Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

4/12/11

CHÙA VÂN SƠN Ở CÔN ĐẢO




Chùa Vân Sơn được các bậc tiền bối Phật giáo và đồng bào Phật tử trong đất liền phối hợp với nhân dân Côn Đảo xây dựng trên Núi Một (Côn Sơn - Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)từ năm 1964, để đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân địa phương và phục vụ các ngư dân đến Côn Đảo tránh bão; đồng thời cũng là nơi mà người dân địa phương cầu chúc cho các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm trong các trại giam khét tiếng ở đây. Trong một thời gian dài, chùa Vân Sơn không có người chăm nom, hương khói nên theo thời gian đã bị hư hại.

Với sự quan tâm của Giáo hội PGVN và tổ đình Vĩnh Nghiêm (TP HCM) cũng như việc thành tâm cúng dàng của các Phật tử và việc góp sức của toàn thể nhân dân, ngôi chùa Vân Sơn – Núi Một đã được khởi công xây dựng lại cuối tháng 7 năm ngoái.

Chùa Vân Sơn mới đã được khánh thành tối 3.12 vừa qua.

Chùa trông thẳng ra biển với phong cảnh rất ngoạn mục.


Lầu trống

Lầu chuông




Đường lên chùa trải qua 200 bậc thang.




Ban thờ Phật.





2/9/11

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 2/9/1945



Đã bao giờ bạn đọc toàn văn Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 2/9/1945? Hôm nay ta cùng đọc lại nhé!

Hỡi đồng bào cả nước,

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.







20/6/11

CỬA NGƯỜI


Cổng chùa Láng

LÊ THIẾT CƯƠNG

Năm 1984, tôi mê một cô gái ở “phố nhà binh”, cô này con quan, gia đình nề nếp, kỷ cương như trại lính. Bố mẹ cô ấy phong phanh biết chuyện yêu đương của con gái, họ ra lệnh cấm trại, nội bất xuất ngoại bất nhập. Thỉnh thoảng tôi đạp xe lướt qua lướt lại, đeo kính đen, liếc trộm từ xa. Năm thì mười hoạ may thì nhìn thấy cô ấy đứng ở cửa.

Một lần gặp thi sĩ Hoàng Cầm ở nhà bác Đặng Đình Hưng, hôm đó bác Cầm đọc một bài thơ mới. Bài thơ dài, tôi chỉ nhớ mỗi một câu để lẩy vào mình, để vận vào tình cảnh của mình. “Em cười như lá mỏng/ Tựa cửa vào chiêm bao”. Cái cửa chiêm bao đó thật mơ mộng, từ đó đến nay tôi không còn gặp cái cửa nào như vậy nữa. Câu chuyện thực và câu chuyện nhớ lại sau gần 30 năm có thể không trùng khít nhưng thôi, tội gì mà chả cho quá khứ đó sang sang thêm tí chút.

Cách đây vài năm gia đình nhà cô vợ tôi ở Mỹ phải họp để quyết định xem ai được ở chung với bà ngoại. Từ bác cả đến cậu út ai cũng có lý của người ấy chưa kể bà mẹ vợ tôi phân trần bao nhiêu năm đi làm ăn xa, nay về hưu muốn được đón bà về ở để phụng dưỡng. Cuối cùng thì vợ chồng nhà dì Bé thắng cuộc, nguyên do giản dị thế này. Dì Bé sang Mỹ từ nhỏ, mấy chục năm ở xứ người nhưng chả hiểu sao dì lại là người giữ được nếp sống của người Việt nhất. Dì bảo “Một mẹ già bằng ba then cửa”, một câu thành ngữ hay mà ngay cả những người trẻ ở trong nước cũng không biết hoặc không còn dùng nữa. Dì nói xong, cả nhà đều nhất trí bỏ phiếu thuận để dì được ở với bà. Thế là hợp nhất vì cả hai người đều thích lối sống cổ. Lẽ đương nhiên chẳng ai hiểu theo nghĩa đen, ở với bà để bà trông nhà giúp, nhưng đến gia đình nào thấy có người già trong nhà, tự nhiên thấy an lành, thấy ấm cúng hơn thì phải.

Cổng chùa Kim Liên

Tại sao người ta không nói ghép nhà/sân, nhà/mái mà lại nói nhà/cửa? Hướng cửa cũng là hướng nhà, ai làm nhà mà chả muốn chọn hướng tốt như sinh khí, diên niên, thiên y hoặc phục vị rồi còn sơn (vị trí của cửa), rồi còn kích thước nữa. Hiểu như vậy thì thấy cửa với nhà là một. Còn cái câu “Một năm làm nhà, ba năm làm cửa” chứng tỏ để có một bộ cửa ưng ý, hình thức kiểu cách gì, chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật ra sao thì phải mất rất nhiều thời gian để làm hoặc để kiếm tiền mà làm. Cửa nào mà chả là khuôn mặt của một ngôi nhà. Cửa ván lùa, cửa bức bàn, cửa thượng song hạ bản… mỗi thời có một kiểu mặt của mình. Cửa chùa Láng, Hà Nội rất độc đáo, mái không nằm trên đầu cột mà treo ở lưng chừng giữa các cột. Cửa chùa Kim Liên có bộ mái đồ sộ trên hàng cột thấp, nhỏ nhưng không bị cảm giác đè xuống nặng nề mà trái lại mái tam quan trông như con chim phượng đang vỗ cánh bay lên. Cổng chùa Mía, Sơn Tây chính là gác chuông…

Nhân cái dịp đưa mấy người quen ở nước ngoài đi du xuân và chụp ảnh các cổng làng ở đồng bằng Bắc bộ. Tôi có bàn với họ: cái cổng làng cũng là bản tính của người Việt, đóng thì không đóng chặt, mở thì chỉ mở hé. Tức là chỉ mở hé và khép hờ thôi. Nếu không đóng thì làm sao bảo tồn được truyền thống qua biết bao thăng trầm của lịch sử, nếu không mở thì làm sao giao lưu được với bên ngoài, nhận được cái hay của bên ngoài vào để làm giàu mình. Hai cánh cổng của làng Việt như một cái van đóng mở tuỳ thì. Đóng – khép, mở – hé. Cái cánh đóng, giúp bảo tồn, cánh mở giúp hoà nhập. Đó là đặc điểm trong cách giao lưu của người Việt với bên ngoài.

Tôi đi thăm nhiều ngôi chùa cổ, thấy có những cửa sổ hình tròn, trang trí bát quái. Thế có nghĩa là khi càn khảm cấn chấn… đến thì Phật giáo đã ở đây rồi. Họ cùng chia nhau ảnh hưởng và chung sống hoà bình với nhau cũng như từ đầu công nguyên khi Phật giáo đến Việt Nam nó tự nguyện kết hợp với tín ngưỡng bản địa (thờ tứ pháp) để tồn tại và phát triển. Ở Việt Nam không có mâu thuẫn tôn giáo.

Then cửa

Vừa rồi các vị trường lão ở làng Chùa (quê của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều) quyết định xây lại cái cổng làng. Ai cũng biết là chả thể nào dựng lại được cái đã mất nhưng vẫn cứ phải làm để đề trên cổng dòng chữ Vọng tự nhập xuất. Cái cổng cũ đã bị đổ từ thời chiến tranh nhưng những chữ đó thì vẫn còn, còn trong đầu những người già của làng Chùa. Họ muốn con cháu họ hàng ngày ra vào, đi về nhìn thấy những chữ đó để biết cách mà sống. Thiều giải thích với tôi: “Những người già của làng tôi nói nghĩa của bốn chữ đó là: nhìn chữ để biết việc ra vào. Và tôi hiểu: chữ ở đây là văn hoá. Việc “ra vào” ở đây là phép hành xử với cuộc đời. Không có văn hoá thì không biết sống như thế nào”.


Hôm nọ về quê của người bạn chơi, một làng cổ nằm bên sông Đáy. Quê anh ấy vẫn nghèo, chùa của làng còn nguyên, chưa bị trùng tu, tam quan chùa nhỏ nhắn, bên phải cổng chính viết hai chữ Phương tiện, bên trái hai chữ Tuỳ duyên. Đúng ngày rằm nhưng chùa vẫn vắng vẻ. Tôi ngồi nói chuyện với sư thầy một lúc lâu, chuyện kinh kệ, chuyện Phật pháp. Tôi thắc mắc về mấy chữ ngoài cửa chùa. Sư thầy im lặng nghe, mãi khi tiễn tôi ra cổng, mới nói: Tuỳ duyên là cứ tuỳ duyên mà sống. Quá khứ thì đã qua, tương lai hay niết bàn cũng là chưa tới, yên tâm vui vẻ sống ở cuộc đời thật của hiện tại này đi đã. Còn duyên thì hợp, hết duyên thì tan. Bận tâm làm gì. Buồn hay vui, hạnh phúc hay bất hạnh, chính hay lệch, danh hay lợi, đỉnh cao hay vực sâu, gặp gỡ hay chia ly thì cũng chỉ là phương tiện.

Cái cửa chùa Phương tiện – Tuỳ duyên ở quê nhà bạn tôi là cửa đạo mà cũng là cửa đời, cửa người, cửa cho mọi người, cửa cho mỗi người.





19/6/11

BẢO TÀNG VĂN HÓA BIỂN



ĐỖ THÁI BÌNH

Đúng là chúng ta nên có một Bảo tàng Văn hóa biển Quốc gia, như thông điệp truyền đi từ hội thảo “Văn hóa biển đảo” ở Nha Trang mới đây. Nhưng trước hết cần thức tỉnh lòng say mê nghiên cứu văn hóa biển, tránh hư danh trong học thuật, nhất là trong điều kiện có khả năng hợp tác quốc tế rộng rãi, hợp tác liên ngành, nếu không nó sẽ khó tránh khỏi viễn cảnh giống như Bảo tàng Hà Nội, một công trình khổng lồ mà rỗng ruột!

Qua theo dõi báo chí và thăm thú nhiều bảo tàng trong nước nói chung, nhiều ý kiến đã nêu lên những cái chưa được của quan niệm làm bảo tàng ở Việt Nam. Vì bảo tàng đâu chỉ là nơi minh chứng một quyết định của một thời mà còn là nơi để các thế hệ say mê học tập quá khứ để nhìn về tương lai, nơi trưng bày những sự vật sinh động, nhân văn lôi cuốn mọi người? Nếu với cách làm bảo tàng hiện nay, có lẽ chúng ta không thể chấp nhận như một vài bảo tàng nước ngoài mà tôi đã thấy, ví dụ nó diễn giải con người đã giải quyết việc “ị” trên tàu như thế nào, từ thời các tàu buồm cho tới con tàu hiện đại, một việc khá tầm thường theo cách nhìn chung của chúng ta, nhưng lại khá sinh động và rất “khoa học công nghệ”, rất nhân văn.

Bảo tàng Dân tộc tại Hà Nội là một thí dụ thành công: người tham quan đã từng được ôn lại sinh hoạt thời bao cấp với những chi tiết tỉ mỉ, trẻ em có thể chơi “ô ăn quan” đúng như các cụ ta xưa kia vui đùa. Chỉ tiếc là cái thuyền Thanh Hóa để gần cửa ra vào của Bảo tàng chẳng nói lên được điều gì về cuộc chinh phục sông biển của dân tộc… Cho nên thay đổi một cách sâu sắc cách làm bảo tàng, sử dụng thật tốt các bảo tàng với yếu tố biển sẵn có như Bảo tàng Hải quân Hải Phòng, Bảo tàng Cọc Bạch Đằng tại Quảng Yên, Bảo tàng Quy Nhơn, Bảo tàng Trận Rạch Gầm-Xoài Mút tại Mỹ Tho… có thể là việc cần làm ngay, thiết thực, là bước tập dượt cho một bảo tàng chuyên mang yếu tố biển sau này.

Một yếu tố vô cùng quan trọng nữa là hiện vật và các câu chuyện, là nội dung trong khối nhà to lớn mà ta sẽ gọi là Bảo tàng Văn hóa biển. Có thể nói rằng, cái “ruột” của bảo tàng đó hiện nay quá sơ sài, nếu không muốn nói là chẳng có gì, tức là chúng ta chưa có nhiều công trình nghiên cứu sinh hoạt sông biển của dân tộc, từ việc làm ghe đóng thuyền, may buồm, tới việc đan lưới đánh cá và các câu ca dao hò vè… Có bạn sẽ phản đối và dẫn ra một loạt các công trình nghiên cứu về lễ hội Nghinh Ông, về các lễ Cầu Ngư… nhưng cứ xem bộ phim về biển đảo mà Truyền hình Việt Nam đã xây dựng cũng đủ biết tư liệu quá nghèo: lại các ảnh Hội An từ tư liệu nước ngoài cũ kỹ, lại thuyền trống đồng… Có một chi tiết trong bộ phim này mà tôi không quên là có một ông tiến sĩ dân tộc học trước cái mô hình thuyền buồm cánh dơi đã giải thích say sưa về cái xiếm nhưng nhầm nó với chức năng bánh lái thuyền, một cái nhầm chết người về kỹ thuật!

Trong khi đó những việc làm từ Trung Hoa đáng để chúng ta học tập. Từ vài chục năm trước, với ý chí bành trướng ra đại dương, họ đã có một kế hoạch tỉ mỉ lôi cuốn toàn dân, trước hết là giới học giả, khoa bảng trong cuộc ngược về quá khứ tìm tòi truyền thống, hướng tới tương lai đại dương, biển xanh, trong tất cả mọi ngành nghề từ khoa học xã hội lẫn tự nhiên, từ tỉnh miền núi Vân Nam tới những bảo tàng thuyền ở Phúc Châu, Phúc Kiến, từ những kho sách cổ tại Bắc Kinh tới những cuộc truy tìm các hậu duệ Hoa cho là còn sót lại tại Kenya (1) Phi Châu, từ hàng trăm nghìn đầu sách về lịch sử chinh phục biển trong nước tới cả những cuộc liên kết cổ động cho Gavin Menzies (2), một ông sĩ quan Anh về hưu nhưng mê “vịt tiềm Bắc Kinh”… Nhìn những cuốn sách trong bộ “Cổ thuyền” (3), một công trình nghiên cứu của họ, chứng minh cuộc chinh phục biển trong quá khứ, chúng ta không thể tự hỏi, ở nước ta đã có những công trình tương tự như vậy hay vẫn chỉ là việc nhắc lại những Paris, Pietri, những công trình bất hủ nghiên cứu về thuyền bè của chúng ta đã có tuổi đời hơn nửa thế kỷ? Các công trình của các trường đầy ắp các đề tài “thiết kế tàu 5 vạn tấn”, “thiết kế tàu cánh ngầm”, những đề tài copy và paste, cắt và dán nhưng liệu có đề tài nào đề cập tới buồm cánh dơi, cách tính toán và công nghệ dân gian ra sao?

Trong khi đó chúng ta nên biết rằng tàu thuyền Việt Nam luôn là đề tài nghiên cứu của nhiều thế hệ các học giả nước ngoài, là nỗi đam mê của John Doney và Edwards người Mỹ, của bà Francoise Aubaile-Sallenave (4) người Pháp. Suốt mùa hè năm 2009 Edwards đã một mình rong ruổi một chiếc xe máy cà tàng từ Móng Cái tới Kiên Giang với một chiếc máy ảnh để lưu giữ hàng nghìn tấm hình thuyền bè mà ông sợ “sẽ mất rất nhanh theo thời gian”! Có lẽ Tim Severin (5), nhà du lịch huyền thoại người Anh biêt rõ về nơi làm buồm cánh dơi tại Hà Nam, Phong Cốc, Quảng Yên hơn rất nhiều các học giả nước ta.

Đúng là chúng ta nên có Bảo tàng Văn hóa biển Quốc gia, nhưng trước hết cần thức tỉnh lòng say mê nghiên cứu văn hóa biển, tránh hư danh trong học thuật, nhất là trong điều kiện có khả năng hợp tác quốc tế rộng rãi, hợp tác liên ngành. Chúng ta biết rằng cuộc nghiên cứu cọc Bạch Đằng (6) vừa qua đã có mặt nhiều trung tâm khảo cổ hàng đầu thế giới, sử dụng nhiều công nghệ mới, trong đó có sonar quét bên…Mục đích cuối cùng l�Bảo tàng Văn hóa biển phải có khả năng truyền bá lòng yêu biển, lôi kéo toàn dân tộc tiến ra đại dương làm giàu từ biển và sẵn sàng hy sinh bảo vệ sông biển mà tiền nhân đã giành được!

___

(1) Tháng 10 năm 2010, các nhà khảo cổ Trung Quốc đào bới ở ven bờ Malindi, Kenya cộng với những bằng chứng nhân chủng học để cố chứng minh Trịnh Hòa thời nhà minh đã tới nước này và bị đắm tàu!

(2) Tác giả một số sách gây sốc, trong đó có cho rằng Trịnh Hòa nhà thám hiểm thời nhà Minh đã đi vòng quanh thế giới trước Magellan, và đã bị chính các nhà khoa học Anh bác bỏ.

(3) Có hàng chục công trình về cổ thuyền, gần đây tháng 05/2011 là cuốn “Trung Quốc Cổ Thuyền Đồ Phả” 中国古船图谱 của tác giả Vương Quan Trác王冠倬

(4) Tác giả “Bois et Bateaux du Vietnam” xuất bản tại Paris năm 1987

(5) Người đã thực hiện rât nhiều chuyến du lịch lặp lại của người xưa. Trong cuốn “China Voyage” xuất bản năm 1994, ông tả lại chuyến vượt Thái Bình Dương bẳng mảng tre (làm tại Sầm sơn) với buồm (may tại Hà Nam Quảng Yên )

(6) Cuộc khai quật nghiên cứu trận Bạch Đằng tiến hành năm 2009 thực hiện bởi Tiến sĩ Lê Thị Liên, Cô Huong Nguyen Mai, Cô Charlotte Pham, Tiến sĩ Mark Staniforth, Tiến sĩ Jim Delgado, Ông Jun Kimura và ông Randall Sasaki

Ảnh: Buồm cánh dơi trên Vịnh Hạ Long.

Nguồn:
Bảo tàng Văn hóa biển?



15/6/11

HƯỚNG CỦA KẺ GIAN



1. Trong chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, đã từng phải đương đầu và chiến thắng oanh liệt trước nhiều kẻ thù có sức mạnh quân sự gấp nhiều lần. Đó là những chiến thắng kỳ diệu được làm nên bởi ý chí quật cường, sức mạnh tổng hợp của toàn quân, toàn dân với chiến lược “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn”, “cả nước chung sức, trăm họ là binh” như thời nhà Trần ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông là một thí dụ.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, dân tộc ta, nhân dân ta đã sử dụng triệt để nghệ thuật đánh địch và thắng địch từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn, từ vũ khí thô sơ quy mô nhỏ của các đơn vị bộ binh tiến lên tác chiến hiệp đồng binh chủng với quy mô ngày càng lớn. Và đặc biệt, chúng ta đã phát huy tốt tư tưởng “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn” để tự tạo lợi thế cho mình... Quân dân ta luôn dành được chiến thắng theo tôi còn do một yếu tố nữa, đó là nhân dân ta luôn tỉnh táo và xác định đúng hướng đối tượng tác chiến.

2. Tôi từng thắc mắc màn múa cờ trong lễ hội Gióng (đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, Gia Lâm) là tại sao trong màn múa này, các nghệ sĩ múa chỉ hướng về một phía nhất định chứ không hướng lên khán đài hoặc một hướng nào khác. Tìm hiểu kỹ, tôi được biết, màn múa cờ lệnh trong Lễ hội Gióng chỉ hướng về phía bên kia, chứ không quay về phía khán đài như ở nhiều lễ hội là vì ở trong đó, tiềm ẩn một tư duy, một ý nghĩa rất sâu xa của người dân. Ấy là do kẻ thù thường hay đến từ hướng đó”.

Nối dài tư duy chiến thuật này, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, quân dân ta sau khi đã xác định đúng hướng địch, chủ yếu là tập trung ở vùng núi nên đã cho phép ta tập trung lực lượng đánh những trận then chốt trong quá trình phát triển chiến dịch, biến hướng tiến quân của địch trở thành tử huyệt của chính chúng, tiếp tục giải quyết mâu thuẫn “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều” của nghệ thuật quân sự.

3. Kẻ thù cũng giống như một tên trộm, chúng luôn mắt la mày lét theo dõi chủ nhà và mò vào nơi có của từ bất kỳ hướng nào. Tôi chợt nghĩ đến hình ảnh bà già gánh cam đi chợ, nom được đằng trước thì kẻ cắp lẻn đằng sau, nhưng khi kẻ cắp thò tay nhón một quả đã bị bà đảo vai, trợn mắt. Hóa ra khi gánh cam trên đường, bà cụ luôn giữ mắt vào bóng của rổ cam bị ngược nắng in xuống đường nên thành thử “hướng tiếp cận” của kẻ gian đã bị bà phát giác.

Từ câu chuyện nhỏ này, tôi thấy cũng thấm thía, rằng cần phải hiểu “đối thủ”, đoán được ý đồ của đối thủ từ đó ngăn chặn chúng, đó là cơ sở của chiến thắng.

Có thể coi đây là một kinh nghiệm, hay chỉ là lời thiển cận, cạn nghĩ của riêng tôi thì vẫn xin nói: hãy bình tĩnh, tỉnh táo và xem lại ngôi nhà của mình xem hướng nào khả năng kẻ cướp, kẻ cắp có thể lẻn vào để mà biết đường xử lý!

Phạm Nguyễn

Ảnh: Các bé trai tại lễ hội Gióng.

Nguồn:
Hướng của kẻ gian



8/6/11

MƯA HUẾ



Mưa Huế là một cách nói, chứ thực ra, từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch, cả ba tỉnh Bình - Trị - Thiên đều có những đợt mưa dai dẵng, dài đến mấy chục ngày đêm. Trừ khi sắp có bão hay ngay trong cơn bão sẽ có mưa như trút nước, còn bình thường, mưa Huế, mưa Bình - Trị - Thiên cứ rỉ rả, như thể nếu mưa lớn quá thì trời sẽ hết nước!

Mưa Huế là một loại mưa dầm dề, ủ ê, thúi trời thúi đất, mà chỉ có ở khúc giữa của miền Trung Việt Nam. Tháng 9, tháng 10 âm lịch chưa phải mùa rét, nhưng khi bắt đầu có mưa thì Huế trở lạnh, đất trời, cảnh quan chìm trong màn nước đùng đục, tà áo dài trắng học trò, tà áo dài tím thiếu nữ, tà áo dài nâu của các o, các mệ phải ủ trong áo choàng, áo len; sông Hương thôi trong xanh mà bàng bạc nước dâng, những con đò như bơi giữa mây mù.

Nếu là những ngày mưa bụi, hạt mưa nhỏ như hạt bụi giăng kín trời kín đất, nếu không phải lo kiếm sống thì có thể đầu trần đi dạo một vòng cho mưa ướt tóc, sẽ thấy như mình được thiên nhiên ấp ủ, tâm hồn nhẹ tênh.

Mưa lất phất kèm gió bấc đầu mùa, dù chưa hun hút, nhưng vào công sở, vào lớp học, cứ xuýt xoa kêu lạnh, cũng là một cái thú. Anh xích lô, chị hàng gánh, bác cày ruộng quen với mưa Huế như là nhu cầu, bởi có mưa Huế khách mới đông, ruộng không thiếu nước.

Mưa Huế làm người ta nhớ nhung, khi thì mông lung, lúc lại rất cụ thể. Như tôi, Thu Đông 1975, lần đầu về Huế hưởng hòa bình, thấy mưa, lại quay quắt nhớ trắng rừng trắng suối mưa giăng trong những năm đánh giặc dọc Trường Sơn; lại bồn chồn hơi ấm của em những đêm chung mưa từ chiến khu vượt quốc lộ 1A, len lỏi giữa các ổ phục kích của quân Đại Hàn, quân Cộng hòa để về đồng bằng Trị - Thiên làm phóng sự chiến tranh.

Nỗi nhớ mưa rừng của em, mà không nói ra, những cô gái ngày nay không hiểu, là nếu không hong bằng than củi thì phơi hằng tháng trời áo quần vẫn không khô, do hơi nước trong lán cũng ngang bằng với mưa lâm thâm ngoài rừng...

Mưa Huế làm ta thèm hơi ấm người thân, thèm hơi ấm ngọn lửa, thèm được quây quần...
Nhu cầu thưởng ngoạn mưa Huế là có thật, nhưng thưởng ngoạn một cách tự nhiên như bấy lâu nay thì đâu có gì đặc biệt. Có phải vì thế mà có người đưa ra ý tưởng lấy mưa Huế làm sản phẩm du lịch, hay nói cách khác, dùng mưa Huế để thu hút du khách.

Nhiều nước trên thế giới đã có loại hình du lịch thiên tai (như du lịch trong bão, lụt), du lịch trách nhiệm (du lịch cứu trợ đồng loại vì thiên tai, địch họa) và du lịch trải nghiệm (du lịch trong không gian bất thường). Mưa Huế chỉ có thể tạo ra sản phẩm du lịch trải nghiệm bởi rất hiếm nơi có hiện tượng thiên nhiên này và bởi nó tạo ra rất nhiều cung bậc cảm xúc tùy tâm trạng con người.

Hãy hình dung... Trong một sảnh mở (có thể có vách kính di động) ở một tầng lầu nào đó, du khách có thể vừa nhâm nhi cà phê và ngắm kinh thành xưa mờ ảo trong mưa bay la đà. Hãy hình dung...

Trong một nhà vườn nào đó ở Kim Long, du khách được thưởng trà pha bằng chính nước mưa đang tý tách ngoài hiên, trên tay là một quyển sách ưa thích. Hãy hình dung...

Trong một ngôi nhà rường bên sông Hương, du khách có thể vừa nghe nhạc, vừa hưởng chiều mưa phố buồn trôi qua khung cửa mà thấm thía sự lẻ loi, cô đơn của con người, để rồi vấn vương hoài với kỷ niệm ấy.

Hãy hình dung... Trên một con đò ngược sông Hương lên bến Tuần, lên nữa, sao cho càng xa phố thị càng tốt, du khách ngồi trên chiếu như ngồi thiền, vừa nghe ca Huế, vừa thả hồn trong mưa sa nước sỉa giăng mờ tỏ đôi bờ, mờ tỏ những đỉnh núi Trường Sơn...

Nhưng bấy nhiêu không đủ làm nên những tour du lịch trải nghiệm. Phải tổ chức cho du khách mặc áo mưa đạp xe đạp ra vùng nông thôn Huế để họ biết thế nào là “mưa thúi trời thúi đất”, để họ có thể cùng nông dân Hương Thủy, Hương Trà trồng rau, đơm cá, cùng ăn với nông dân bữa cơm đạm bạc trong cảnh mưa phùn gió bấc, với bếp lửa củi quyện hơi ấm bên thềm nhà.

Nhà văn Trần Thùy Mai từng đề xuất với ngành du lịch xây dựng những vỉa đường ngắm mưa, có mái che, trên những vỉa đường ấy có quán cà phê, có quán rượu với thức ăn nhẹ, để nếu muốn, du khách tha hồ thong dong với Huế trong những ngày mưa não nề.

Và từ những vỉa đường ngắm mưa ấy, du khách có thể lang thang phố này sang phố khác để biết thêm thế nào là “mưa lá”, mà như một người Huế xa xứ, khi nhớ Huế, đã mô tả: Đang đi dưới những tàn cây xanh, bỗng nghe tiếng gió ào qua biển lá, vô số mảnh nước đọng trên lá sẵn chờ gió lay, ồ ạt rơi xuống phủ lấy con người, phủ lấy mặt đường. Tiếng lá ướt xào xạc kéo dài trong gió, nghe như tiếng thở dài kỳ bí của hồn mưa.

Mưa là đặc sản kỳ thú của Huế. Nhưng làm sao để “đãi khách” món đặc sản này cho khách vừa lòng đây?...

PHƯƠNG HÀ

Nguồn:
Mưa Huế



16/12/10

NGƯỜI VIỆT XẤU XÍ (2)



CẢNH THÁI

4. Dễ rơi vào trạng thái tôn sùng các giá trị vật chất

Hiện tượng tôn sùng tài sản vật chất hơn là các giá trị nhân văn hay các truyền thống tốt đẹp của nhân loại xuất hiện ngày càng nhiều trong mọi tầng lớp xã hội, kể cả tầng lớp trí thức, có học.

Các tội phạm tham nhũng, tội ác phi nhân trong các câu chuyện có thực ngày càng nhiều, mà người gây án là các quan tham hay những người có ăn học và được đào tạo bài bản. Những người sinh ra không hẳn đã sống thiếu thốn vật chất lại được hưởng nhiều ưu đãi, đặc quyền, đặc lợi, nhưng nay không phải vì thiếu miếng cơm, manh áo vẫn cố tình phạm tội (Xem vụ án Nguyễn Đức Nghĩa ai cũng phải rùng mình, kinh sợ).

Do bản năng tham lam, tham vọng và dục vọng cá nhân lớn hay do môi trường sống thay đổi đã cổ vũ cho việc sùng bái vật chất này?

Sống gấp, sống ích kỷ vội vã, chỉ biết lo cho bản thân, chạy đua theo các giá trị vật chất, sống hưởng thụ bất chấp hậu quả tai tiếng về sau. Chưa kể các khiếm khuyết trong hệ thống bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người và phát triển hệ thống an sinh xã hội cho mọi thành phần người dân, kể cả các tầng lớp nghèo khổ và chịu thiếu thốn thiệt thòi nhất.

5. Tính kỷ luật trong lao động và đời sống pháp luật chưa cao


Hiện tượng vượt đèn đỏ trong giao thông, không bỏ rác vào nơi qui định, luôn muốn “luồn lách” và qua mặt pháp luật nếu có điều kiện hay ở những nơi chốn thiếu sự giám sát của các cơ quan pháp luật hoặc cấu kết với các cá nhân trong các cơ quan quản lý nhà nước để trục lợi và tạo ra quyền lợi nhóm hay nhóm lợi ích.

Một số “rường cột” của xã hội là “gia đình” và “nhà trường” hay “quan trường” cũng chịu tác động ghê gớm. Các vụ bạo hành trong gia đình và nhà trường hay tham ô tham nhũng trong quan trường xảy ra càng lúc càng nhiều; các tội ác ngày càng rùng rợn, các kẻ thủ ác thì không còn là đói ăn hay thất học hay bần cùng sinh đạo tặc nữa mà đã lan tràn đủ mọi thành phần.

Có người nói về sự khác biệt giữa người Việt “thông minh” và người Việt “khôn ranh” và kết luận là có thể chúng ta “khôn ranh” thôi chứ đừng vội nghĩ rằng “ta đây là dân tộc thông minh”.

6. Văn hóa chịu trách nhiệm, xin từ chức chưa hiện diện trong đất nước ta

Khi được trao quyền, ủy quyền, với niềm tin lớn, kỳ vọng lớn, trách nhiệm lớn, người ta phải hiểu nghĩa vụ khi không hoàn thành nhiệm vụ được giao. Khi một người không hoàn thành trách nhiệm, việc từ nhiệm là bình thường, đó là sự bảo đảm cho uy tín, danh dự với lời hứa ban đầu, trọng trách ban đầu đặt ra.

Để ngụy trang, ngụy biện, biện minh cho thất bại, người ta thường hay nói về sự “đồng thuận” hay “trách nhiệm tập thể” và sau cùng là “huề cả làng”! Vì không thể truy cứu trách nhiệm “tập thể” hay sự khôn ngoan hoặc ngu dại đã giúp con người che dấu khuyết điểm trong một ốc đảo có tính “tự lừa dối” lẫn nhau.

7. Dễ thỏa hiệp và tìm kiếm thỏa hiệp để đạt mục đích mưu cầu tư lợi cá nhân

Do xã hội đã hình thành một số tầng lớp giàu có, mua quan bán chức, đi lên không phải bằng nỗ lực phấn đấu lao động và học tập siêng năng cần cù mà bằng sự nâng đỡ của “cha anh”, bạn bè phe nhóm thân hữu nâng đỡ nhau, tạo ra một sự bất bình đẳng, tạo suy nghĩ sùng bái các giá trị vật chất, “mười năm phấn đấu, không bằng cơ cấu một lần”. Suy nghĩ không cần học tập phấn đấu chi cho vất vả, chỉ cần có quan hệ thân hữu là được, chỉ cần có tiền là mua cái gì cũng xong.

Xây dựng mối quan hệ thân hữu, quyền lực nhóm: bắt tay nhau triệt tiêu các tiếng nói thiểu số khác trong cộng đồng, xây dựng các nhóm quyền lực lớn dần, vượt trội dần và tới lúc nào đó sẽ có tiếng nói lất át cả các lý lẽ và pháp luật. Khi “anh cũng vi phạm, tôi cũng vi phạm” thì không có lý do gì chúng ta buộc tội nhau, tố cáo lẫn nhau, làm hại lẫn nhau! Mà nên bắt tay nhau.

Khi sai phạm xảy ra ở các cấp, mọi nơi, con người trở nên chán nản, cảm thấy việc sai phạm là “bình thường”, đương nhiên, không màng quan tâm tới, không bình luận, không dám phản bác, nghĩ rằng các phản bác là vô tác dụng, dễ bị chụp mũ, dễ bị trù dập, quá lo sợ, và chấp nhận “thỏa hiệp”, .v.v. Điều này tạo nên một xã hội “vô cảm” lúc nào không hay.

Trong công việc, mỗi khi gặp khó khăn hay vi phạm pháp luật, người ta thường nghĩ nên “gõ cửa” ở đâu, gặp “anh Hai, anh Ba” nào để được giúp đỡ ?! Muốn làm việc gì, khởi sự một việc kinh doanh, người ta thường nghĩ là “để làm được việc này, tôi quen biết với những ai, tôi có mối quan hệ quan trọng nào trong lĩnh vực này?” hơn là chuẩn bị tốt về sản phẩm hay dịch vụ khách hàng .v.v.

Nạn “mua quan, bán chức” trở nên vấn nạn vì ai đó trong chúng ta đều đã có dịp nghe qua về việc này, đâu đó tại chính địa phương mà ta đang sống. Điều đó phản ánh một vấn nạn thực sự, một phát triển nguy hiểm của xu hướng thỏa hiệp, tìm kiếm thỏa hiệp và mưu cầu danh lợi.

Khi đó tội ác có thể ngày càng công khai và mỉm cười ranh mãnh trước sự bất lực của toàn xã hội như một sự trả giá cho những sai lầm của chính mỗi con người hèn yếu trong chúng ta. Và cho những ai nhất thời đắc ý rồi cũng sẽ lại rơi vào chu kỳ khác, khi thời thế của kẻ đắc ý đã qua, con cháu của anh ta rồi vẫn sẽ phải tiếp tục sống trong môi trường “thỏa hiệp” mà anh ta đã vô tình hay hữu ý dựng nên, thế hệ sau này vẫn sẽ phải tiếp tục sống trong môi trường “thỏa hiệp” cấu kết với nhiều phe nhóm nếu không sẽ bị thải loại.

Môi trường có tính thỏa hiệp này, tới phiên nó, sẽ như một bánh xe lịch sử lớn và lớn hơn, nghiền nát mọi nỗ lực hướng tới các giá trị “chân thiện mỹ” mà con người luôn mơ ước.

8. Dễ suy nghĩ chủ quan, chú trọng yếu tố chủ quan hơn khách quan

Chúng ta ngạc nhiên và khâm phục trước tài năng xuất chúng và thành quả của Giáo sư Ngô Bảo Châu với giải thưởng toán học Fields nhưng chưa xây dựng được môi trường làm việc tốt để tương lai có thêm nhiều người Việt đạt thành quả tương tự.

Trong khi các quốc gia như Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, .v.v. có rất nhiều nhà khoa học đạt tới các đỉnh cao trí tuệ của nhân loại và điều đó được xem là hệ quả bình thường và tất yếu do “phương pháp” và cách tổ chức thực hiện mang lại.

Tương tự, có người sẽ rất ngạc nhiên nếu Việt Nam có một Bill Gates, nhưng sẽ không ngạc nhiên nếu nước Mỹ ngày càng có thêm nhiều tỉ phú về các sản phẩm khoa học công nghệ. Lý do có thể là tại Mỹ có đầy đủ các “điều kiện cần và đủ” để tiếp tục sản sinh các Bill Gates mới.

Khi các giá trị vật chất mà người ta dễ dàng đạt được không thông qua sức lao động sáng tạo vất vả cần cù, mà chỉ là sự trao đổi, mua bán, ngã giá, con người dễ rơi vào trạng thái suy nghĩ mơ hồ, lý giải và dựa dẫm vào yếu tố “tâm linh” là chủ yếu.

Lúc này, không phải là yếu tố đức tin tôn giáo, triết lý biện chứng duy vật hay duy tâm, hay “khoa học huyền bí” ngoài tầm với của khoa học kỹ thuật đương đại mà là sự cứu chuộc cho bản thân, sự tính toán an bài cho các “tội lỗi quá khứ”, sự sợ hãi trước “luật nhân quả”, thông qua việc cúng bái lễ vật đắt tiền kiểu nhà giàu, xây dựng lăng mộ hoành tráng, mượn các hành động từ thiện như để khỏa lấp phần nào các yếu tố nhân quả trong đời sống xã hội.

Điều này có thể được thấy với hàng đoàn xe ô tô đắt tiền trong đó có nhiều xe mang bảng số nhà nước, nối đuôi xếp hàng mang lễ vật “hoành tráng” tới cúng chùa, xem bói vào các dịp lễ Tết.

Ảnh: Bẻ hoa tại lễ hội hoa Anh đào.

Nguồn:
NGƯỜI VIỆT XẤU XÍ Ở ĐIỂM NÀO - PHẦN 2

Entry liên quan:
NGƯỜI VIỆT XẤU XÍ (1)



14/12/10

NGƯỜI VIỆT XẤU XÍ (1)



CẢNH THÁI

1. Khả năng làm việc theo nhóm kém, tinh thần đồng đội chưa cao, tính cách sống vì cộng đồng chưa trưởng thành:

Người Việt thường hoàn thành tốt các công việc của cá nhân, nhưng khả năng gánh vác công việc cộng đồng, công việc chung kém, trách nhiệm cá nhân đối với cộng đồng kém.

Các học sinh Việt Nam thường chịu khó làm bài tập của mình rất siêng năng và làm tốt các bài tập được giao cho cá nhân. Thế nhưng bài tập chung của nhóm thường bị đùn đẩy trách nhiệm cho người khác làm, khả năng ngồi lại với nhau để thảo luận nhóm, đóng góp ý kiến cho một thành quả chung tích cực hơn thường bị xem nhẹ.

Tại các doanh nghiệp, các công nhân và nhân viên người Việt cũng “nổi tiếng” khó phối hợp đồng đội (teamwork) tốt, khó có hiệu quả hợp tác cao trong các công việc được cấp trên giao.

Tại mỗi khu phố, khu dân cư, nếp sống vệ sinh chung thường rất kém. Người ta chú ý quét dọn sạch sẽ nơi khuôn viên của gia đình mình, trong khi các diện tích chung, công cộng thường chịu việc xả rác, vứt bỏ các thứ linh tinh làm ô nhiễm môi trường chung.

Trên đường phố Việt Nam, chúng ta không khó bắt gặp các hình ảnh xả rác, chen lấn tranh giành nhau khi tham gia giao thông hoặc tại các cơ quan công quyền mà người dân phải xếp hàng lộn xộn, chờ chực trong một mớ hỗn độn, rất thiếu khoa học. Thậm chí ngay tại công sở tại TP.HCM, nếu bạn có việc phải xin giấy phép, đổi giấy phép hay giấy tờ liên quan, việc chen lấn chờ đợi vô trật tự (phần do cách làm việc không khoa học và diện tích khuôn viên chật chội trong khi khối lượng công việc nhiều với hàng trăm, hàng ngàn con người có nhu cầu đến liên hệ công tác tại đây hàng ngày). Điều này thể hiện một tư duy bon chen, chụp giật, không có kế hoạch, tổ chức và tầm nhìn dài hạn.

Tại các nhà ga, bến xe, hàng không, hàng quán, nhà hát, công viên công cộng, .v.v. chúng ta càng thấy rõ ý thức vì cộng đồng của người Việt thực sự chưa trưởng thành. Trách nhiệm trước mắt có thể thuộc về các cá nhân lãnh đạo tại các đơn vị này, sau đó là ý thức chấp hành của mỗi người dân trong cộng đồng và khả năng tổ chức phối hợp làm việc theo nhóm vì tinh thần cộng đồng, vì công việc chung còn nhiều điều chưa tốt.

2.Tư duy tiểu nông gắn chặt với quá khứ một dân tộc làm nông nghiệp lâu đời:

Các thửa ruộng nhỏ lẻ, được các đời cha ông tiếp nối và chia tách ra làm nhiều miếng nhỏ dần cho các đời sau. Làm ăn manh mún, nhỏ lẻ, lạc hậu và bảo thủ theo kiểu tư duy xưa vẫn còn “con trâu đi trước cái cày theo sau”, thiếu liên doanh liên kết, thiếu sự hợp tác đôi bên cùng có lợi.

Bên cạnh đó, lòng đố kỵ, ích kỷ, ganh ghét, không muốn người khác hơn mình, dấu nghề, không mạnh dạn chia sẻ kinh nghiệm với mọi người, thậm chí anh em, người thân trong nhà cũng không san sẻ, giúp đỡ, “cho tiền cho bạc, không ai chỉ đàng làm ăn”!

Xong việc của mình là xem như xong, không quan tâm người khác hay bà con láng giềng làm ăn ra sao. Tư duy “hợp tác xã” một thời, nửa đêm không ai muốn thức dậy xả nước cho thửa ruộng chung, ảnh hưởng đến lối suy nghĩ và hành động “cha chung không ai khóc”, tị nạnh nhau các công việc của chung cộng đồng. Thậm chí, xuất hiện lối suy nghĩ “sống hôm nay, biết hôm nay”, bất chấp ngày mai ra sao!

Điều này dễ dẫn tới việc biển thủ, ăn cắp của công cả “tài sản vật chất và thời gian” trong các doanh nghiệp nhà nước bất chấp hậu quả là doanh nghiệp nhà nước có thể trở thành “con bò sữa của chung” mà mạnh ai nấy vắt sữa, khai thác đến mức kiệt quệ.

Tư duy “ăn xổi ở thì” dễ nổi lên lấn át, tư duy ngắn hạn, nghĩ đến quyền lợi cục bộ, mưu cầu tư lợi ngắn hạn hơn là phát triển dài hạn, phát triển bền vững cho cả cá nhân và cộng đồng.

3. Dễ dàng thỏa mãn với những thành công nhỏ:

Tư duy truyền đời kiểu “học thành tài” ăn sâu vào suy nghĩ thay thế cho tư duy tiến bộ hơn “học tập và làm việc phấn đấu, cống hiến suốt đời”. Các cá nhân học giỏi, xuất sắc không thiếu nhưng các thành quả khoa học, các phát minh thành tựu lớn trong hầu hết các lĩnh vực hầu như chưa sánh bằng các quốc gia khác, phần vì thiếu môi trường cho người tài, phần vì các cá nhân xuất sắc trong cộng đồng đã thỏa mãn với thành công nhỏ ban đầu so với mọi người trong “làng xóm nhỏ” xung quanh nên không chịu phấn đấu học tập liên tục và không có cơ hội phát triển lên tầm cao mới hay đạt tới trình độ và đẳng cấp thế giới.

Điều này xảy ra trong hầu hết các lĩnh vực như khoa học kỹ thuật, công nghệ, ứng dụng và sáng tạo, phát minh và sáng chế, văn hóa và thể thao... khi Việt Nam chưa có tên trên bản đồ các thành tựu lớn của thế giới vì số lượng các thành tích ở tầm cỡ thế giới còn quá ít so với các quốc gia khác.

Một số người du học nước ngoài cho hay, khi học phổ thông hay đại học, các sinh viên bạn thường không giỏi các môn học cơ bản; nhưng khi vào nghiên cứu ứng dụng, họ rất xuất sắc và sinh viên ta thường không theo kịp. Có lẽ tư duy học “thành tài” đã sớm làm chậm hay thiêu chột sức sống và khả năng học hỏi, phát triển liên tục của sinh viên ta (?).

Trong thương trường, các doanh nhân Việt Nam cũng có nhiều hạn chế trong việc phát triển doanh nghiệp; thường chạy theo các hợp đồng mua bán có tính thời vụ, dựa vào ưu thế “quen biết”, mối quan hệ thân hữu để giành lấy công việc trước mắt, ít có doanh nghiệp xây dựng kế hoạch dài hạn, có tầm nhìn xa, chú ý phát triển sản phẩm có chất lượng cao, có thương hiệu vươn lên tầm cỡ thế giới.

Các doanh nghiệp Việt Nam thường qui mô nhỏ và rất nhỏ, làm việc thiếu chuyên nghiệp, thiếu hợp tác phối hợp. Khi lớn lên một chút thì đã phân chia ra thành các doanh nghiệp nhỏ hơn do bất đồng quan điểm hợp tác hoặc muốn làm riêng thu lợi một mình, hoặc đã sớm thỏa mãn với thành công nhỏ đạt được. Các doanh nghiệp lớn chủ yếu chỉ là doanh nghiệp nhà nước khai thác dầu khí, khai khoáng mỏ, độc quyền về kinh doanh ngành nghề như điện lực, viễn thông, ngân hàng...

(còn tiếp)

Ảnh: Một cảnh trong phim về đề tài bạo hành gia đình.

Nguồn:
Người Việt xấu xí ở điểm nào?



27/11/10

TẠI SAO DU LỊCH VIỆT NAM KÉM THÁI LAN?



Tạp chí Economist ấn bản tháng rồi có bài báo cho hay rằng tỷ lệ du khách quay lại Việt Nam chỉ có 5% (tương ứng với con số 50% của Thái Lan). Việt Nam mới chỉ mở cửa du lịch 25 năm, trong khi Thái Lan đã là địa điểm được ưa chuộng từ những năm 1960.

Xét về bề dày kinh nghiệm du lịch giữa hai bên thì rõ ràng sự so sánh có thể khập khiễng. Thái Lan đã và đang là một trong những điểm đến giá trị nhất, “xứng đồng tiền bát gạo” nhất thế giới, đặc biệt du lịch biển và đảo với đặc trưng dễ đi lại, dễ nghỉ ngơi, nước trong như pha lê, khung cảnh đẹp như tranh ở mọi nơi.

Không thể sánh với danh sách các bãi biển ở Thái dù Việt Nam có những bãi biển tuyệt đẹp, song chưa hề được phát triển cho du lịch. Thái còn có những khu rừng già và những đường mòn du lịch rất hấp dẫn dành cho du khách thích đi bộ và khám phá.

Việt Nam cũng có thế mạnh là hình thái du lịch đa dạng, song lại chưa biết cách khai thác theo hướng có lợi. Chẳng hạn như Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, bờ duyên hải dọc dài cả nước, miền Bắc giàu văn hóa, lịch sử và những phố núi như Sapa... Thế nhưng du khách đến Việt Nam lại ít trở lại là vì sao?

Đa số du khách đến Việt Nam đều được giới thiệu hành trình Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh, từ Bắc đến Nam hoặc từ Nam ra Bắc. Cấu tạo địa lý của đất nước khiến nhiều du khách nghĩ đây là một sự lựa chọn lý tưởng và nghĩ rằng họ đã biết hết Việt Nam qua chuyến đi ngắn ngủi chỉ kéo dài ba tuần.

Với loại du khách thích mở mang tầm mắt và ưa phiêu lưu, Việt Nam với họ thế là xong và họ sẽ bắt đầu lựa chọn một nước khác để đến
và tiếp tục khám phá. Những du khách thường xuyên quay lại một điểm đến nào đó thường là loại “chung thủy”, có thể họ phát hiện được một nơi nào đó thú vị và “bị” dính liền với nơi đó, ví dụ như một hòn đảo, một bãi biển, một khu resort...

Thái Lan đầy rẫy những nơi như vậy. Nếu phải chọn giữa Thái Lan hay Việt Nam cho một chuyến du lịch biển hai tuần thì chắc chắn tôi chọn Thái Lan ngay!

Vì vậy tôi không ngạc nhiên khi Thái Lan có tỷ lệ du khách quay lại cao gấp mười lần Việt Nam, bởi họ có nhiều điểm đến khác nhau dành cho những loại du khách khác nhau.

Một trong rất ít những nơi tôi biết ở Việt Nam có khả năng thu hút khách du lịch quay trở lại là Mũi Né. Chỉ cách Sài Gòn 200km, thế nhưng để đến được Mũi Né phải qua năm tiếng ngồi xe mỏi mệt.

Thái Lan, Malaysia và những nước khác có biển tương tự thường có đường bay hoặc đường cao tốc thông suốt có thể đưa du khách đến nơi trong tích tắc.

Đó có thể chỉ là một yếu tố nhỏ, nhưng nếu phải chọn, rõ ràng thời gian và phương thức di chuyển trong du lịch chiếm một điểm rất quan trọng. Xuyên suốt Việt Nam, giao thông là một rào cản lớn. Khoảng cách giữa Nha Trang, Mũi Né, Đà Lạt không là bao, nhưng hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ khiến du lịch trở nên khó khăn.

Quốc lộ 1 chưa bao giờ thôi khiến tôi ngạc nhiên bởi nó là đường... độc đạo đi Phan Thiết, Nha Trang, hơn nữa chỉ là một con đường nhựa chất lượng thấp chạy xuyên qua không biết bao nhiêu thôn xóm với người dân sinh hoạt ở hai bên dọc suốt chiều dài đất nước.

Cũng trên quốc lộ, xe ca, xe tải chen nhau chạy bất chấp nguy hiểm - một cảnh tượng chỉ làm cho những du khách lần đầu đến Việt Nam kinh sợ mà không bao giờ nghĩ đến chuyện quay lại lần nữa.

Chuyến đi Mũi Né gần đây lại cho tôi hiểu thêm một lý do khiến nhiều du khách ái ngại khi đến Việt Nam. Mũi Né có những đồi cát xinh đẹp, leo lên rất là thú, nhưng thú thật là gia đình tôi đã bị một đám trẻ con dưới 10 tuổi la hét, rượt đuổi chúng tôi chạy xuống. Thật là một cảnh tượng bẽ bàng!

Tôi cũng đã nghe rất nhiều người than phiền những người bán dạo liên tục dồn khách như ở trên đèo Hải Vân, khiến du khách thay vì được thong thả đứng trên đèo ngắm cảnh thì chán ngán quay vào xe chỉ sau chưa đầy năm phút.

Thế nên, mặc dù Việt Nam không nằm chung “hạng” với Thái Lan, vẫn còn nhiều việc chúng ta cần làm để bộ mặt du lịch Việt Nam được sáng dần lên.

Đó là ngoài thu hút du khách, Việt Nam cần phải giữ chân du khách để họ vui khi đến đây và sẽ còn vui để trở lại. Đó là chăm sóc, bảo vệ môi trường, thiên nhiên, không ngừng tôn tạo để những phong cảnh đẹp trên khắp đất nước ngày càng thân thiện, an toàn và xứng tầm giá trị vốn có.

JONATHAN HOFF - Q.A dịch

Nguồn:
Hãy trở lại Việt Nam... - Doanh nhân Sài Gòn



20/8/10

NHẤT THẾ GIỚI



Từ khi biết vui mừng trước thắng lợi của người khác, tôi đã trải qua những khoảnh khắc sung sướng và hạnh phúc mà những con người trác tuyệt của Việt Nam đem vinh quang lại cho đất nước.

Đó là Hoàng Lê Minh, người VN đầu tiên đoạt Huy chương Vàng Olympic Toán Quốc tế năm 1972.

Đó là Đặng Thái Sơn, người Châu Á đầu tiên đoạt giải Nhất cuộc thi âm nhạc quốc tế Chopin năm 1980.

Đó là Phạm Tuân, người Châu Á đầu tiên bay lên vũ trụ.

Đó là Ái Vân, ca sĩ Việt Nam đầu tiên đoạt giải thưởng lớn một cuộc thi hát quốc tế.

Những chuyện đó xảy ra từ thập niên 1970 – 1980, khi đất nước còn vô vàn gian khó. Người VN vui, hạnh phúc và hãnh diện với những thành tích đó. Nhưng lúc đó cũng có người tặc lưỡi: “Những thành quả đó không giúp cuộc sống của chúng ta bớt khó khăn hơn”.

Hai ngày nay tôi sống lại cảm giác hân hoan và hãnh diện mà tôi đã từng trải qua 3 thập niên trước.

Ngô Bảo Châu trở thành nhà khoa học đầu tiên của VN đoạt một giải thưởng danh giá bậc nhất thế giới.

Thành công của Ngô Bảo Châu chứng tỏ người VN hoàn toàn có khả năng vươn tới đỉnh cao của khoa học.

Nhưng tôi mong muốn nước ta không chỉ có thêm những Ngô Bảo Châu, mà còn phải có những CEO bậc nhất thế giới, như Bill Gates, như Steve Jobs.

Đó sẽ là những người có tác động thiết thực nhất, thúc đẩy cuộc sống phát triển.


Entries cũ:
TÔI ĐI CHẤM THI
AI BẢO SINH VIÊN KHÔNG SÁNG TẠO?
BÀI HỌC CUỐI CÙNG (1)
BÀI HỌC CUỐI CÙNG (2)
HỌC VĂN LÀ HỌC CÁI GÌ?



1/8/10

THUYỀN RÙA VÀ THUYỀN CỔ LÂU


Đỗ Thái Bình

Đọc cuốn tự truyện kể lại đời mình của ông chủ tập đoàn Hyundai, có lẽ ai cũng phải xúc động trước ý chí, quyết tâm dời non lấp biển của Chung-Ju-Yung. Sau những thành công trong xây dựng, người thợ hồ học vấn tiểu học ở tuổi năm 55 nhảy sang lĩnh vực đóng tàu.

Cần có số vốn 80 triệu USD để dựng nhà máy, Chung đã sang London, cố thuyết phục Ngân hàng Barclays. Bằng cấp anh đâu? Quá trình kinh nghiệm đóng tàu của anh đâu? Chẳng có một tấm bằng đại học hay thạc sĩ tiến sĩ, chẳng có một giấy tờ nào bảo lãnh của Nhà nước Hàn Quốc, nhưng trong trái tim Chung nồng cháy một tình yêu đất nước, biển cả và sự nghiệp.

Chung rút tờ giấy bạc 500 won ra đặt lên bàn ông giám đốc ngân hàng, một đồng tiền trên có in hình chiếc thuyền rùa (ảnh trên), tiếng Hàn gọi là Geobukseon, một loại thuyền chiến bọc sắt của Hàn Quốc, cũng được coi là thuyền bọc sắt đầu tiên trên thế giới và hét lên: đây là kinh nghiệm truyền thống đóng tàu của chúng tôi!!! Qua nhiều lần thuyết phục Barclays, và giải trình cả với con trai chủ tàu Onasis, một ông vua biển Hy Lạp - người đã lấy bà vợ góa của Tổng thống Kennedy - cuối cùng Chung đã có số tiền khổng lồ lúc đó để khởi nghiệp đóng tàu của mình cũng là của Hàn Quốc, hiện nay đang đứng nhất nhì thế giới!

Chiếc thuyền rùa này thực sự là một đóng góp của Hàn Quốc vào trong lịch sử hàng hải thế giới và chính mắt tôi đã thấy mô hình một chiếc thuyền như vậy tại Viện Bảo tàng Hải quân Hoa Kỳ ngay giữa thủ đô Washington trong chuyến thăm vào mùa hè năm 2008. Bằng đội quân thuyền rùa này, Đô đốc Yi Sun-sin (1545-1598), một trong những nhân vật được tôn kính nhất trong lịch sử Hàn Quốc, đã chỉ huy hàng loạt những cuộc tấn công của thủy quân oanh liệt trên biển chống lại đội quân của Nhật Bản.


Được đóng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, con tàu được đặt tên là Song Saigon,
về sau được đổi tên lại thành La boudeuse.
Con tàu này đã có một khoảng thời gian dài tung hoành ở châu Âu
trước khi bị chìm ở Địa Trung Hải.

Trong lịch sử chúng ta cũng có một chiếc thuyền chiến đấu không kém gì thuyền rùa vào thời kỳ này,với sự đóng góp của Hồ Nguyên Trừng (1374-1446). Trước họa xâm lăng của nhà Minh, nhà Hồ đã phải lo củng cố quốc phòng. Năm 1404 Hồ Hán Thương cho chế tạo thuyền Cổ lâu là một loại thuyền chiến lớn đóng đinh sắt, có hai tầng boong với hàng chục tay chéo với hai người điều khiển một mái chèo, có tên gọi là Trung tàu tải lương, Cổ lâu thuyền tải lương, nói là để chở lương nhưng cũng sẵn sàng chiến đấu.

Thuyền được trang bị súng Thần Cơ, một sáng tạo khác của Hồ Nguyên Trừng là một loại hỏa pháo cải tiến hiệu nghiệm hơn tất cả các loại đại bác đương thời. Nhà Minh đã bắt giữ rồi áp tải ông về Bắc Kinh và sau đó tận dụng tài năng của Nguyên Trừng với chức vụ tả thị lang bộ Công. Hiện nay tài liệu về những con thuyền Cổ lâu còn lại rất hiếm hoi vì như ta đã biết, với chính sách đốt sạch, giết sạch “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” nhà Minh đã hủy hoại tất cả những gì còn lại, nhưng ta tin là con thuyền này là có cơ sở chắc chắn vì ta biết rằng thời nhà Hồ, nước ta có những người thợ mộc, những người đóng tàu thuyền gỗ, những nhà thiết kế kiến trúc giỏi, điển hình là Nguyễn An (1381-khoảng 1460), một nhân vật mà người Trung Quốc biết rõ hơn người Việt Nam ta!

Quả thật, về nhân vật lỗi lạc này chỉ thấy Lê Quí Đôn nhắc tới qua hơn 10 dòng trong cuốn “Kiến văn tiểu lục”. Còn ở Trung Quốc thì Nguyễn An được nhắc tới trong nhiều thư tịch từ thời trung đại tới thời hiện đại. Ví dụ, từ những cuốn “Hoàng Minh thông kỷ”, “Anh Tông chính thống thực lục”… của thời Minh tới cuốn “Trung - Việt quan hệ sử luận văn tập” của nhà sử học Trương Tú Dân xuất bản tại Đài Bắc (Đài Loan) năm 1992. Trong công trình nghiên cứu quan trọng về giao lưu tiếp biến văn hóa Việt Nam - Trung Quốc này, Trương Tú Dân đã dành tới bốn chương viết về Nguyễn An. Trương Tú Dân đã làm việc nhiều năm tại Thư viện Quốc gia Bắc Kinh và là người nghiên cứu kỹ lưỡng nhất về Nguyễn An. Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đã khẳng định chính Nguyễn An là người thiết kế và chỉ huy xây dựng thành Bắc Kinh!

Tòa cao ốc mà Vinashin dự định xây dựng bên bờ sông Sài Gòn

Nhắc lại chuyện thuyền Cổ lâu vì 500 năm sau, có một tập đoàn nước ta - tập đoàn Vinashin - cũng muốn lớn mạnh hung hậu như Hyundai, cũng bắt chước nhiều cung cách làm ăn như Hyundai: xây dựng nhà máy đóng tàu lớn, đón đầu xu thế thị trường, dùng các con tàu mới đóng chưa có chủ tàu bổ sung vào đội thương thuyền đi khắp thế giới vừa quảng cáo thương hiệu vừa tìm cơ hội bán tàu, kinh doanh nhiều ngành nghề… Tên Vinashin gắn với Hyundai tại một nhà máy sửa chữa và đóng tàu tại Nha Trang, thế giới thì biết đó là một cơ sở chữa tàu có chất lượng và có lãi to, còn dân ta thì biết nó là một tai họa về môi trường!

Để có vốn, cũng như Hyundai, Vinashin phải tìm tới các ngân hàng thế giới, lần này là thị trường chứng khoán New York. Trong khi ông Chung Hyundai phải rút tờ bạc 500 won để thuyết phục các ngân hàng thì các ông Vinashin có lẽ chẳng phải làm gì vì đã có một cái bảo lãnh cực kỳ lớn: cả dân tộc Việt Nam, nước Việt Nam được đưa lên bàn bảo lãnh và vay ngay được số tiền cực lớn 750 triệu USD… Đồng tiền đến quá dễ dàng (?) và được chia sẻ tiêu pha rất nhanh, như báo chí đang phanh phui.

Không rõ các ông cầm đầu Vinashin có biết tới thuyền Cổ lâu như ông Chung Hyundai thuộc lòng con thuyền rùa của nước mình hay không, nhưng chúng ta thử lên thăm ngôi nhà năm tầng đường Ngọc Khánh Hà Nội, trụ sở tạm thời của Vinashin trong khi chờ đợi tòa tháp building cao lớn hình chữ V giống như logo của mình. Một chiếc neo to lớn chắn ngang hè phố, những mô hình con thuyền buồm căng phồng gió đại dương có mặt tại sảnh lớn cũng như các phòng chủ tịch, tổng giám đốc… Nhìn kỹ, đó không phải là ghe bầu, ghe nang, thuyền buồm cánh dơi hay thuyền trống đồng Đông Sơn, mà là thuyền Tây, những chiếc clipper, và lớn nhất là chiếc tàu buồm France –II đặt tại ô cửa kính nhìn ra mặt phố!

Phòng khách của Tập đoàn Kinh tế Vinashin trưng bày mô hình
chiếc tàu buồm France II của Pháp


Ta mong tìm thấy tấm hình của một con người làm nghề đóng tàu, ví như Ngô Văn Năm, người anh hùng lao động, công nhân Ba Son thứ thiệt, người thợ phóng dạng ham học hỏi, từng “lục trong thùng rác những bản vẽ mà chủ Tây xé đi, ghép lại để học hỏi” – như kỹ sư đóng tàu Trịnh Xương thường kể lại. Ngô Văn Năm còn là thủ trưởng đầu tiên của Vinashin, khi tập đoàn còn đang trong giai đoạn trứng nước với tên gọi là Cục Cơ khí Bộ Giao thông, nơi đã sản sinh ra các con tàu không số, các con tàu Giải phóng, các tàu phá lôi… phục vụ cho chiến thắng ngày hôm nay.


Nguồn:
Thuyền rùa và thuyền Cổ lâu - Tạp chí Tia sáng
Entries liên quan:
CÂU CHUYỆN "CÁI LƯỠI BÒ"
QUÀ VIỆT NAM
ADOPT VÀ ADAPT
THÙNG RỖNG HAY LÀ...



 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết