi thêm Sergei, cậu sinh viên vừa tốt nghiệp của cô, đi cùng cho vui".

Cô Blai cứ líu ríu vừa hỏi rồi vừa tự quyết định như thế. Cô giáo dạy văn học Nga cho đám sinh viên Việt Nam tại Đại học Sư phạm Minsk từ cách đây 18 năm, nay tuy đã ngoài 50, nhưng vẫn còn rất đẹp. Nổi tiếng nghiêm khắc, nhưng cô cũng nổi tiếng vì dạy văn rất hay, bị liệt vào dạng "cứng đầu cứng cổ" trong con mắt của vị trưởng khoa có nguồn gốc KGB vì thường hay đứng về phía sinh viên.

12 năm nay không còn sinh viên Việt học tiếng Nga ở Minsk nữa, cô thất nghiệp mất vài năm và sau chuyển sang dạy tiếng Đức. Nhưng cứ mỗi lần hay tin sinh viên cũ của mình có dịp ghé qua Minsk, cô lại tíu tít như thế.

- "Cô không bao giờ nghĩ rằng cô bị chia cắt khỏi nước Nga. Thiên nhiên, con người, văn hoá... Tất thảy đều là của Nga. Nên em đừng ngạc nhiên, khi cô gọi rừng ở Minsk là rừng Nga!" - cô Blai giải thích.


Ba cô trò lên đường vào buổi sáng mùa hè. Không hiểu dậy từ lúc nào, mà cô Blai đã chuẩn bị đủ mọi đồ ăn thức uống và xếp gọn vào thùng chiếc xe hơi màu trắng của mình. Cô bắt tôi mặc bộ đồ thể thao với áo gió liền mũ: "Phải che kín toàn thân, thiếu gì thứ nguy hiểm trong rừng, em biết rồi đấy. Này cầm lấy cái còi. Nếu có lạc nhau thì chỉ cần thổi còi là biết hướng mà tìm".

Rừng Nga tháng bảy. Nắng chói chang ngoài xa lộ thế mà khi vào bên trong, thời tiết bỗng dịu hẳn đi như tiết đầu thu. Mùi đất, mùi cỏ trộn với nhựa cây hăng hắc tạo nên một hương vị lạ lẫm mà quyến rũ. Thảng hoặc lại có những đám hơi nước bốc lên tạo thành chuỗi ngọc li ti trên những cành thông nằm sát mặt đất.

"Em đừng cắt sát gốc nấm, chừa khoảng 1cm cách mặt đất để nó còn mọc lại. Hãy tránh xa những cái có màu sắc. Những thứ loè loẹt đều là nấm độc!" - cô Blai nói rổn rảng.


Tôi trở thành người xách giỏ cho cô, bởi tôi chẳng biết nấm ở đâu mà tìm. Hơn nữa hai cô trò đi cùng nhau để dễ trò chuyện. Sergei thì tách hẳn ra hướng khác. Hai cô trò ôn lại những chuyện xảy ra từ ngày xửa ngày xưa.

Chừng ba tiếng đi trong rừng mà chỉ hái được mươi cái nấm. Cô Blai thổi còi gọi Sergei và trải tấm nhựa xuống một thảm cỏ giữa rừng, nơi có những chùm ánh sáng chiếu qua những lỗ hổng trên tán lá xuống giống như sân khấu. Rồi cô bày bánh mì kẹp thịt, hoa quả, càphê nóng. Vừa ép chúng tôi ăn, cô vừa nói với cậu sinh viên người Nga:

- "Sergei, em biết không? Các anh chị sinh viên Việt Nam là tuổi trẻ của cô. Họ làm cho các cô bực mình không biết bao nhiêu lần vì bỏ tiết đi mua hàng, vì không thuộc bài, hay trốn khỏi Minsk đi chơi mà không có visa... Nhưng họ cũng giúp cô khám phá ra tâm hồn nồng hậu của một dân tộc. Họ đã để lại bao nhiêu dư vị ấm áp trong cô. Cách họ vượt khó khăn để vừa học tập không đến nỗi nào, chuyện họ vừa mua được cái gì đó về giúp gia đình đã khiến cô cảm động. Sau này vào những năm 1990 đầy khó khăn, cô đã nghĩ đến họ để bao giờ cũng đứng thẳng và không lùi bước".

Nhưng cô Blai đâu có biết rằng chính hình ảnh tuyệt diệu của cô khi giảng dạy những áng văn chương Nga bất hủ đã khiến chúng tôi đến lớp sau những giờ xếp hàng dài mệt mỏi tại các cửa hàng.

Không hái được nhiều nấm lắm. "Phải chờ đến mùa thu sau khi trời mưa. Em cũng biết là rừng không có nấm, nhưng em vẫn đi để gặp một cựu sinh viên Việt Nam xem những ấn tượng mà cô Blai kể về các anh các chị có đúng không" - Sergei cười hiền lành.

Rừng Nga tháng 7 không có nấm
.


Nguồn: Lao Động 3.11.2002

 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết