Hiển thị các bài đăng có nhãn Nobel. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nobel. Hiển thị tất cả bài đăng

17/10/10

NOBEL LẠC HẬU?


Trong lịch sử hơn 100 năm tồn tại, Giải Nobel đã vinh danh những nhà bác học, các nhà văn, những nhà hoạt động chính trị hàng đầu thế giới, nhưng cũng bỏ sót không ít người vĩ đại. Ví dụ, Charles Darwin không hề được trao giải Nobel cho một trong những phát kiến khoa học nhất của mọi thời đại là thuyết tiến hóa qua sự chọn lọc tự nhiên. Sir Richard Doll cũng không được vinh danh vì đã phát hiện ra mối liên kết giữa hút thuốc là và ung thư phổi.

Năm 1968, một ngân hàng ở Thụy Sĩ, nơi cất giữ số tiền của Quỹ Nobel, nhân kỷ niệm 300 năm ngày thành lập, đã quyết định trao thêm một giải nữa trong lĩnh vực kinh tế để vinh danh các nhà toán học lớn và các nhà lý thuyết khoa học kinh tế. Giải này không có trong di chúc của Nobel, nên tên chính thức của giải mới được gọi là “Tưởng nhớ Nobel”. Sau khi có giải mới, Ủy ban Nobel nhận được rất nhiều yêu cầu từ những người muốn hiến tặng tài sản của mình để tôn vinh những thành tựu ở các lĩnh vực khác. Nhưng Ủy ban Nobel đã quyết định không đặt thêm giải mới.

Hơn 40 năm đã trôi qua kể từ đó, giải Nobel vẫn tiếp tục được trao thường niên trong 6 lĩnh vực và vẫn được coi là giải thưởng danh giá nhất hành tinh. Nhưng ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng cơ cấu giải thưởng cũ đã trở nên lạc hậu và đã đến lúc phải có những hành động cụ thể.

Năm 2009, Tạp chí khoa học có uy tín của Anh là “New Scientist” đã đề nghị 10 nhà bác học nổi tiếng (trong thành phần có những nhân vật danh giá như Sir David King, cựu cố vấn khoa học cho Chính phủ Anh, Sir Tim Hunt – nhà khoa học nhận Giải Nobel Y học năm 2001, Giáo sư Steven Pinker của Đại học Harvard...) thảo luận lại cơ cấu giải thưởng Nobel và đưa ra những đề xuất cụ thể. Họ đã viết một bức thư ngỏ gửi đến Quỹ Nobel, nêu rõ hệ thống giải thưởng cần được thay đổi để duy trì sự gắn kết với khoa học hiện đại và những đòi hỏi của thế kỷ 21.

“Khoa học đã biến đổi rất mạnh kể từ năm 1901, khi trao giải thưởng lần đầu tiên. Lúc Alfred Nobel thiết lập các giải thưởng, ông không tính đến sự xuất hiện của những hiện tượng như thay đổi khí hậu, hay bệnh AIDS. Ông cũng không thể biết về sự xuất hiện của những môn khoa học mới làm biến đổi thế giới theo chiều hướng tốt đẹp hơn” – bức thư viết.

Hiện nay khá nhiều lĩnh vực khoa học không thích hợp với nguyên tắc trao giải mà Nobel đề xuất. Chẳng hạn, Tổ chức toàn thế giới chống bệnh sốt rét sẽ không thể được đề cử vào bất cứ giải Nobel nào. Chuyên khoa thần kinh học và sinh thái học cũng không được giải Nobel thừa nhận. Theo họ, Quỹ Nobel đã một lần thể hiện sự linh động vào năm 1968 khi quyết định trao thêm giải Nobel Kinh tế, vậy nay cũng nên trao thêm hai giải nữa: Một giải để tôn vinh những nhà bác học có thành tựu trong lĩnh vực y tế, một giải cho lĩnh vực gìn giữ môi trường. Các nhà bác học cũng khẳng định rằng tất cả các nhà khoa học trong các chuyên ngành sinh học (từ sinh thái đến thần kinh sinh học) đều có quyền nhận giải Nobel Hóa học, Vật lý và Y học.

Ít nhất 3 trong số 10 nhà bác học tham gia viết bức thư ngỏ gửi Quỹ Nobel có thể nhận được giải thưởng theo hệ thống mà họ đề xuất. Peter Raven (ảnh), Giám đốc Vườn Bách thảo Missouri – một trong những nhà thực vật học được kính trọng nhất thế giới; E. O. Wilson, Giáo sư Đại học Harvard – nhà lý thuyết tiến hóa; Frans de Waal, Giáo sư Đại học Emory University ởAtlanta – người đã làm thay đổi nhận thức của chúng ta về động vật bậc cao gần người.

Michael Sohlman, Giám đốc điều hành Quỹ Nobel, lại cho rằng quỹ có quan điểm khác về cái mà các nhà bác học gọi là “sự bất di bất dịch” của giải thưởng. “Họ viết trong bức thư rằng Alfred Nobel không tiên liệu được HIV hay sự biến đổi khí hậu, nhưng trong cả hai lĩnh vực này thì giải thưởng đều đã được trao mới đây. Giải Nobel bao quát được những gì đang diễn ra”. Chẳng hạn Sherwood Rowland, Mario Molina và Paul Crutzen đã nhận Nobel Hóa học vì phát hiện ra những mối đe dọa cho tầng ozone từ chlorofluorocarbons. Cựu Tổng thống Mỹ Al Gore nhận Nobel Hòa bình vì những nỗ lực đề cao mối đe doạ của hiện tượng trái đất ấm lên, Tổ chức Thầy thuốc không biên giới cũng được trao Nobel Hòa bình vì hoạt động cứu trợ nhân đạo trên phạm vi toàn thế giới.

Sir David King nói rằng chính Giải Nobel Hòa bình cho ông Al Gore cho thấy phải thay đổi cơ cấu giải thưởng: “Nobel Hòa bình đã trở thành một thứ tôn vinh những gì đang là mốt. Cần phải có một giải thưởng riêng liên quan đến những đóng góp cho sự bền vững” – Sir David King nhấn mạnh. Còn Larry Brilliant, nhà dịch tễ học chuyên về bệnh đậu mùa nhận xét: “Nếu như triệt được bệnh sốt rét, thì điều đó chỉ phù hợp với Nobel Hòa bình. Thật tuyệt vời nếu trừ được tận gốc bệnh sốt rét, nhưng đó không phải là hòa bình”.

Nguồn: Gazeta.ru

Entries liên quan:
CHẤP NHẬN NHỮNG CON QUỶ TRONG MÌNH
NẾU BÁO KHÔNG SAI ĐÃ CHẲNG CÓ GIẢI NOBEL
NAIPAUL - NGƯỜI SUỐT ĐỜI ĐI TÌM CỘI NGUỒN



11/10/10

CHẤP NHẬN NHỮNG CON QUỶ TRONG MÌNH



15 lời khuyên của Mario Vargas Llosa đối với những nhà văn trẻ

- Ai mới bước vào văn chương như thâm nhập một tôn giáo, sẵn sàng cống hiến thời gian của mình, năng lực của mình và nỗ lực của mình cho nghề này, thì người đó có khả năng trở thành nhà văn thực thụ và viết được tác phẩm mà anh ta mong đợi.

- Không có nhà văn cấp tốc. Tất cả các nhà văn tuyệt vời và vĩ đại thoạt đầu đều là những kẻ tập tọng viết lách, tài năng của họ nảy nở trên cơ sở kiên trì và vững tin.

- Văn học là thứ tuyệt diệu nhất được sáng tạo ra để che chở người ta khỏi bất hạnh.

- Trong bất cứ hư cấu nào đều có thể theo dõi được điểm khởi đầu, hạt nhân bên trong gắn bó nội bộ với tổng thể kinh nghiệm sống của người hư cấu ra điều đó. Tôi mạnh dạn nhấn mạng rằng nguyên tắc này không có ngoại lệ và đương nhiên không thể có hư cấu đơn thuần trong địa hạt văn học.

- Hư cấu, theo định nghĩa, là sự dối lừa, là hiện thực không tồn tại và mặc dù người ta làm ra vẻ là có hiện thực đó, thì cả cuốn tiểu thuyết là sự lừa dối giả vờ làm sự thật, là sự sáng tạo mà sức mạnh thuyết phục chỉ phụ thuộc vào việc sử dụng có hiệu quả những tiểu xảo kỹ thuật của nhà ảo thuật, giống như những gì ta nhìn thấy ở những gánh xiếc và các nhà hát.

- Tính độc đáo và chân thực của nhà văn dựa trên một điều: chấp nhận những con quỷ trong chính bản thân mình và điều khiển chúng bằng sức mạnh của chính mình.

- Nhà văn không viết về điều thức tỉnh trong những góc khuất của lương tâm mình và kích thích anh ta cầm bút, lựa chọn thiếu lửa những nội dung và chủ đề bằng phương pháp hợp lý, vì nghĩ rằng bằng cách đó sẽ đạt được thành không lớn hơn, thì không phải là nhà văn thực thụ, hay đúng hơn, vì lẽ đó mà anh ta cũng trở thành nhà văn tồi (mặc dù anh ta đạt được thành công: danh sách những tác phẩm bán chạy nhất đầy rẫy những nhà văn tồi).

- Một cuốn tiểu thuyết dở thiếu sức mạnh thuyết phục, hoặc rất yếu, không khẳng định được rằng sự lừa dối mà cuốn tiểu thuyết đó kể cho chúng ta là sự thật.

- Câu chuyện mà cuốn tiểu thuyết thuật lại có thể không theo trình tự sau trước, nhưng ngôn ngữ mà nó thể hiện cần phải liên kết và nhất quán để sự không mạch lạc đó thành công trong việc giả vờ rằng nó chính là chân lý và chính là cuộc sống.

- Trong văn học, sự thật hay là không sự thật không phải là chủ đề đạo đức thiếu thẩm mỹ.

- Văn học là một nghệ thuật trong sạch. Nhưng văn học đạt được tầm vĩ đại mà không cần đếm xỉa đến điều đó và không ngại ngần bộc lộ điều đó.

- Để sắp xếp một câu chuyện bằng văn bản, nhà văn nghĩ ra người kể chuyện, đại biểu và đại diện toàn quyền của mình trong hư cấu, cũng hư cấu như tất cả các nhân vật còn lại. Người kể chuyện được xây dựng bằng các từ và chỉ sống nhờ và cho cuốn tiểu thuyết đó.

- Thời gian của tiểu thuyết được xây dựng dựa trên thời gian tâm lý, không phải thời gian theo niên đại; thời gian chủ quan được tay nghề điêu luyện của nhà văn tạo cho dáng vẻ bên ngoài của sự khách quan, nhờ đó mà tiểu thuyết của anh ta có được khoảng cách và sự khác biệt với thế giới thực.

- Rất quan trọng để biết rằng toàn bộ cuốn tiểu thuyết có một cái nhìn không gian, một thời đại khác và một mức độ thực tế nhất định, và mặc dù không thường xuyên hiển thị, cả ba yếu tố đó trên thực tế là không phụ thuộc vào nhau, cái này khác cái kia, nhưng phù hợp và đan kết vào kết cục, sự nhất quán nội tại của kết cục đó chính là sức mạnh thuyết phục của tiểu thuyết.

- Nếu một nhà văn trong lúc kể chuyện không lĩnh về mình những hạn chế nhất định (nói như vậy nếu như không từ chối giấu diếm những dữ liệu nhất định), thì câu chuyện mà anh ta kể sẽ không đầu không cuối.

VMC dịch qua bản tiếng Nga

Entries liên quan:
NHÀ VĂN PERU ĐOẠT GIẢI NOBEL
NOBEL VĂN HỌC 2009 GÂY TRANH CÃI
NOBEL VĂN HỌC LẠI VỀ TAY CHÂU ÂU
CHÂM NGÔN CỦA DORIS LESSING
NHÀ VĂN THỔ NHĨ KỲ ĐOẠT NOBEL VĂN CHƯƠNG 2006



8/10/10

NẾU BÁO KHÔNG SAI ĐÃ CHẲNG CÓ GIẢI NOBEL



Rất ít người biết rằng Giải Nobel danh giá đã có thể không bao giờ xuất hiện nếu như năm 1888 một tờ báo Pháp không mắc sai sót khi đăng một cáo phó. Tờ báo không chỉ đưa tên sai và mô tả sai cuộc đời người quá cố, mà còn chỉ trích gay gắt nhân cách của ông.

Ý tưởng về việc thành lập Giải Nobel được manh nha khi Ludvig Nobel, người được thừa nhận là “thiên tài công nghệ, nhà kinh doanh tài ba và nhà hoạt động nhân đạo hào phóng” qua đời tháng 3.1888 tại Cannes (Pháp). Báo địa phương đăng cáo phó cho rằng người qua đời là Alfred Bernhard Nobel – em trai của Ludvig. Nhưng trên thực tế thì Alfred, nhà hóa học có nhiều phát minh giá trị vẫn đang sống.

Cho rằng không có điều gì đáng để lo ngại, tờ báo đã phê phán cuộc đời và sự nghiệp của Alfred, thậm chí gán cho ông cái nhãn là “nhà buôn tử thần”. Alfred bị sốc nặng trước cách nhìn nhận của dư luận về con người ông và những cống hiến của ông đối với thế giới như một kẻ giết người. Trên thực tế Alfred Bernhard Nobel là một người hiền hòa. Con người tài hoa này sinh ngày 21.10.1833 tại Stockholm (Thụy Điển), lớn lên trong một gia đình mà cha mẹ và hai anh trai đều là những người có thành tựu. Cha ông, Immanuel Nobel, là một kiến trúc sư, nhà xây dựng và đồng thời cũng là nhà sáng chế. Ông có xưởng chế tạo máy tại St. Petersburg (Nga) và rất thành công với các hợp đồng chế tạo vũ khí của chính phủ Nga.

Alfred theo học chuyên ngành hóa học, nhưng ông tự bổ sung cho mình rất nhiều kiến thức các bộ môn khác. Ngoài khoa học, Alfred còn là người say mê văn học, rất thông thạo tiếng Anh, Đức, Pháp và Nga. Ngay từ khi còn trẻ ông đã bắt tay nghiên cứu nitroglycerine, tạo ra những vụ nổ vào mùa hè năm 1862. Ông tiếp tục thử nghiệm để tạo ra loại thuốc nổ an toàn hơn. Tháng 10.1963 ông nhận được bằng sáng chế thứ tư của Thụy Điển khi tạo ra kíp nổ, khi đó được biết tới dưới biệt danh “chiếc bật lửa Nobel”.

Ông mở một xưởng nhỏ ở Helenborg gần Stockholm để sản xuất nitroglycerine. Nhưng đây là một chất rất nguy hiểm, khó quản lý, nên năm 1864 xưởng này bị nổ khiến một số người thiệt mạng, trong đó có em trai của ông là Emil Nobel. Alfred càng quyết tân cải tiến để sản xuất hợp chất thuốc nổ an toàn hơn. Ông phải tiến hành những thử nghiệm trên một con thuyền giữa hồ Malaren.

Tháng 5.1866, tại Manhattan (New York, Mỹ), Alfred Nobel đã có màn trình diễn hiệu ứng thuốc nổ rất an toàn và thành công. Năm 1867, ông sáng chế ra loại thuốc nổ an toàn hơn có tên gọi là “dynamite”. Nobel coi nguyên liệu nổ là cách thức để chấm dứt mọi cuộc chiến tranh. Nhưng đáng tiếc là rất nhiều người lại coi đó là những sản phẩm giết người cực kỳ nguy hiểm. Nobel ngao du khắp thế giới để bán thuốc nổ và trở nên giàu có. Ông phải mở 90 nhà máy mới đủ đáp ứng nhu cầu về dynamite.


Khi tờ báo Pháp đăng tin thông báo cái chết của ông với dòng tít “Alfred B. Nobel – nhà buôn tử thần đã chết", ông nhận thức rằng ông không thể đi vào lịch sử với tấm bia mộ chí khủng khiếp như vậy. Ông suy nghĩ rất nhiều làm thế nào để thay đổi nhận thức đó. Mãi đến năm 1895 ông mới đưa ra được giải pháp tâm đắc nhất.

Trong bản di chúc cuối cùng lập ngày 27.11.1895, ông viết sẽ dành khoảng 94% số tài sản khổng lồ của mình để thành lập một giải thưởng thường niên trao cho những cá nhân có thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực: vật lý, hóa học, y sinh học, văn học và hòa bình. Với giải thưởng mang tên mình, ông hy vọng Nobel sẽ có ý nghĩa khác chứ không phải sự hủy diệt và chết chóc đối với nhân loại.


Ngày 10.12.1896, nhà hóa học và sáng chế tài ba với 355 phát minh Alfred Nobel đã qua đời ở tuổi 63 tại biệt thự của ông ở San Remo (Italia) vì chứng xuất huyết não. Sau đám tang, di chúc của ông được mở ra và lúc đó người ta mới rõ chi tiết trong kế hoạch xây dựng giải thưởng có tầm vóc thế giới của ông. Tổng số tiền mà ông hiến cho giải thưởng là 35 triệu kronor Thụy Điển (tương đương với 225 triệu USD thời giá ngày nay), tiền trao giải sẽ trích từ lợi tức hàng năm từ gia sản này.


Những người thân của Nobel bị sốc khi hay tin về bản di chúc. Trên thực tế, việc thực hiện những nguyện vọng của Alfred hoàn toàn không đơn giản. Ông sống ở nhiều nước và không có nơi ở cố định, nên bản di chúc sẽ có giá trị pháp lý ở đâu: Pháp, Thụy Điển hay Italia? Nước nào sẽ là nơi thành lập quỹ giải thưởng? Mãi 5 năm sau, người ta mới đưa ra được giải pháp cho mọi chi tiết cũng như phương pháp tuyển lựa và trao giải. Quỹ Nobel được thành lập và việc trao giải thưởng được phân chia giữa hai nước Thụy Điển và Na Uy.


Kỷ niệm 5 năm ngày mất của Alfred B. Nobel, ngày 10.12.1901 Giải Nobel đã được trao tại Viện Hàn lâm Âm nhạc Hoàng gia Thụy Điển tại Stockholm và những người đầu tiên được vinh danh là: Jacobus H. van't Hoff (hóa học), Wilhelm C. Röntgen (vật lý), Emil A. von Behring (y sinh học), Rene F. A. Sully Prudhomme (văn học), Jean H. Dunant và Frédéric Passy (hòa bình).

Entries liên quan:
NHÀ VĂN PERU ĐOẠT GIẢI NOBEL
NOBEL VĂN HỌC 2009 GÂY TRANH CÃI
NOBEL VĂN HỌC LẠI VỀ TAY CHÂU ÂU
CHÂM NGÔN CỦA DORIS LESSING
NHÀ VĂN THỔ NHĨ KỲ ĐOẠT NOBEL VĂN CHƯƠNG 2006



7/10/10

NHÀ VĂN PERU ĐOẠT GIẢI NOBEL



Mario Vargas Llosa, một trong những nhà văn được đánh giá cao nhất trong thế giới nói tiếng Tây Ban Nha, đã đoạt giải Nobel Văn học danh giá.

Viện Hàn lâm Thụy Điển cho hay tác giả 74 tuổi này được vinh danh vì "đã thiết lập được bản đồ kết cấu quyền lực và vẽ lên những hình ảnh sắc nét về sự kháng cự, nổi loạn và thất bại của con người".

Vargas Llosa đã xuất bản hơn 30 tiểu thuyết, kịch bản và tiểu luận, trong đó có "Đàm luận trong Nhà thờ" (Conversation in the Cathedral) và "Ngôi nhà màu xanh" (The Green House). Năm 1995, ông đã đoạt Giải Cervantes, giải văn học danh giá nhất trong cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha.

Ông bắt đầu nổi tiếng trên toàn thế giới trong thập niên 1960 với tiểu thuyết "Thời đại và Anh hùng" (The Time of The Hero).

Vargas Llosa là nhà văn Nam Mỹ đầu tiên đoạt Nobel Văn học kể từ khi Gabriel Garcia Marquez đoạt giải này năm 1982.

Gabriel Garcia Marquez và Mario Vargas Llosa

Sinh ngày 28.3.1936, Mario Vargas Llosa được coi là một trong những nhà văn cấp tiến hàng đâu của văn học Mỹ Latinh hiện đại.

Thời niên thiếu, Llosa theo học tại trường võ bị Leoncio Prado. 15 tuổi, Llosa đã trở thành phóng viên chuyên săn tin tội phạm ban đêm, sau đó theo học tại Đại học San Marcos ở thủ đô Lima. Ít lâu sau, chàng trai gia nhập hàng ngũ cộng sản và chạy trốn với Julia Urquidi, thiếu phụ 33 tuổi người Bolivia là em vợ của chú. Năm 1958, ông được nhận học bổng của Đại học Madrid (Tây Ban Nha) và đi du học ở Châu Âu rồi đến Mỹ sinh sống một thời gian dài.

Cuộc hôn nhân kéo dài 9 năm với Urquidi sau này đã trở thành nguồn cảm hứng để ông viết tiểu thuyết “Dì Julia và kịch tác gia”.Năm 1965 họ ly dị, Vargas Llosa kết hôn với Patricia Llosa, em con cô con cậu, kém ông 10 tuổi. Họ có ba con.

Năm 1967, khi lên nhận giải thưởng Quốc tế R. Gallegos, ông đã có bài phát biểu gây tiếng vang lớn về mối quan hệ mật thiết giữa nhà văn và cuộc sống xã hội. Sau này ông quyết tâm biến những lời nói của mình thành hành động và đã ra tranh cử Tổng thống Peru năm 1990, nhưng bị thất bại.

Tiểu thuyết đầu tay của Llosa có tên “Thành phố và những con chó” (La ciudad y los perros) xuất bản năm 1963 đã gây ra scandal lớn ở Lima, khiến một số người đã công khai đốt sách của ông. Tác phẩm này thuật lại những điều mắt thấy tai nghe, những sự thật trần trụi ở trường võ bị danh tiếng Leoncio Prado và bị giới quân sự Peru coi là sự thóa mạ.

Trong tiểu thuyết “Ngôi nhà xanh” (The Green House) xuất bản năm 1968, Llosa đề cập vấn đề muôn đời là bạo lực và thái độ ghẻ lạnh cùng lúc trong 5 câu chuyện đan xen nhau. Nhà văn đã sử dụng thủ pháp chắp nối rất tinh vi – thay đổi thời gian và địa điểm hành động trong nháy mắt với nhiều quan điểm khác nhau.

Truyện ngắn “Chó cún” (Los cachorros, 1967) thuật lại cuộc sống của một chàng trai bị thiến trong môi trường toàn đàn ông. Tiểu thuyết “Đàm luận trong Nhà thờ” (1969) vạch trần nạn tham nhũng trong xã hội Peru dưới thời độc tài của M. Odria (1948 – 1956). Trong tiểu thuyết “Pantaleón y las visitadoras” (1973) ông lại dùng thể loại châm biếm sâu cay để phơi bày tâm lý quái đản của một số sĩ quan quân đội muốn kiểm soát tất cả mọi thứ, kể cả đời sống tình dục của cấp dưới.

Llosa còn viết truyện trinh thám. Trong “Ai giết Palomino Molero” (Quien mató a Palomino Molero, 1986), thông qua vụ sát hại một ca sĩ trẻ ông lý giải ranh giới mỏng manh của chân lý và công bằng.

Vargas Llosa còn là tác giả của những tiểu thuyết nổi tiếng khác như “Dì Julia và kịch tác gia” (La tía Julia y el escribidor, 1977), Chiến tranh tận thế (La guerra del fin del mundo, 1981), Lịch sử Maita (La historia de Maitá, 1984)...

Vargas Llosa có quan hệ bạn bè thân thiết với nhà lãnh đạo Cuba Fidel Castro, nhà văn Colombia Garcia Marquez. Nhưng sau đó ông bày tỏ những điều không hài lòng đối với cả hai người.

Vargas Llosa lấy cảm hứng sáng tạo chủ yếu từ những vấn đề của Peru, nhưng ông lại ưa thích sống ở nước ngoài và đã có một thời gian dài tự lưu vong. Năm 1994, ông trở thành nhà văn Mỹ Latinh đầu tiên được bầu vào Viện Hàn lâm Tây Ban Nha.

Sau khi thất bại trong cuộc chạy đua tổng thống với Alberto Fujimuri năm 1990, ông thấy thất vọng trước sự ủng hộ của nhân dân đối với chế độ bàn tay sắt của vị tổng thống gốc Nhật. Llosa lại rời bỏ quê hương, nhập quốc tịch Tây Ban Nha, sống ở Madrid và London. Ông giữ một căn hộ áp mái ở Lima có view trông ra Thái Bình Dương, nhưng luôn kín tiếng mỗi khi trở về Peru cho đến tận khi Fujimori đào thoát sang Nhật Bản năm 2000 sau khi bị lật đổ vì để tham nhũng tràn lan trong chính phủ.

Các tác phẩm của Vargas Llosa được dịch ra 31 thứ tiếng.

Entries liên quan:
NOBEL VĂN HỌC 2009 GÂY TRANH CÃI
NOBEL VĂN HỌC LẠI VỀ TAY CHÂU ÂU
CHÂM NGÔN CỦA DORIS LESSING
NHÀ VĂN THỔ NHĨ KỲ ĐOẠT NOBEL VĂN CHƯƠNG 2006


8/10/09

NOBEL VĂN HỌC 2009 GÂY TRANH CÃI



Herta Mueller, nữ tác giả người Đức còn ít được biết đến, đã đoạt giải Nobel Văn học 2009. Là thành viên trong gia đình thuộc cộng đồng Đức thiểu số ở Romania, bà Mueller được vinh danh vì những tác phẩm “tích tụ thơ ca và sự bộc trực của văn xuôi”, theo nhận xét của Viện Hàn lâm Thụy Điển.

Quyết định bất ngờ trao giải cho bà Mueller đã đổ thêm dầu vào cuộc tranh cãi xung quanh cái gọi là “sự dập khuôn” chỉ trao giải thưởng văn học danh giá cho các nhà văn Châu Âu. Chính bà Mueller cũng không giấu nổi sự ngạc nhiên: “Tôi vô cùng sửng sốt và vẫn còn chưa tin vào điều này. Tôi không thể nói gì hơn vào lúc này” – bà viết trong bản thông cáo do nhà xuất bản của bà tại Đức phát hành.

Peter Englund, Thư ký thường trực của Viện Hàn lâm Thuy Điển, đầu tuần này đã phát biểu với Hãng tin Mỹ AP rằng Viện Hàn lâm Thụy Điển lâu nay vẫn “coi trọng Châu Âu khi lựa chọn người đoạt giải”.

Người tiền nhiệm của ông là Horace Engdahl đã khuấy động tâm tư hai bờ Đại Tây Dương vào năm ngoái khi phát biểu rằng Châu Âu vẫn là trung tâm của thế giới văn chương và rằng chất lượng viết lách ở Mỹ bị xuống cấp bởi các tác giả quá nhạy cảm với những trào lưu của văn hóa đại chúng.

Sau khi tin bà Mueller thắng cuộc được thông báo, ông Engdahl lại nói: “Nếu bạn là người Châu Âu, thì bạn sẽ hiểu biết văn hóa Châu Âu dễ dàng hơn. Đây là kết quả của sự thiên vị trong tâm lý mà chúng tôi đang thực sự muốn biết. Đây không phải là kết quả của bất cứ chương trình nào.”

Mueller, 56 tuổi, bắt đầu viết văn từ năm 1982 với tuyển tập truyện ngắn có nhan đề "Niederungen" (Đất đen), mô tả cuộc sống khó khăn trong một làng nhỏ nói tiếng Đức ở Romania. Tiếp theo, cuốn "Oppressive Tango" (Điệu tango trĩu nặng) bị cấm xuất bản tại Romania vì chỉ trích chế độ của Nicolae Ceausescu.

Mueller, có cha từng làm việc trong bộ máy Waffen SS của phát xít Đức thời Chiến tranh Thế giới II, là nữ văn sĩ thứ 12 và là người Đức thứ 10 đoạt giải Nobel Văn học, sau Guenter Grass năm 1999 Heinrich Boell năm 1972.

Bên cạnh tranh cãi về việc giải Nobel Văn học trong một thập niên gần đây chỉ trao cho các nhà văn Châu Âu, quyết định của Viện Hàn lâm Thụy Điển năm nay còn được bình luận là “chính trị hóa” thời điểm 20 năm tan rã của chủ nghĩa xã hội tại Đông Âu. Mặc dù Viện Hàn lâm Thụy Điển tránh nhắc tới, song Nhà xuất bản Hanser Verlag (Đức) và diễn viên Ion Caramitru - người chống cộng nổi tiếng ở Romania, đều thừa nhận điều đó.

Phần lớn tác phẩm của Mueller đều bằng tiếng Đức, song một số tác phẩm của bà đã được dịch sang tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha như "The Passport" (Hộ chiếu), "The Land of Green Plums" (Xứ sở mận xanh), "Traveling on One Leg" (Đi bằng một chân) và "The Appointment" (Cuộc hẹn).

Tiểu thuyết mới nhất của Mueller "Atemschaukel" (Hơi thở nhịp nhàng) đã lọt vào chung khảo giải Sách Đức năm nay. Giải thưởng này sẽ được công bố vào thứ Hai tuần tới.

Đây là lần đầu tiên có tới 4 phụ nữ đoạt giải Nobel trong cùng một năm. Các nhà nghiên cứu người Áo tại Mỹ Elizabeth Blackburn và Carol Greider chia sẻ Nobel Y khoa, còn nhà khoa học Israel Ada Yonath có tên trong danh sách các tác giả đoạt Nobel Hóa học.


28/7/09

LỜI GIÃ BIỆT CỦA MỘT TÀI NĂNG


Ngô tiên sinh vừa gửi cho tôi văn bản này, tôi muốn chia sẻ cùng các bạn:

THƯ TỪ BIỆT CỦA MỘT THIÊN TÀI

Gabriel Garcia Marquez, nhà văn nổi tiếng của Colombia (thường được biết đến với cái tên là "Gabo" tại quê hương ông), đã được trao giải Nobel văn chương năm 1982, nay đã rút lui khỏi đời sống công cộng vì lý do sức khỏe. Ông bị ung thư giai đoạn cuối. Ông đã gửi một bức thư từ biệt cho bạn bè và bức thư được lưu hành trên Internet. Rất nên đọc bức thư ấy vì thật cảm động khi thấy cách thức một trong những nhà văn tài giỏi và sáng chói nhất diễn tả chính mình ra cùng với nỗi buồn.

Nếu trong một giây, Thiên Chúa quên là tôi đã trở thành cái gì, và cho tôi sống thêm một tí nữa, tôi sẽ dùng giây đồng hồ ấy trong mức khéo léo nhất của tôi.

Rất có thể tôi sẽ không nói ra tất cả những gì tôi có trong đầu, nhưng tôi sẽ để ý hơn đến tất cả những gì tôi nói… Tôi sẽ trân trọng các sự việc không phải vì giá trị của chúng, nhưng vì những gì chúng muốn diễn tả.

Hẳn là tôi sẽ ngủ ít hơn, hẳn là tôi sẽ mơ nhiều hơn, bởi vì tôi biết rằng cứ mỗi phút chúng ta nhắm mắt, chúng ta phí mất 60 giây ánh sáng. Hẳn là tôi sẽ bước đi trong khi những người khác thì dừng lại; hẳn là tôi sẽ thức trong khi những người khác thì ngủ.

Nếu Thiên Chúa cho tôi sống thêm một tí nữa, hẳn là tôi sẽ ăn mặc đơn giản, tôi sẽ đặt mình dưới ánh mặt trời, để không những thân thể tôi, mà cả linh hồn tôi trần trụi tha hồ cho ánh nắng rọi vào….

Cho mọi người, hẳn là tôi sẽ nói rằng họ quá sai lầm khi nghĩ rằng họ sẽ không còn yêu ai nữa khi họ đã già, mà không biết rằng họ trở nên già khi họ ngừng yêu thương….

Hẳn Ià tôi sẽ cung cấp các đôi cánh cho các em bé, nhưng tôi sẽ mặc các em tự học bay lấy.

Cho những người già, hẳn là tôi sẽ nói rằng cái chết không đến khi họ già đi, nhưng nó đến khi họ quên lãng và bị lãng quên.

Tôi đã học được quá nhiều với tất cả các bạn, tôi đã học biết rằng mọi người đều muốn sống trên đỉnh núi, mà chẳng hề biết rằng họ đạt được hạnh phúc là nhờ tiến bước trong cuộc hành trình và nhờ cách họ theo mà lên tới đỉnh đồi.

Tôi đã học biết rằng khi một bé sơ sinh đưa bản tay bé bỏng nắm lấy tay cha nó, là nó đã giam hãm ông trong phần còn Iại của đời ông.

Tôi đã học biết rằng một người chỉ có quyền và có bổn phận nhìn xuống một người khác, khi nào người kia cần được giúp đỡ để đi lên khỏi mặt đất.

Nếu tôi biết rằng đây là những khoảnh khắc cuối cùng tôi được thấy em, hẳn là tôi đã nói “Anh yêu em".

Cứ việc nói ra những gì em cảm thấy, chứ không phải những gì em nghĩ. Nếu tôi biết rằng ngày hôm nay là lần cuối cùng tôi được nhìn em thiếp ngủ, hẳn Ià tôi sẽ ôm ghì em thật chặt và sẽ cầu xin Chúa cho tôi được làm thiên thần hộ thủ của linh hồn em….

Luôn luôn có ngày mai, và cuộc sống lại cho chúng ta một cơ hội khác để làm các sự việc cho đúng, nhưng nếu tôi đã sai lầm, và hôm nay là tất cả những gì còn để lại cho tôi, tôi muốn nói rằng tôi yêu thương bạn biết chừng nào và tôi sẽ không bao giờ quên bạn.

Dù trẻ hay già, không một ai được bảo đảm về ngày mai. Ngày hôm nay có thể là lần cuối cùng bạn được thấy những người thân yêu, vì thế bạn đừng chờ; hãy làm ngay hôm nay, vì biết đâu ngày mai sẽ không bao giờ đến. Tôi chắc chắn rằng bạn sẽ tiếc vì phí mất cơ hội trao một nụ cười, một vòng tay ôm, một nụ hôn, và bạn đã quá bận để ban cho họ ước muốn cuối cùng.

Hãy giữ những người thân yêu gần bạn; hãy nhìn họ mà nói thẳng với họ rằng bạn cần họ và yêu thương họ biết bao. Hãy yêu thương họ và cư xử với họ cho tốt; hãy dùng thì giờ mà nói với họ “Tôi xin lỗi”, “xin tha thứ cho tôi", “xin vui lòng”, “cám ơn bạn", và tất cả những lời thân thương mà bạn biết!

Sẽ không có ai biết bạn nhờ tư tưởng thầm kín của bạn. Hãy xin Chúa ban cho sự khôn ngoan và sức mạnh mà diễn tả các tư tưởng ấy ra.

Hãy tỏ ra cho bạn bè và những người thân yêu biết họ quan trọng với bạn biết bao.

Hãy gửi bức thư này cho những người mà bạn thương mến. Nếu bạn không Iàm việc ấy hôm nay... ngày mai sẽ giống hôm qua, và nếu bạn không bao giờ làm việc ấy, cũng chẳng sao, vì giờ phút để làm việc ấy là BÂY GIỜ…


Hôn chào bạn

Gửi đến bạn, Với hết lòng quý mến,

Người bạn của bạn,
Gabriel Garcia Marquez

Dịch từ bản Anh ngữ: Têrêsa Ngọc Nga 31-5-2009

14/10/08

XA LẠ TRÊN MẶT ĐẤT (2)



Jean-Marie Gustave Le Clezio (Nobel Văn học 2008)

BÁNH MÌ

Tôi yêu bánh mì. Làm bánh – đó là một trong những hành động quan trọng nhất mà con người nghĩ ra. Xây nhà, dựng cầu, làm đường, đưa máy bay lên không trung hay điều khiển những đoàn tàu, phát kiến ra những hệ thống tính toán mới, viết, vẽ, chụp ảnh – tất cả đều không tồi. Sản xuất kim loại, kỹ thuật đúc, in sách, điện tín không dây, thu âm và thậm chí cả máy may – là những phát minh tuyệt vời, minh chứng cho khả năng đáng được ngưỡng vọng về phép suy diễn và tư duy sáng tạo. Thật khó mà hình dung được con người đã phải thử nghiệm bao nhiêu lần, chịu bao nhiêu thất bại và cần biết bao bền bỉ để tạo ra những tuyệt tác kỹ thuật.

Nhưng bánh mì!... Đó chính là nơi hội tụ của phép màu thứ thiệt. Thậm chí ta không thể gọi bánh mì là phát minh, bởi nó xuất hiện từ quá khứ thẳm sâu và gắn bó vô cùng mật thiết với đời sống của nhân loại, đến nỗi không thể hình dung được sự xuất hiện của nó. Bánh mì cũng là một phát minh như lửa, muối, quần áo, nấu thức ăn nóng. Như phát minh ra những chu trình của nghề nông, thuần dưỡng ngô hoang, ngũ cốc, lúa, chuối, chè, lạc. Tất thảy mọi loại cỏ cây đã từ lâu bước vào sinh hoạt của con người và có vị trí vững chãi đến nỗi biến chủng hoang của chúng hầu như đã biến mất hoàn toàn khỏi tự nhiên.

Phép màu trước hết của bánh mì là bột – thứ bụi nhẹ, thu được sau khi say giã hạt, thành quả của quá trình lao động lâu dài – nhưng lại không thể làm nên thức ăn nếu chỉ có một mình. Những thớt đá cối xay đã làm công việc trước công việc của hai hàm răng, cối xay phân chia nhỏ hạt ra biến chúng thành bột, thứ có thể đem quấy thành món ăn đầu tiên cho trẻ nhỏ. Thứ bụi đó, thứ bột không ăn được đó phải hòa với nước, khiến nó giống như ximăng. Đổ lên bàn thành hình núi giống như miệng hỏa diệm sơn, bột bánh mì giống như nguyên liệu xây dựng. Và khi đó phép màu – thứ phép cổ xưa nhất của thế giới – lại có hiệu lực. Đôi tay phụ nữ bắt đầu công việc của mình để biến thứ đó thành bột nhão.

Đôi tay to bản, khéo léo, với những ngón tay khỏe mạnh và lòng bàn tay rắn chắc lấy bột, trộn nó với nước, nhào, đánh, cán thành lớp dài. Đôi tay là công cụ thực tế của phép màu phi thực tế, mỗi cử động của chúng lại làm biến dạng bột nhão. Chúng sục sạo trong khối sền sệt ấy, thấm thêm nước, sau đó bóp chặt lại để nước thừa chảy ra. Lòng bàn tay đóng, mềm mại và tròn trịa bao quanh khối bột, biến nó thành trái bóng và nêm chặt nó lại. Những ngón tay và nắm đấm cán bẹp nó, rồi vò rồi xoa làm nó tơi ra. Sau đó nó lại được cầm vào trong lòng bàn tay, cuốn tròn lại thành cục, và thế là mỗi phần của bột nhão hết ở ngoài rồi lộn vào trong, đều kịp thẩm thấu không khí và nước.

Cả quá trình ấy có nhạc điệu riêng: hai bàn tay túm nắm bột nhão lớn, gõ nó xuống bàn, vò nhàu và xé thành từng mảnh. Những ngón tay đánh vào đống bột nhão đó, bàn tay vừa vỗ vừa giẫm đạp lên nó. Đó là nhạc điệu của những bàn tay, giống như nhạc điệu của những người thợ đẽo đá, hay nhạc điệu của những người thợ nề, một thứ nhạc điệu cụ thể, nhịp nhàng và khi ta nghe nó hòa lẫn với âm thanh của tiếng thở, ta sẽ nghe thấy nhạc điệu cổ xưa nhất của thế giới, thứ nhạc điệu xuất hiện trên trái đất cùng với những bộ lạc người đầu tiên.

Phép màu còn có cả trong một phát kiến kỳ diệu nữa - ủ chua. Làm thế nào mà vào một ngày đẹp trời, người ta lại có ý nghĩ đưa vào khối bột nhão thô kệch và nặng nề, trông giống ximăng hơn là thứ có thể ăn được, một chất khiến nó nở tung ra, hấp thụ đầy không khí và trở nên dễ tiêu hóa? Điều đã xảy ra là sự sơ xuất hay tình cờ? Một lần có ai đó đã đưa vào đống bộn nhão mới trộn, chỗ bột nhão từ ngày hôm qua đã kịp chua sau một đêm – do lơ đãng hay do tiếc của? Nhưng đó lại là thành tố thần diệu, chỉ một chút ít của nó cũng đủ để biến đổi toàn bộ số bột nhão và kết quả đạt được thật đáng kinh ngạc: đó chính là bánh mì.

Vào thời đó cái chất ấy là chất tự nhiên, bởi chưng hàm lượng toan dịch trong quá trình ủ chua cũng giống hệt như trong bộ máy tiêu hóa. Ủ chua – đấy là sự tiếp nối của nước bọt, nó sửa soạn cho hiện tượng hấp thụ. Đó cũng chính là điều kỳ diệu, mặc dù có phần phức tạp hơn, được sử dụng khi chưng cất một số loại rượu tự nấu: nước bọt rơi vào nồi làm lên men ngô và thế là có rượu.

Phép màu còn nằm cả ở trong trình tự hành động, được lặp đi lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, như một nghi lễ và truyền đến với chúng ta. Bánh mì, được nặn trên bàn, đó là một cục bột nhão khá lớn được lăn bột và phủ bằng khăn ẩm. Nó nằm đấy và định hình trong lúc chờ đợi được đem nướng. Có lẽ, trong số những phát minh của loài người không gì chân chính và hoàn hảo hơn bánh mì. Công việc của đôi bàn tay với đống bột nhão không khác gì công việc của đấng tạo hoá nặn ra cơ thể con người, còn ủ chua thì tương tự như chính quá trình lên men sự sống.

Sau đó đôi tay nặn lên chiếc lò nướng bằng đất sét trên bộ khung gồm những thanh kim loại. Đôi tay nhóm lửa trên đống than củi tưới dầu. Phép màu cuối cùng diễn ra khi bánh mì được nướng từ từ trên lá kim koại trong bầu không khí nóng rẫy của lò nướng. Vỏ bột cứng lên và có màu vàng óng thật đẹp. Ruột bánh được hình thành với đầy những bong bóng khí. Một mùi thơm dìu dịu, thứ mùi khiến ta yên tâm và vui sướng, hoà lẫn với khói lan toả trong không gian.

Sau đó, khi bánh mì đã được nướng chín và nằm trên bàn, cũng đôi tay khoẻ mạnh với lòng bàn tay rắn chắc đó chia nó ra thành những lát bằng nhau.

Dịch qua bản tiếng Nga của Irina Kuznetsova

XA LẠ TRÊN MẶT ĐẤT (1)

13/10/08

XA LẠ TRÊN MẶT ĐẤT (1)



Jean-Marie Gustave Le Clezio (Nobel Văn học 2008)

BUỔI SÁNG

Tôi yêu cuộc sống mỗi sớm mai. Khi mặt trời còn chưa chịu thức giấc, khi không khí còn sạch sẽ tinh khôi, mọi sự đều giản dị và nhẹ bỗng. Ta từ giấc mơ quay trở lại , giống như quay trở lại sau chuyến viễn du đến những miền đất xa xôi và chợt thấy tất cả xung quanh ta đều đã biến đổi.

Không gian lạnh, bầu trời cũng lạnh. Ánh sáng hãy còn rất rụt rè, chứa đựng một chút gì đó của màn đêm, vừa chậm rãi vừa xa vắng. Nhưng dù thế nào thì thế giới cũng không bao giờ mở cho ta một tầm mắt rõ ràng và rành mạch đến thế giống như vào buổi sáng sớm. Ta thấy rõ từng chiếc lá trên cây, từng ngọn cỏ và từng phiến đá trên vỉa hè. Ta thấy rõ những ngọn núi, những ngôi nhà, những con đường và cả ngọn khói. Tất cả đều hiển hiện rõ nét như vẽ. Ta thấy rõ từng ngọn sóng biển, và ở xa tít chân trời là bóng dáng của những con tầu biển khổng lồ.

Tất cả đều ẩn chứa niềm hân hoan, nhẹ tênh! Mặt đất sạch trơn, không còn ranh mãnh, giống như sau mỗi trận mưa, cơn gió. Ý nghĩ vẫn chưa đem khói đến bao phủ thành phố. Người ta rảo bước thật nhanh, rụt đầu trong lớp cổ áo khoác, trên môi họ thấp thoáng làn mây ẩm ướt. Người ta đi im lặng. Đi xe máy trên những con phố.

Những cánh cửa sổ các ngôi nhà vẫn còn đóng kín, các cửa hiệu buông hàng rèm sắt. Tất cả vẫn như trong đêm, mặc kệ ánh sáng ban ngày đang về.

Vào thời khắc đó, thế giới vẫn còn yên bình và tuyệt đẹp, khi mà vẫn chưa có gì đi làm. Vạn vật nghỉ ngơi, những tán cây, con sông, bầu trời và biển cả. Mặt trời phi nhanh lên cao, vội vã về phía thiên đỉnh. Chính tôi cũng không biết đang ở đâu vào thời khắc này. Tôi không có tên, không có công việc, tôi không chờ đợi gì và không mong muốn gì. Chỉ rảo bước và hít thở. Dường như tôi là người cô lữ, vừa xuống khỏi con tầu đã đi ngang qua cả lục địa sau một đêm: tôi đi trên những đường phố xa lạ nơi mà không một ai phát hiện ra tôi. Tôi nhìn những ngã tư, những vườn hoa nhỏ, đọc những cái tên mà tôi cảm thấy khá lạ lẫm, tôi đi hú họa. Không khí lạnh lẽo, trong trẻo và lặng lẽ, tôi đang tồn tại trong cái khối ấy. Ở đây vẫn chưa một ai có tên. Dường như không tồn tại ý nghĩ, tiếng nói, mà tất cả mới chỉ là những viên đá có hình dạng rõ ràng, những tán cây tỉa gọn, những đài phun nước, những con phố vắng tanh, những chiếc xe hơi ướt đẫm sương và cái chính là bầu trời rộng lớn xanh xao với những đám mây bất động được mặt trời hắt ánh sáng lên từ bên dưới.

Những gương mặt chưa có dấu hiệu mệt mỏi. Chúng vẫn còn ngái ngủ, đưa mắt nhìn ánh sáng sớm trong trẻo và cũng lấp lánh thứ ánh sáng huyền bí nào đó của mình còn sót lại từ đêm.

Người ta hầu như không trò chuyện. Chẳng qua thỉnh thoảng có trao đổi dăm ba câu chào hỏi.

“Xin chào!”

“Xin chào!”

“Thời tiết đẹp quá!”

“Vâng, quả là một ngày tuyệt diệu!”

Đó là tất cả những gì người ta nói với nhau, như những cái máy.

Họ không ăn, không hút. Họ sửa soạn, nhìn ra ngoài trời, hay nhìn ra biển. Họ vẫn còn chưa nhớ hết những gì đã xảy ra hôm qua, đối với họ dường như không thể có chuyện hai con đường hòa vào làm một.

Nhưng không có bất hòa. Mỗi người đều thống nhất trong nội tại của mình và sẵn sàng tham gia, sẵn sàng lắng nghe. Khi họ lần lượt bước ra khỏi nhà mình với dáng vẻ sững sờ, tôi nhìn họ không một chút hoài nghi, họ giống như những con chim biển lớn bay qua lượn lại trên những bãi tắm.

Tôi không cần biết gương mặt họ, nhận diện ra họ khi gặp gỡ. Không cần phải nói chuyện với họ. Tất cả đều giản đơn vào thời khắc này, mỗi thứ đều có vị trí của nó, mỗi người đều đi theo con đường của mình, không động chạm với ai. Tôi muốn kéo dài thời khắc này, cái thời khắc của không gian lạnh lẽo mà thanh bình và ánh sáng xanh xao.

Khởi đầu một ngày dường như mở ra những ranh giới của thời gian. Không điều gì phá vỡ sự tĩnh lặng, không điều gì lừa mị và không điều gì làm cho ta lóa mắt. Tôi những muốn giữ thật lâu cho mình sự trong trẻo, nhẹ tênh này, sống chẳng cần tên, chẳng cần cá tính, chẳng cần mục đích, hệt như tôi đến chỗ hẹn sớm và không có gì để làm ngoài việc phải đợi, kiên nhẫn và lâu, đến nỗi suýt nữa thì quên mình đang đợi cái gì. Tôi những muốn sống trong sự soi rọi này nhưng không phá vỡ sự gần gụi giữa trời và biển. Dường như tôi không bao giờ phải nghĩ lại, phải biết, dường như không còn gì nghiêm túc có thể xảy ra.

Sau một đêm người ta đã biết thành những con thú nhỏ, những con côn trùng, chúng lấp lánh và nhảy những bước nhỏ xíu. Xung quanh chúng chẳng có gì ngoài những cọng cỏ, bầu trời trong sáng và những hạt nước lóng lánh.

Sau đó sớm mai nhẹ gót rời bước, lướt đi và tan biến. Lại xuất hiện những cái tên, những nghề nghiệp, những gương mặt, những lời nói, những nghĩ suy, tất cả những cạm bẫy của chúng ta. Ánh sáng trở nên gay gắt, không khí nặng dần. Khói tích tụ trên đầu thành phố, bao phủ bầu trời. Tất cả chấm dứt. Chúng ta bị mất nhau. Không khí không còn trong trẻo nữa, biển già đi.

Trên trái đất này có chỗ nào mãi luôn là buổi sáng không?

(còn nữa)

Tranh: Sáng sớm đi dạo của Debbie Neil

10/10/08

DỊCH DỌT - 9 NGƯỜI 10 Ý



Thông báo của Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải Nobel Văn học 2008 cho nhà văn Pháp Jean-Marie Gustave Le Clezio như sau (nguyên văn tiếng Anh): "author of new departures, poetic adventure and sensual ecstasy, explorer of a humanity beyond and below the reigning civilization".

Thử xem các báo Việt Nam dịch câu trên như thế nào:

Lao Động: "Tác giả của những chuyến phiêu lưu mới, những cuộc thám hiểm đầy thi vị và hứng khởi đam mê nhục cảm, người khai phá một nhân loại bên ngoài và bên dưới nền văn minh đang thống trị".

Thanh Niên: "Tác giả của những chuyến hành trình, cuộc phiêu lưu của thơ ca cộng với hứng khởi nhục cảm, người khai phá nhân loại từ bên ngoài và bên dưới của nền văn minh đang thống trị loài người".

Tiền Phong: “Tác giả của những sự khởi hành mới, những khám phá thi vị và niềm đam mê đầy cảm xúc; người khai phá nhân loại vượt ra cả bên ngoài và ẩn sâu trong nền văn minh đang ngự trị”.

Nhân Dân: “Tiểu thuyết gia của những cuộc khởi hành mới, những cuộc phiêu lưu đầy chất thơ và cảm xúc, người khám phá vượt ra ngoài khuôn khổ nền văn minh đương đại”.

VNExpress: "Tác giả của những điểm xuất phát mới, của cuộc phiêu lưu đầy chất thơ và những trạng thái xuất thần của cảm xúc; người khám phá một nhân loại nằm ẩn sâu và bên ngoài nền văn minh đang ngự trị".

VietnamNet: "Tác giả của những điểm xuất phát mới, của những cuộc phiêu lưu đậm chất thơ ca và trạng thái xuất thần của cảm xúc, người khám phá tính nhân bản nằm ẩn sâu và vượt ra khỏi nền văn minh đang ngự trị".

VN Media: "Tác giả của những cuộc hành trình mới, những cuộc phiêu lưu đầy chất thơ và là nhà thám hiểm nhân loại bên ngoài và bên dưới sự ngự trị của nền văn minh".

Đất Việt: “Tác giả của những sự khởi đầu mới, của cuộc phiêu lưu đầy chất thơ, của đam mê thể xác, và là người khai phá nền văn minh đang ngự trị của nhân loại”.

Sài Gòn Tiếp thị: "Người tạo ra những dòng văn học mới, những cuộc phiêu lưu đầy chất thơ và những xuất thần khoái cảm, người khám phá tính nhân văn ngoài phạm vi hay ẩn sâu trong nền văn minh đương đại".

Pháp luật TP HCM: “Nhà văn của những hướng đi mới, của những cuộc phiêu lưu thi vị và của sự mê ly nhục cảm, người khám phá một nhân loại ở bên ngoài và bên dưới nền văn minh đang thống trị”.

Tóm lại cụm từ độc đáo "sensual ecstasy" đã được dịch ra tiếng Việt như sau: hứng khởi đam mê nhục cảm, hứng khởi nhục cảm, niềm đam mê đầy cảm xúc, cảm xúc, trạng thái xuất thần của cảm xúc, đam mê thể xác, xuất thần khoái cảm, mê ly nhục cảm.

Riêng bạn VNMedia tách riêng cụm từ này đưa nó lên lead (chapeau) như sau: "những sự thăng hoa xác thịt nhưng đầy nên thơ".

Thấy tiếng Việt mình phong phú chưa?

Bạn có đóng góp thêm phương án nào thì viết trong comment nhé.

Tranh của Corbis

NOBEL VĂN HỌC LẠI VỀ TAY CHÂU ÂU



Nhà văn Pháp Jean-Marie Gustave Le Clezio đã bất ngờ được công bố đoạt giải Nobel Văn học 2008. Như vậy sự ngóng trông của dư luận về việc giải thưởng văn học danh giá bậc nhất này được trao cho Adonis (Syria) hay Murakami (Nhật Bản)... đã không thành hiện thực.

Le Clesio, 68 tuổi, được Viện Hàn lâm Thuỵ Điển tưởng thưởng như sau: "Ông là tác giả của những khởi đầu mới, cuộc phiêu lưu đầy chất thơ và đê mê nhục cảm; người khai phá nhân tính bên ngoài và bên dưới nền văn minh đang ngự trị".

Le Clesio viết cuốn tiểu thuyết đầu tay có tựa đề "Sa mạc" vào năm 1980. Tác phẩm này được Viện Hàn lâm Thuỵ Điển ca ngợi là "chứa đựng những hình ảnh tuyệt diệu của một nền văn hoá đã mất ở sa mạc Bắc Phi tương phản với sự mô tả Châu Âu thông qua con mắt của những người nhập cư không mời mà đến.

Tiểu thuyết này đã nhận được giải thưởng Hàn lâm Pháp và được coi là một kiệt tác. Le Clesio còn là tác giả của những tác phẩm xuất sắc khác như "Terra Amata", "Cuốn sách của những chuyến bay" (The Book of Flights), "Chiến tranh" (War) và "Những người khổng lồ" (The Giants).

Trong số 14 nhà văn đoạt giải Nobel từ năm 1995 đến nay, có đến 11 tác gia là người Châu Âu. Những người còn lại bằng cách này hay cách khác đều dính dáng đến Châu Âu.

Cao Hành Kiện là người Trung Quốc, nhưng đã nhập quốc tịch Pháp từ trước khi đoạt giải. Tương tự V.S. Naipaul là người Trinidad, nhưng cũng đã mang quốc tịch Anh.

John Maxwell Coetzee, mang quốc tịch Australia, sinh sống tại Nam Phi, nhưng lại pha trộn các dòng máu Hà Lan và Ba Lan. Không những thế ông có một thời gian khá dài sống ở London (Anh).

Trả lời phỏng vấn báo chí ngày 30.9, ông Horace Engdahl, Thư ký thường trực của Giải Nobel Văn học, đã phát biểu rằng: "Châu Âu mới là trung tâm văn học của thế giới". Và 10 ngày sau, lời nhận xét của ông đã được khẳng định một lần nữa.

17/10/07

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ TỰ DO (2)



Trích tiểu thuyết "Cuốn sổ vàng" (The Golden Notebook)
của Doris Lessing, nữ văn sĩ Anh đoạt Nobel Văn học 2007

(tiếp theo)

Cuối cùng thì Molly thở dài nói: “Tự do. Cậu có biết không, khi tớ đi xa ấy, tớ nghĩ về tớ và cậu, và tớ cả quyết rằng chúng ta là tuýp đàn bà hoàn toàn mới. Chúng ta phải là như vậy, đúng không?”

“Chẳng có điều gì mới dưới gầm trời này”, Anna cố tình nói theo giọng Đức. Điều đó khiến Molly càng bực tức - chị nói giỏi đến nửa tá ngôn ngữ: “Chẳng có điều gì mới dưới gầm trời này”, chị bắt chước hoàn hảo cái giọng xoe xoé của một bà già giọng đặc Đức.

Anna nhăn mặt, ghi nhận sự thất bại của mình. Chị không học được ngoại ngữ, do ý thức về bản thân mình quá rõ nên chị không thể trở thành một ai đó khác: có những lúc Molly trông thật giống Mother Sugar, biệt danh của bà Marks -người mà cả hai đến điều trị bằng phân tâm học. Cái cảm giác dè dặt mà cả hai cùng có về nghi lễ uy nghi và đau đớn được thể hiện qua con vật cưng có tên là “Mother Sugar”, mà một thời gian sau trở thành tên cho người nhiều hơn, ngụ ý toàn bộ cách nhìn đời của họ - thủ cựu, ăn sâu bám rễ, cổ hủ, bất chấp sự tương đồng đáng hổ thẹn của nó với bất cứ thứ gì phi luân thường đạo lý. Bất chấp cái cách mà Anna và Molly cảm nhận nghi lễ khi thảo luận về nó; cũng chính vì thế mà thời gian gần đây Anna ngày càng cảm được nhiều hơn; và đó cũng chính là một trong những điều mà chị muốn tranh luận với bạn mình.

Nhưng giờ đây phản ứng giống như vẫn thường làm trong quá khứ, đối với sự ám chỉ phê bình thoáng qua của Anna Mother Sugar, Molly nói nhanh: “Nhìn chung thì bà ta rất tuyệt và tớ không thừa hơi để phê phán”.

“Bà Mother Sugar thường nói: “Cô là Alectra” hay “Cô là Antigone”, và thế là chấm hết theo cách nghĩ của bà ấy”, Anna nói.

“Ờ, cũng không hẳn là chấm hết”, Molly nói vẻ chế diễu về những giờ dò dẫm đau đớn mà hai người vừa trải qua.

“Đúng thế”, Anna bất ngờ quả quyết khiến Molly lần thứ ba nhìn chị đầy tò mò. “Đúng. Mà tớ cũng có nói là bà ấy không làm cho tớ những điều tuyệt với nhất trên thế giới này đâu. Tớ tin chắc là tớ chưa bao giờ đương đầu được với những điều mà tớ phải đương đâu khi không có bà ta. Nhưng nói chung… tớ nhớ rất rõ một buổi sáng, ngồi tại đó – trong căn phòng lớn, những luồng sáng trên tường bí hiểm, Đức Phật, những bức tranh, những pho tượng”.

“Thế thì sao?” – Molly nói lộ rõ giọng chỉ trích.

Đối diện với quyết tâm rõ ràng nhưng không thổ lộ về chuyện không tranh cãi chủ đề này nữa, Anna nói: “Tớ cứ nghĩ mãi về chuyện đó trong suốt mấy tháng qua… giờ đây tớ muốn nói chuyện ấy với cậu. Dù sao thì cả hai ta đều đã trải qua chuyện đó, và với cùng một người…”

“Thế thì sao?”

Anna tiếp tục: “Tớ nhớ cái buổi chiều biết rằng tớ sẽ không bao giờ quay trở lại. Tất cả thứ nghệ thuật khốn khiếp ấy bừa bãi khắp nơi”

Molly hít một hơi thật dài. Chị nói nhanh: “Tớ không biết cậu định nói gì”. Do Anna không trả lời, nên chị nói giọng buộc tội: “Mà cậu có viết gì kể từ khi tớ đi vắng không đấy?”

“Không”

“Này tớ nói cho cậu biết”, giọng Molly rít lên, “Tớ sẽ không bao giờ tha thứ cho cậu nếu cậu vứt bỏ tài năng của cậu. Tớ nói thật đấy, tớ không thể chịu đựng được việc trông chừng cậu - Tớ đã lang chạ với vẽ, múa, diễn, viết, và bây giờ thì… cậu rất có tài, Anna ạ. Tại sao thì tớ cũng không thể hiểu nổi.

“Làm sao tớ có thể nói tại sao khi mà cậu lúc nào cũng gay gắt và chỉ trích?”

Mắt Molly ngấn nước. Những giọt nước mắt ấy đã được kìm nén khi chị buông ra lời chỉ trích nặng nề nhất đối với bạn mình. Chị bộc lộ một cách khó khăn: “Trong sâu thẳm tâm tư, tớ vẫn nghĩ, rồi tớ sẽ lấy chồng, cho nên sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu tớ phí phạm tài năng bẩm sinh của tớ. Cho đến gần đây thậm chí tớ còn mơ ước có thêm con – đúng tớ biết đó là điều xuẩn ngốc, nhưng sự thực đúng là như thế. Tớ đã 40, mà Tommy thì đã lớn. Nhưng vấn đề là cậu lại không viết chỉ bởi vì cậu nghĩ đến chuyện lấy chồng…”

“Nhưng cả hai ta đều muốn lấy chồng”, Anna nói với vẻ hài hước; tinh thần cuộc nói chuyện được phục hồi; chị đau đớn hiểu rằng cuối cùng chị vẫn không đủ khả năng để tranh luận một số chủ đề với Molly.

Molly cười khan, chiếu tia nhìn rát buốt và chua xót vào người bạn và nói: “Thôi được rồi, nhưng rồi cậu sẽ phải hối tiếc đấy”.

“Hối tiếc”, Anna bỗng phá lên cười. “Molly, sao cậu không bao giờ chịu tin rằng những người khác lại có những khiếm khuyết mà cậu có nhỉ?”

“Cậu khá may mắn vì chỉ có một tài, chứ không phải bốn tài”.

“Hình như một tài của tớ có áp lực rất mạnh đến bốn tài của cậu?”

“Tớ không thể nói với cậu trong tâm trạng thế này. Tớ pha trà cho cậu trong khi chúng ta chờ Richard nhé?”

“Tớ thích uống bia hay cái gì đó khác”, chị trả lời giọng khiêu khích. “Tớ nghĩ tớ sẽ rất hứng chí được uống vào thời điểm muộn hơn”.

Molly lên giọng đàn chị, chính cái giọng mà Anna đã đưa ra: “Cậu đừng có bỡn cợt, Anna. Nhất là khi cậu thấy điều đó ảnh hưởng đến người khác như thế nào - cậu nhìn Marion ấy. Tớ tự hỏi không biết cô ấy có say sưa khi tớ đi vắng không?”

“Tớ có thể nói với cậu là cô ấy có – đúng thế, cô ấy có đến gặp tớ vài lần”.

“Cô ấy đến gặp cậu à?”

“Đấy là chuyện mà tớ muốn nói đấy, tớ đã nói với cậu rồi tớ có thể hoán đổi mà”.

Là người theo quan điểm chiếm hữu, Molly tỏ rõ sự oán giận, Anna biết chị sẽ có thái độ như thế khi nói: “Tớ cho là cậu sẽ nói Richard cũng đến gặp cậu đấy chứ?” Anna gật đầu; Molly nói mạnh mẽ: “Để tớ đi lấy bia”. Từ bếp trở ra với hai cái ly cao được để lạnh lấm tấm hạt nước, chị nói: “Nào, tốt nhất là cậu hãy nói với tớ tất cả trước khi Richard đến, nhé?”

Đây là bản dịch có bản quyền. Đề nghị không post lên blog hoặc diễn đàn.
Xin cảm ơn.

 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết