Hiển thị các bài đăng có nhãn sân khấu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sân khấu. Hiển thị tất cả bài đăng

20/8/11

NGHỆ SĨ VÀ CHÍNH TRƯỜNG


NSND Đặng Nhật Minh

Nghệ sĩ mở công ty, nghệ sĩ trở thành đại biểu quốc hội hay nghệ sĩ đảm nhận các cương vị quản lý... không còn là chuyện mới. Liệu khi ấy họ có còn là nghệ sĩ và “chất” nghệ sĩ có đồng hành với công việc đang gánh vác?

Văn nghệ sĩ vinh dự được bầu chọn là Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) có thể kể đến nhà thơ Vũ Quần Phương, NSND Đặng Nhật Minh, NSND Chu Thúy Quỳnh, NSND Trà Giang, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân...

Gần đây, nghệ sĩ trẻ Hồng Ánh được UBMTTQ Việt Nam TP.HCM giới thiệu ứng cử ĐBQH khóa XIII. Khá nhiều nghệ sĩ của TP.HCM cũng đã trúng cử Đại biểu Hội đồng Nhân dân (ĐBHĐND) TP.HCM đợt này: NSƯT Hồng Vân, ca sĩ - diễn viên Thanh Thúy, nghệ sĩ cải lương Quế Trân...

Danh cao, phận dày

Hồng Ánh là nghệ sĩ duy nhất được Liên hiệp Các hội Văn hóa Nghệ thuật (VHNT) TP.HCM giới thiệu ứng cử ĐBQH. Theo người của Ban chấp hành (BCH) Hội Điện ảnh TP.HCM (tổ chức ban đầu giới thiệu Hồng Ánh ứng cử), cô hội đủ các yếu tố về tuổi tác, đạo đức và năng lực để có thể đại diện cho giới văn nghệ sĩ TP.HCM ở nhiệm kỳ này.

Chưa đảm nhiệm cương vị lãnh đạo hay ở trong BCH của tổ chức nghề nghiệp nào, Hồng Ánh mới chỉ được biết đến qua các vai diễn và giải thưởng điện ảnh.

Là Phó giám đốc Công ty TNHH Hãng phim Xanh, cô vừa mới bắt tay vào sản xuất một số dự án.

Điều này càng nối dài những vinh dự và cả những thử thách với cô trên con đường trở thành đại biểu của nhân dân, trước hết là cất lên tiếng nói của giới nghệ sĩ TP.HCM đã gửi gắm nơi cô, nếu cô trúng cử.

Thế nhưng, không phải nghệ sĩ nào cũng sẵn sàng cho thử thách ở nghị trường. Tại Hà Nội, Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội đã nhắm giới thiệu một nữ diễn viên chèo và một phóng viên báo hình, cả hai đều có tên tuổi, xinh đẹp và trẻ trung, nhưng họ khước từ vì... bận.

Theo nhà thơ Bằng Việt, Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT TP. Hà Nội, các kỳ trước có khá nhiều nghệ sĩ được giới thiệu là ứng cử viên ĐBQH nhưng họ đều từ chối, như nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ (lúc đó ở trong BCH Hội Nhà văn Hà Nội), nhà biên kịch Bành Mai Phương (Hãng phim Truyện Việt Nam)...

Theo họ, xung quanh cuộc sống và nghề nghiệp của người nổi tiếng vốn đầy thị phi.

Trong khi đó, bước vào con đường của “ông nghị, bà nghị” đồng nghĩa với hình ảnh và tên tuổi của nghệ sĩ cần xứng đáng với vị trí chính trị họ đang nắm giữ. Các nghệ sĩ tiền bối là ĐBQH ở vào thời kỳ showbiz chưa phát triển sôi động và nghệ sĩ cũng không bị dư luận “săm soi” như bây giờ.

Tuổi họ đều cao, nên ít chịu ảnh hưởng bởi những “dư chấn” từ dư luận và truyền thông. Bây giờ thì khác. Khi thông tin Hồng Ánh là ứng cử viên ĐBQH vừa phát ra, lập tức nhận được lời bàn tán, chỉ trích về nhân cách của cô từ một người trong giới, kèm theo đó là hàng trăm bình luận của độc giả, người ủng hộ, người phản đối.

May mắn cho cô, cô vẫn thắng phiếu tuyệt đối (dù chuyện tai bay vạ gió đó xảy ra trước khi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú) và là một trong 22 người đạt tỷ lệ 100% trong cuộc bỏ phiếu kín tại Hội nghị Hiệp thương lần ba.

Diễn viên điện ảnh Hồng Ánh

Áp lực trách nhiệm cao nên nhiều nghệ sĩ cũng không “mon men” tới chính giới. Nhà thơ Bằng Việt, tốt nghiệp cử nhân luật ở nước ngoài, từng được nhắm đến để đưa vào danh sách ứng cử viên ĐBQH năm 1995.

Ông cười giải thích với người tín nhiệm, sở dĩ ông từ chối là “vì muốn có thời gian để tự do bù khú với bạn bè, đi đây đó và làm những việc mình thích. Một nhiệm kỳ ĐBQH mà nói không ra hồn thì dân mắng cho, nói nhiều lại dễ bị vạ miệng”.

Ở cương vị Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT TP. Hà Nội, có dịp gặp gỡ, thuyết phục và vận động những người có khả năng và đủ điều kiện để đưa vào danh sách ứng cử viên, nhà thơ Bằng Việt có thể hiểu lý do của sự khước từ còn ở chỗ đời sống cơm áo và những nhu cầu vật chất vẫn còn theo đuổi văn nghệ sĩ, trong khi nếu có danh tiếng ở cương vị chính trị cũng không đi kèm lợi ích vật chất.

Sân khấu - cuộc đời

Ở các nước, việc nghệ sĩ trở thành chính trị gia không còn xa lạ và hai vị trí này có tác động tương hỗ khá mật thiết.

Xuất thân từ nghệ sĩ hay đang tham gia lĩnh vực nghệ thuật nên trong sự nghiệp chính trị, họ dành nhiều sự ưu tiên cho giới của họ là chuyện dễ hiểu.

Các nghệ sĩ ở ta phần nào phát huy được vai trò này, nói được tiếng nói cần thiết của cử tri và người trong giới mình.

NSND Đặng Nhật Minh trong nhiều khóa làm ĐBQH đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với Luật Điện ảnh và cuối cùng luật này đã được thông qua, ghi nhận nhiều nỗ lực của ông trên cương vị ĐBQH, dù Luật chưa thực sự hoàn chỉnh.

Chia sẻ với báo giới, NSƯT Hồng Vân chẳng hề giấu giếm ý định sẽ... “xin cái nhà hát” nếu trúng cử ĐBHĐND TP.HCM. Ở chiều ngược lại, ở cương vị mới, nghệ sĩ có điều kiện thâm nhập thực tế sâu sát hơn.

Nhà thơ Vũ Quần Phương chia sẻ với báo giới, làm ĐBQH cho ông cơ hội thấy tình cảnh của người dân, qua đó ảnh hưởng đến nhận thức xã hội để bước đến văn chương, thay đổi khuynh hướng sáng tác...

NSND Trà Giang thổ lộ, những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với người dân khơi dậy trong bà sự cảm thông, giúp bà hiểu được tâm tư, tình cảm của họ.

Có ý kiến lo lắng, nghệ sĩ thì cứ hãy là... nghệ sĩ, chính trường không phải là “sân khấu” nên không phù hợp với họ. Khi họ chưa kịp trở thành một chính trị gia giỏi thì xã hội đã mất một nghệ sĩ, hoặc họ chỉ có thể trở thành chính trị gia... diễn giỏi mà thôi.

Nói gì thì nói, vẫn không thể phủ nhận việc nghệ sĩ nước nhà ngày càng có nhiều cơ hội tham gia chính trường, khi mà tầm ảnh hưởng của những người nổi tiếng ở lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật có tác động lớn, thậm chí rất lớn đến công chúng.

Nhưng trên hết, như nhà thơ Bằng Việt nhấn mạnh, không phải có mặt nghệ sĩ để “đẹp đội hình, mà người được lựa chọn có biết ăn nói có ích cho văn nghệ sĩ và phong trào chung hay không”.

CUNG CẦU


Nguồn:
NGHỆ SĨ VÀ CHÍNH TRƯỜNG





18/7/11

VỞ DIỄN MỘT ĐÊM



Bỏ qua “tiểu tiết” vụ lộ ngực một cách phản cảm của Lý Nhã Kỳ phơi bày trước khán giả cả nước xem tường thuật trực tiếp vở kịch Bản giao hưởng Điện Biên và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên sóng VTV1 mới đây, đâu mới thật sự là điều đáng suy ngẫm về tác phẩm hoành tráng này của sân khấu Việt Nam 2011? TT&VH Cuối tuần xin giới thiệu góc nhìn của nhà văn Nguyễn Hiếu từ hàng ghế khán giả.

Chiều 25/6 khi cùng đoàn tác giả sân khấu do Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam tổ chức, đang đi thực tế tại Tây Nguyên thì nhận được tin nhắn của người bạn vong niên thân thiết rằng tối nay VTV1 sẽ truyền hình trực tiếp từ Quảng Bình - quê hương đại tướng vở kịch Bản giao hưởng Điện Biên và Đại tướng Võ Nguyên Giáp của Nguyễn Quang Vinh. Tôi và không ít nhà văn và tác giả trong đoàn náo nức đón chờ…

Sau khi vở kịch kết thúc, điều gợi lên đầu tiên ở tôi là sự cảm phục tài quản lý và tổ chức của tổng đạo diễn. Với một kịch bản như thế mà ông thuyết phục được các nhà quản lý để được dàn dựng với quy mô sự kiện nghệ thuật cấp quốc gia. Lại thuyết phục được nhiều nhà tài trợ, huy động được nhiều nhân vật hàng đầu trong lĩnh vực sân khấu cùng các đoàn nghệ thuật tham gia với lượng diễn viên lên đến hơn 300 người... Nhưng sau hết, điều đáng bàn là chất lượng của vở diễn.

Trên thế giới, kịch về các danh nhân không thiếu và cũng không ít thành tựu. Nhiều tác phẩm lớn của Shakespeare lấy nhân vật trung tâm từ nguyên mẫu trong lịch sử, đã dựng lên những điển hình vĩ đại về tham vọng, bi kịch của con người như Vua Lia, Macbeth, Henry. Thế kỷ 20, có thể kể đến bộ ba kịch về Lenin: Người cầm súng, Chuông đồng hồ điện Kremlin, Khúc thứ ba bi tráng của Pogodin đã được dàn dựng tại Việt Nam. Ở Việt Nam, kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng hay Nguyễn Trãi ở Đông Quan của Nguyễn Đình Thi cũng là những thành tựu mẫu mực của sân khấu thể hiện các nhân vật lịch sử kiệt xuất.

Ngay đối với các danh nhân đương đại như Hồ Chủ tịch, nền kịch nghệ nước ta cũng đã có những tác phẩm đáng nhớ như Đêm trắng của Lưu Quang Hà, Người đi dép cao su của Kateb Yacine… Một kịch tác gia chuyên viết về Bác Hồ là Lê Đăng Thành có kịch bản Cuộc săn đuổi lịch sử theo tôi cũng rất thành công khi khắc họa một cách đa dạng, tài tình hình tượng Hồ Chủ tịch trong cuộc đấu trí dai dẳng với các thế lực của thực dân Pháp qua các đời toàn quyền Đông Dương, tiếc thay vở này chưa được dựng trên sân khấu.

Sự thành công và hấp dẫn của các tác phẩm này cũng như nguyên lý của văn học nghệ thuật là khắc họa được hình tượng nhân vật trong hình ảnh của con người cụ thể, thể hiện được tính cách của họ cùng những xung đột cuộc đời được nâng lên điển hình trong các tình huống kịch.

Trở lại với Bản giao hưởng…, dường như không thấy nhân vật Võ Nguyên Giáp đâu, chỉ thấy những trường đoạn minh họa, kể lại một cách hình thức, sơ sài các biến cố lịch sử có liên quan đến đại tướng mà bất kỳ ai quan tâm đến lịch sử đương đại Việt Nam đều biết. Cách kể này giống hệt những tấm áp-phích cổ động được “đối thoại hóa” bằng những lời thoại thiếu tính cách. Hay nói đúng hơn, vở kịch như những mô-đun lắp ghép theo mô hình những sự kiện xung quanh nhân vật đại tướng.

Hình như chính tác giả cũng cảm thấy đơn điệu trong cách kể này nên đôi chỗ ông lại xen vào những mảng bi kịch cố tạo về thân phận cô y tá, về gã sĩ quan pháo binh Pi-ốt. Còn nhân vật chính thì chỉ là sự xuất hiện về mặt hình thể và tên gọi mà hầu như không có chút tâm lý nào dù đơn giản nhất chứ chưa nói đến diễn biến tâm trạng trước các xung đột, các sự kiện của kịch. Nếu vở diễn này ít nhiều được ghi nhận về sự hoành tráng, về sự tham gia số đông diễn viên thì lại thiếu đi cái cơ bản là con người!

Đứng về mặt nghệ thuật, dựng tác phẩm từ nguyên mẫu có cái lợi là sẵn cốt kịch bản, mặt khác hàm chứa sự gò bó bởi thực tế nguyên mẫu. Tài năng của người viết là biết chọn sự kiện nào để từ đó tìm ra kết cấu hợp lý làm nổi rõ tính cách nhân vật, qua đó gửi thông điệp tới người xem. Thành công của Đêm trắng chẳng hạn, chính là vì Lưu Quang Hà biết chọn và xử lý đúng sự kiện Bác Hồ kiên quyết loại trừ Cục trưởng cục quân nhu Trần Dụ Châu vì tội tham nhũng.

Còn Bản giao hưởng… mặc dù tập trung vào sự kiện “chiến dịch Điện Biên” nhưng dường như tác giả chưa nắm được thần thái, tính cách nhân vật, chưa chọn được sự kiện trung tâm nên vở diễn thành sự minh họa khô cứng. Lấy tên nhân vật chính làm tên vở nhưng chờ mãi, chờ mãi mới thấy nhân vật chính xuất hiện như một đề-can, một bảng hiệu ở cảnh cuối cùng!

Thật sự, là một khán giả, tôi rất lấy làm tiếc cho những “vở diễn một đêm” như thế này, tiếc hơn cho sự hoành tráng của tiền bạc, thời gian, sức người đã đổ ra mà cái người xem nhận được lại quá ít ỏi.

Viết đến đây, tôi chợt nhớ một bài báo cho biết CLB bóng đá Thanh Hóa trả lương cho cầu thủ cao nhất nước, trung bình cũng trên dưới 30 triệu đồng, cầu thủ xuất sắc nhận 40, 50 triệu, HLV là 100 triệu mỗi tháng, thế nhưng chính Thanh Hóa lại vừa xin Chính phủ hỗ trợ 2.000 tấn gạo để cứu đói trên 70 nghìn người. Tác giả bài báo Hoài Văn tính toán thời giá của 2.000 tấn gạo này xấp xỉ 30 tỷ đồng, ít hơn nhiều khoản ngân sách của CLB bóng đá Thanh Hóa chi trong mùa giải 2011.

Quảng Bình, quê đại tướng cũng là một tỉnh nghèo, lũ lụt mùa này lại đang lăm le đe dọa những mái nhà cùn xơ của biết bao gia đình... Tôi chạnh nghĩ, viết về lịch sử là một nhiệm vụ và một yêu cầu lớn đối với người làm nghệ thuật. Nhưng làm thế nào để không mang tiếng, nói nhẹ là ăn theo, nói nặng là lợi dụng lịch sử, là cả một vấn đề lớn của người làm nghệ thuật.

Quỳnh Mai tháng 7/2011

Nhà văn NGUYỄN HIẾU

Nguồn:
Vở diễn một đêm?



18/2/10

NHỮNG KHOẢNG LẶNG



(Tiểu luận của Hồ Anh Thái)

Một nghệ sĩ châu Âu vào vai Hamlet. Vị hoàng tử Đan Mạch cầm trên tay một cuốn sách, nhìn vào trang giấy mà không đọc, đọc mà không hiểu trong ấy viết gì. Tâm trí chàng đang ngổn ngang xáo trộn. To be or not to be? Tồn tại hay không tồn tại? Sống hay không sống? Quyết liệt hơn, báo thù hay không báo thù? Cuốn sách trên tay không còn là cái để đọc nữa. Ta đang suy tư những chuyện sống còn. Thế mà vẫn có người hỏi. What do you read, my lord? Hoàng tử đọc gì vậy?

Hamlet đã lặp lại đúng ba lần một ý:

- Chữ, chữ, chữ.

Một nghệ sĩ tầm tầm chỉ cần đọc một hơi ba lần ấy là hoàn thành câu thoại. Words, words, words.

Nhưng nghệ sĩ lớn mà ta đang nhắc đến đã cắt câu thoại ra làm ba, cứ giữa hai lần là một khoảng lặng. Hoàng tử đọc gì vậy?

Hamlet im lặng nhìn người hỏi. Một lát. Rồi hơi giật mình như thể đến bây giờ mới hiểu câu hỏi. Chàng nhếch mép, hỏi gì mà lạ nhỉ? Nhưng chàng vẫn khẽ trả lời.

- Chữ.

Rồi chàng nhìn xuống trang sách. Đọc lại vài dòng chữ nãy giờ mình đã đọc mà không tập trung, không hiểu. Đến bây giờ chàng mới nhận ra mấy dòng chữ ấy. Lẩm bẩm như tự nói với mình.

- Chữ.

Chậm rãi, chàng đưa mắt nhìn lên bao quát toàn bộ khán giả ở trước mặt, rồi trầm giọng. Lần này là một sự khẳng định khi tri giác đã trở lại. Chỉ có chữ mà thôi. Những lời suông.

- Chữ.

Smoktunovsky vai Hamlet

Xin hãy đếm lại mà xem. Chỉ có một ý, lặp lại ba lần, nghệ sĩ lớn không ai đọc thuộc lòng mấy chữ ngắn ngủi liền một mạch, mà đã cắt nó ra làm ba khoảng lặng. Cả nhà hát chìm trong im lặng. Băn khoăn. Ngỡ ngàng. Thậm chí tê tái.

Trên sân khấu, đó là khoảng lặng chết người. Chẳng chết ai đâu. Chỉ là cách ví von về một quãng thời gian im lặng thật đáng giá. Sân khấu là nói là hát là múa, là ồn ào sôi động, những cái đó truyền cảm xúc tưng bừng mạnh mẽ cho người xem. Nhưng sân khấu cũng có những khoảng lặng ghê người, lúc mọi âm thanh, ngôn ngữ, thậm chí ánh sáng đã chìm đi, đã biến mất. Trong bóng tối lạnh lùng, trong lặng im nghẹt thở, không thấy gì, không nghe gì, người ta càng cảm nhận đang có một cái gì ở đó, một cái gì mà ngôn ngữ, âm thanh và ánh sáng không thể nào diễn tả nổi, một cái gì mạnh mẽ hơn những yếu tố vừa mới hiện hữu.

Có thể tạt ngang ở chỗ này, đùa một tí. Nhà thơ George Evans một lần được mời đi xem vở diễn mới của một kịch tác gia ở San Francisco. Xong kịch, tiệc nhẹ ở đại sảnh nhà hát, kịch tác gia tiến lại hỏi cảm tưởng của vợ George Evans. Bà thấy vở kịch thế nào?

- Ồ... những chỗ yên lặng thật là tuyệt vời.

George kể lại chuyện này và bạn bè tất thảy cười phá lên. Well, the silent moments are great. Coi như chuyện hài hước. Kịch là đối thoại, hội thoại, là nói và nói, ấy thế mà quý bà lại khen những chỗ im lặng, nói nôm na là những quãng nó “câm miệng đi”. Phải nói là quý bà rất biết tránh đòn, biết tránh áp lực phải khen vờ khen đỡ hoặc phải nói thẳng nói toẹt ra. Lại cũng là ý của George, khen nhau như thế bằng mười chê nhau.

Tôi biết người vợ trước của George Evans, chị là người ngoại đạo của văn chương nghệ thuật, chị nói vậy vì không biết bình luận thế nào. Chị nói thật. Cái đùa cái giễu là do chúng tôi tán ra với nhau mà thôi.

Nhưng phải trở lại với chuyện khoảng lặng tuyệt vời mà nói rằng một khoảng lặng được đạo diễn và diễn viên tài năng sử dụng có sức nổ rất lớn trong việc gây cảm xúc. Ở chỗ này, tôi nhớ vai diễn của nghệ sĩ Tuệ Minh trong vở kịch Cách mạng của Nguyễn Khải, Đoàn kịch Điện ảnh công diễn vào khoảng 1977-1979. “Phù thủy giọng nói” Tuệ Minh đã tung hoành trên lãnh địa lời thoại. Lên bổng xuống trầm, tuôn ra ào ạt, rồi ngắt, rồi nghỉ... một cách giàu cảm thụ và đầy ý thức. Ngắt. Nghỉ. Cái đã làm nên vai Phượng để đời.

HUY: Người bạn gái thân nhất của Huy đi bán gạo. Nghe mà buồn cười quá, đến là buồn cười.

PHƯỢNG: Người bạn trai thân nhất của Phượng không làm gì cả, anh ấy chỉ ngắm vuốt và đi chơi, đâu có kém buồn cười. Vừa thê thảm vừa buồn cười.

Trong câu nói của Phượng, phần trước là lời đối đáp với Huy. Phần sau được Tuệ Minh chọn như là điểm nhấn. Chỉ có sáu âm tiết. Vừa thê thảm vừa buồn cười. Một nghệ sĩ bình thường sẽ hét vào mặt Huy sáu âm ấy thật đanh thép, bày tỏ thái độ quyết liệt lên án (và khá thô thiển). Phượng không hét. Thậm chí chị đã xuống giọng như thầm thì, như nói riêng cho mình hay. Chỉ có sáu âm tiết, nhưng đã được nghệ sĩ tách làm ba đoạn với những sắc thái khác biệt.

- Vừa thê thảm...

Kèm thêm một tí chút chua xót trong giọng nói. Nỗi xót xa đang lặn vào trong.

- ... vừa...

Chỗ này Phượng ngừng ngắn như để lục tìm xem có thêm được một từ thật chính xác. Nói gì đây? Vừa phải điểm huyệt được căn tính của đối tượng, vừa độp lại, nhưng cũng vừa là sự chế giễu một người thân, rất thân.

- ... buồn cười.

Rốt cục Phượng không tìm thấy chữ nào đắc dụng hơn chữ buồn cười vừa mới nói ở trên. Cô lặp lại. Nhưng sắc thái đã khác, giễu mà không quá đà trở thành mạt sát.
Khoảng lặng mà Tuệ Minh thiết lập được trong một đối thoại ngắn đã khiến người xem đủ hiểu đủ ngấm và đủ xúc cảm để mà mê ly và nhớ mãi.

Tôi nhớ những khoảng lặng tuyệt vời khác trong những vai của nghệ sĩ Ngọc Hiền, đoàn kịch Hải Phòng, vào khoảng những năm 1970. Bà mẹ bỏ con mà đi, nay trở lại nhà bố chồng tìm lại con gái trong kịch Masa của Liên Xô. Klea, phu nhân của một triết gia rỗng tuếch ở Hy Lạp cổ đại trong kịch Con cáo và chùm nho của G. Figueiredo. Phu nhân Milford trong Âm mưu và tình yêu của F. Schiller. Những năm sau này là nghệ sĩ Lê Khanh với Lý Chiêu Hoàng trong Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi, Phồn Y trong Lôi vũ của Tào Ngu... Còn rất nhiều diễn viên và đạo diễn tài năng đã làm ra những khoảng lặng tuyệt vời mà ta không liệt kê được hết ở đây. Có những cảnh, một mình diễn viên trên sân khấu, độc thoại, dài cả mấy trang giấy, hai mươi phút, ba mươi phút trôi qua mà người xem không dám cựa quậy, không dám gây tiếng động. Cả nhà hát như bị thôi miên. Chỉ còn có lời thoại của nhân vật. Nói, nói và nói. Rồi... im, im và im. Chen lẫn, tách biệt, rồi hợp lại để đẩy không khí kịch lên thành cao trào.

Lê Khanh vai Lý Chiêu Hoàng trong "Rừng trúc"

Người thích những khoảng lặng đầy ngụ ý sẽ không thể hòa giải với phim truyền hình. Loại phim bộ, phim nhiều tập của truyền hình, do đặc trưng thể loại nhằm vào đối tượng là các bà nội trợ vừa xem vừa trông nhà nấu bếp, các cô tiểu thương vừa đứng quầy vừa uốn tóc gội đầu vừa xem, các cụ cao tuổi không theo được nhịp độ nhanh mạnh hoặc tạo lập phong cách của điện ảnh... vừa xem vừa không cần tập trung lắm, vừa bỏ ra ngoài hoặc bỏ qua một vài tập, mà vẫn có thể hiểu được. Thế là chậm thay cảnh đổi cảnh, chỉ có thoại và thoại. Quen nếp, nhờn tay, từ người viết kịch bản cho đến đạo diễn, mỗi khi bí quá, ý tưởng không chuyển thành hình ảnh được, cách giải quyết dễ dãi nhất là chuyển hết thành đối thoại. Cho nhân vật nói là xong. Nói triền miên, như đọc thuộc lòng, như cái máy nói, như bắn súng liên thanh.

Thèm quá những khoảng lặng.

Không cần nói nhiều về những nhà hát ở Mỹ và châu Âu mà tôi từng được bước chân vào. Lần xem Hồ thiên nga của Nhà hát Northwest Ballet ở Seattle, bang Washington, tôi nhớ giữa chừng có một bà ngồi phía sau hai hàng ghế bỗng hắt hơi. Một lần. Hai lần. Bà phải nén cho tiếng hắt hơi xẹp bớt xuống, chỉ còn xì xì. Hôm ấy là một ngày lạnh. Có lẽ từ chỗ gửi xe hơi, bà phải đi bộ lòng vòng hơn một cây số mới đến được nhà hát và đã nhiễm lạnh trên đường. Bà giữ chiếc mùi xoa trước mũi, cố nén cho nhẹ mỗi lần hắt hơi. Chắc là bà nán lại vì hy vọng sẽ nhanh khỏi. Nhưng không. Không. Rốt cục bà phải lặng lẽ bỏ ra khỏi khán phòng vài nghìn người. Trước đó, không ai tỏ ý bất bình, tất cả đều im lặng thông cảm và chia sẻ. Nhưng đương sự thì phải tự ý thức được mình đang làm phiền người khác. Phải hy sinh cái vé mấy chục đô la, vé phải đặt mua từ trước khá lâu.

Khoảng lặng của sân khấu chỉ tuyệt vời khi nó được hợp tác của khán giả, bằng một sự im lặng tương xứng.

Rạp Hồng Hà. Ngồi hàng ghế ngay trước mặt tôi là hai bà cháu, bà khoảng sáu mươi, cháu lên năm lên sáu. Cái ghế so với thằng bé là hơi thấp, nó phải nhấp nhổm đứng lên ngồi xuống, rồi sau cùng nó đứng thẳng dậy. Mà trẻ con xem tuồng làm sao, nó chỉ thấy mấy nhân vật vẽ mặt vẽ mày, cắm cờ trên vai, vung gươm vung giáo chậm chạp theo kiểu cách điệu, thỉnh thoảng thét lên vang lừng, thỉnh thoảng rít lên the thé, thỉnh thoảng nói giọng mũi bèn bẹt, giọng cổ gầm gừ, giọng bụng âm ư. Đoàn hát được giao cho nhà hát Hồng Hà ngay trước chợ Hàng Da, tưởng đưa sân khấu ra giữa chợ đời là đắt khách. Anh chị em tiểu thương bây giờ xem phim bộ Hồng Kông Hàn Quốc, có tiện chân vào rạp thì cùng lắm xem cải lương, ai xem tuồng. Nhưng người vào xem dù không phải tiểu thương vẫn mang theo vào không khí cái chợ. Không yên lặng được một lúc. Ăn hạt bí, ăn bánh, giở túi ni lông loạt soạt loạch xoạch. Nhân tiện diễn viên đang ca khúc bi ai thì ta nói chuyện riêng. Thằng bé gọi, bà ơi, cháu đi đái. Bà nó được cái mê tuồng, không rời mắt khỏi sân khấu, thì đi đi. Đi lối nào? Đi qua trước mặt người ta mà ra, vào chỗ kia kìa.

Thằng bé ngần ngại nhìn những người ngồi xung quanh. Không may là hai bà cháu nó ngồi ở chính giữa hàng ghế, muốn ra bên phải hay bên trái đều phải đi qua rất nhiều người. Nó cố nhịn thêm một lát nữa, rồi lại đòi bà dắt ra. Bà lại bảo cháu cứ đi đi. Tranh cãi dùng dằng một lúc nữa, cuối cùng bà nhớ ra chai nước cầm ở tay. Bà ngửa cổ tu nốt chai nước rồi đưa cho thằng bé. Nó đứng thẳng đuỗn, bắt chim vào trong miệng chai mà giải quyết cái việc nhấp nhổm nãy giờ.

Miêu tả được đến thế thì chứng tỏ việc thưởng thức sân khấu của tôi đã bị thủ tiêu. Lâu lâu rồi, sân khấu của ta không tồn tại những khoảng lặng nữa. Nếu có thì chắc chắn sẽ không gây được hiệu quả cho người xem. Khi tất cả rơi vào tĩnh lặng, đó là lúc mới thấy rõ dân ta thật lắm bệnh. Đang lành mạnh khỏe khoắn, chẳng ai bị làm sao, nhưng chỉ cần nửa phút lặng là tất cả bỗng rào rào lên. Ho, hắng giọng, sụt sịt, xỉ mũi, rung đùi, nhún ghế, quay ngang quay ngửa, cắn hạt dưa hạt bí tanh tách. Nếu có đạo diễn cả gan để khoảng lặng kéo dài một phút thì bắt đầu có tiếng hấm hứ sốt ruột, ai chịu được ngồi không quá lâu như vậy ở thời này. Chuyện trò cứ thế mà như đập thủy điện sông Đà xả lũ.

Hãy nhìn mấy ông nhạc trưởng nước ngoài được mời sang chỉ huy các dàn nhạc giao hưởng của ta. Một kiểu mời đúng thầy đúng thợ vào đúng cái thể loại âm nhạc của phương Tây mà ta đang nỗ lực. Mấy ông nhạc trưởng thì vừa sang trọng vừa duy mỹ. Thủ tục cúi chào xong rồi, nhạc trưởng nâng đũa chỉ huy lên ra hiệu chuẩn bị. Dàn nhạc lặng phắc cho thấy đã sẵn sàng. Ông nhạc trưởng chờ khán giả. Khán giả thì không sẵn sàng. Có gì mà phải sẵn sàng, vẽ chuyện, ông thấy cần bắt đầu thì cứ bắt đầu đi, việc gì ông phải chờ chúng tôi im lặng. Mà chúng tôi không thể ngồi im một giây. Dân tộc này ngồi im được một giây thì bốn nghìn năm đã phải làm nô lệ, bốn nghìn năm đã không còn đậm đà bản sắc dân tộc. Cái sự xôn xao ồn ào triền miên trong nhà hát cuối cùng đã làm ông nhạc trưởng Tây thua cuộc. Ông phải đưa tang cho sự duy mỹ của mình. Ông phải nhượng bộ công chúng bản địa trong một cuộc thương lượng không cân sức. Cây đũa của ông vung lên nhưng nó không còn là cây đũa thần của phù thủy âm nhạc nữa.

Nhà viết kịch nào phải liều lĩnh lắm thì mới còn dám tạo ra những khoảng lặng trong vở kịch của mình. Khoảng lặng độc đáo ư? Khoảng lặng tuyệt vời ư? Hãy nhìn gương mấy ông chỉ huy dàn nhạc kia.

Cảnh trong vở "Cung phi Điểm Bích"

Lại một lần ở rạp Hồng Hà. Chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên chứ không phải cứ rạp Hồng Hà là tệ, và cứ những rạp khác là sang. Tôi xem một vở mới về cung phi Điểm Bích được vua sai đi quyến rũ vị chân tu Huyền Quang. Ngồi cùng hàng ghế có một ông khoảng U70, luôn mồm bình phẩm, bình phẩm với bà vợ chưa đã, ông quay sang cả khán giả ngồi hai bên, chõ cả lên khán giả ngồi hàng trước, lôi kéo mọi người xung quanh tham gia bình phẩm. Ông còn vươn sang, đập vào tay tôi, ngồi cách ông những một khán giả:

- Giỏi thật, nó giấu mi-kờ-zô trong người mà mi-kờ-zô bắt rất nhạy, rất vang.

Ông tán tụng kỹ thuật âm thanh mới, micro giắt trên ngực diễn viên, không phải là mấy cái micro thả từ trên cao xuống. Sự thay thế micro đã diễn ra vài chục năm rồi, chứng tỏ đã lâu ông không đi nhà hát.

- A, con này cao tay nhỉ, nó dám vào đại náo nhà chùa. Ông sư kia cũng dền dứ vớ vẩn, nghiêm túc thì cứ đuổi cổ nó ra khỏi chùa là xong. Lại được cái thằng vua kia, ngu gì mà ngu quá. Ô, hóa ra là sư được trời đất phù hộ, không bị chết cháy trên giàn lửa nữa à... Gì mà phải trật tự, đi xem phải bình luận mới thú.

Câu cuối cùng là ông nói với khán giả ngồi cạnh, người vừa lên tiếng bảo ông trật tự.

Mọi người xung quanh đều khó chịu, nhưng chỉ biết quay sang nhìn nhìn.

- Về nhà mà bình luận. Hoặc lên sân khấu mà diễn, hoặc ngồi im mà xem.

Người kia bảo.

- Người ta có trình độ thì người ta mới bình luận được.

- Trình độ giẻ rách, im đi.

Người kia nặng lời.

- Như ở đây là còn ít, ở Tây ấy à, trong nhà hát người ta còn hò hét, huýt sáo nữa ấy chứ.

Ông bình loạn vẫn tiếp tục quay sang nói với vợ, cái giọng khê khê nồng nồng đồng chiêm trũng.

Khán giả ngồi hàng trước, nãy giờ phải chịu luồng hơi bình luận thường xuyên phả vào gáy, giờ mới quay lại:

- Người ta nhắc nhở đúng rồi đấy.

Bình loạn rơi vào thế cô lập, đành phải xuống giọng. Nhưng từ đấy cho đến lúc kết thúc, ông ta thỉnh thoảng vẫn lép bép vài câu, cố giữ tư thế, chả nhẽ xẹp luôn thì kém.

Một cái rạp khá khẩm như Megastar trên tháp Bà Triệu, phải là người thực sự thích phim ảnh, lại cũng phải có tiền vì giá vé khá đắt, thì mới bước chân đến. Cứ hy vọng là ở đấy, người có văn hóa nhiều hơn. Nhưng rồi toàn nam thanh nữ tú cả đấy, cánh văn phòng trẻ cả đấy, người yêu điện ảnh cả đấy, mà vẫn cứ ra cái chợ. Một cuộc thi tài sử dụng điện thoại di động trong rạp. Một cuộc chạy đua nhắn tin bằng điện thoại trong rạp. Những màn hình điện thoại màu xanh lè giơ lên trước sau và hai bên. Chuyện trò và bình phẩm như pháo nổ. Nhà rạp thì có chiêu tuyên truyền văn minh khá độc đáo. Màn ảnh hiện lên hình chiếc điện thoại di động màu xám bị liệt và giọng nói: Thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được vì đang ngồi cạnh thuê bao khác trong rạp chiếu phim, xin quý khách vui lòng gọi lại sau. Câu tuyên truyền lập tức phải nhận một trận cười. Cái điện thoại di động màu xám trên màn ảnh nếu hiểu thái độ khán giả thì nó phải đỏ lên vì ngượng, sự tuyên truyền độc đáo đã bị xem là vụng về nhà quê.

Chúng tôi hay xem ở cụm rạp này. Ngày thứ tư, giá vé giảm khoảng 40%, bảo nhau chớ dại mà xem vào hôm ấy, vé rẻ, rạp sẽ đông người lộn xộn. Ngày cuối tuần cũng đừng xem, đông người nhốn nháo. Rốt cục chỉ có thể chọn mấy ngày ít ỏi còn lại. Mua vé thì phải chọn hàng ghế cuối cùng, ít nhất là sau lưng mình không còn ai, tránh được cả một hàng ghế mất trật tự ở đằng sau. Chọn chỗ ngồi ở trong góc, ít nhất là tránh được một bọn người ngồi tiếp giáp ở một bên vai. Hàng cuối cùng, trong góc. Hạn chế việc tiếp xúc với người ở mức thấp nhất. Càng ít tiếp xúc với người, càng đỡ bực bội.

Đã đến mức ấy rồi ư? Càng tránh gặp người càng tốt. Người ham du lịch thấy rất rõ điều này. Nơi nào ít người đặt chân đến, nơi ấy sạch sẽ, tinh khôi, trong lành, dễ chịu. Nơi nào đang là điểm nóng, điểm đắt khách, người đổ đến đàn đàn lũ lũ, nơi ấy rác rưởi ngập ngụa, hôi khai, hơi người tiếng người có thể làm nhức đầu mỏi mắt. Người chuyên du lịch chỉ tìm đến những nơi còn khá nguyên sơ, vắng vẻ, chỉ có ta với thiên nhiên, nơi ta tôn trọng thiên nhiên và thiên nhiên hào phóng trở lại, ban phát cho ta những cảm xúc tuyệt vời.

Ngày trước tôi có đọc một truyện ngắn Đông Âu, kể chuyện một chàng trai mới lớn vừa mê sách vừa yêu sân khấu. Một nghệ sĩ mà anh ta hâm mộ đến thành phố và biểu diễn đêm duy nhất, vai Don Juan để đời của ông. Chàng trai khó khăn lắm mới xoay được một chiếc vé. Nhưng cũng ngày hôm ấy, một người bạn hứa cho anh ta mượn cuốn sách mà anh ta vẫn tìm kiếm lâu nay. Trước giờ xem kịch, anh ta phải đi xe buýt đến đầu kia của thành phố, tìm nhà mãi, rồi ngồi trước cửa chờ người bạn đi đâu đó đột xuất. Cuối cùng, không chờ được để lấy cuốn sách, anh ta đâm bổ đến nhà hát. Muộn. Phải nằn nì xin xỏ mãi mới được vào. May mắn. Vẫn còn kịp xem nghệ sĩ lớn diễn cảnh cuối cùng. Cái chết của Don Juan. Tuyệt vời. Càng tuyệt vời càng tiếc vì không được xem trọn vẹn vở kịch. Khi anh ta về nhà, người cha bảo: “Tác phẩm của nhà văn vẫn còn lại đấy, trong sách của ông ta, ngay cả khi ông ta không còn nữa. Nhưng tác phẩm của một nghệ sĩ sân khấu thì không phải bao giờ ta cũng được chứng kiến. Nó sẽ đi theo nghệ sĩ về nơi yên tĩnh đời đời”.

Đấy là một lý do để những người yêu sân khấu cứ tham lam lui tới nhà hát từng đêm. Bao nhiêu sáng tạo sân khấu mà ta được xem bốn mươi, ba mươi năm trước, bây giờ chẳng lưu được bằng một hình thức nào. Ngay cả có lưu trong băng đĩa hình thì nó không thể tái hiện nổi một phần tài năng của nghệ sĩ trong không khí sống động và luôn tiếp diễn của nhà hát.

Nhưng mà người yêu sân khấu không đến nhà hát bằng bất cứ giá nào. Chẳng nhẽ phải đến một nơi mà người ta không thể tìm được một khoảng lặng tuyệt vời?

Minh họa của Kim Duẩn

THAM KHẢO:
1. XẾP HÀNG
2. XEM BALLET NGA CÙNG NGHỆ SĨ NHÂN DÂN
3. Xem bài gốc ở đây



25/11/09

BẤT NGỜ VỀ MÚA


Vọng nguyệt

Có ai chủ tâm đi xem múa ở Việt Nam bao giờ không? Chắc là rất ít. Hôm kia tôi được mời đi xem múa. Không định đi, nhưng bà chị con bác (thân thiết với tôi hơn cả chị em ruột), hiện đang làm việc tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam (CĐMVN) , tha thiết mời, nên không nỡ từ chối.

Chẳng là trường kỷ niệm 50 năm ngày thành lập. Đây chính là ngôi trường mà Lê Vân nói tới trong hồi ký "Yêu và sống" gây xôn xao dư luận mấy năm trước. Trường này còn nổi tiếng vì một vài em chân dài xinh đẹp liên quan đến những vụ bê bối của các đại gia.

Tóm lại là nhân dịp tròn nửa thế kỷ, trường CĐMVN tổ chức chương trình "50 năm - Múa với thời gian" giới thiệu những tiết mục múa đặc sắc do các thầy cô giáo của trường biên đạo, hoặc dàn dựng lại từ những tác phẩm múa của nước ngoài: Múa dân gian VN, múa ballet, múa dân gian Nga, Trung Quốc, múa đương đại VN.


Chị tôi tất tả lo đón khách (vì có một số quan chức tới xem), đưa cho tôi vé và dặn: "Em cố xem đến hết nhé. Mấy tiết mục đầu có thể chưa hấp dẫn lắm, nhưng càng về sau càng hay đấy. Có cả Cao Chí Thành đấy". Tôi ậm ừ: "Được rồi, chị yên tâm".


Mở ngoặc đơn về Cao Chí Thành. Anh chàng này được báo chí mệnh danh là "Hoàng tử ballet Việt Nam" vì là nghệ sĩ ballet đầu tiên của Việt Nam đoạt giải tại một cuộc thi ballet quốc tế (giải tư Helsinki International Ballet Competition 2005). Cao Chí Thành là sản phẩm đào tạo 100% của Việt Nam.


Cao Chí Thành

Trong chương trình tối hôm kia, Thành trình diễn 2 trích đoạn kinh điển của múa ballet là
"Don Quixote" và "Diana và Acteon". Quả đúng là danh bất hư truyền. Tài năng đã được khẳng định của Thành lại một lần nữa tỏa sáng. Tôi thấy không có sự khác biệt lắm với các ngôi sao thế giới trong màn trình diễn của Thành. Điểm thêm một số ấn tượng nữa.

Tôi đặc biệt thích ba cô gái Kiều Anh, Tuyết Anh, Mai Linh trong tiết mục "Vọng nguyệt" (biên đạo: NSƯT Kiều Lê). Tiết mục này được dàn dựng theo phong cách "Cirque du Soleil" của Canada. Ba cô gái cho thấy họ thành thục cả kỹ năng múa dân gian (ở đây là múa dân gian Việt Nam), lẫn khả năng tạo hình của nghệ thuật xiếc để tạo thành một tiết mục đặc sắc.


Ballet Việt Nam đầu thập niên 1980 đã dàn dựng và trình diễn thành công những vở ballet kinh điển của thế giới như Spartacus. Thời đó, nam diễn viên Nga đảm nhận vai Spartacus, vai nữ do NSND Kiều Ngân. Giờ đây Kiều Ngân dựng lại trích đoạn trữ tình nhất của vở diễn với cặp đôi Hoàng Giang và Tuyết Dung. Hoàng Giang phù hợp với Startacus cả về hình thể lẫn sự mạnh mẽ, còn Tuyết Dung thì như sinh ra để múa vai này vậy. Cả hai đã chứng minh rằng họ có đủ kỹ năng và cảm xúc để trình diễn trọn vẹn một vở ballet cổ điển.

Tóc

Chương trình ghi nhận sự tiến bộ đáng kể trong trình độ biên đạo với những tiết mục đầy ngẫu hứng của các biên đạo múa trẻ. Trần Ly Ly thể nghiệm sự "đùa giỡn" với âm nhạc dân gian, nhịp điệu phóng túng với những cô gái mặc yếm trễ nải tạo nên một vũ đạo khó quên của tóc.

Một điểm yếu của múa Việt Nam đó là hình thể các diễn viên nam hơi mỏng manh, không tạo được sự mạnh mẽ đẹp mắt. Biên đạo múa Hồng Phong đã khắc phục được điều đó trong "Quốc ấn - Tâm thư" với những động tác khoáng đạt và nam tính. Tiết mục khắc họa chân dung sĩ phu Bắc Hà trong khung cảnh Văn Miếu tạo được hiệu ứng nhìn khá hiệu quả.
Quốc ấn - Tâm thư

Nhưng tạo hiệu quả sân khấu mạnh nhất phải kể đến "Gạo mới" (NSƯT Kiều Lê biên đạo). Các cô sơn nữ múa mừng hội mùa rộn ràng trong vũ khúc của tre và kết thúc với màn thoát y táo bạo và gợi cảm, nhưng lại đầy thẩm mỹ.

Tôi không bỏ về như chị tôi lo ngại lúc đầu, vì các tiết mục cuốn hút từ đầu đến cuối. Hai tiếng đồng hồ trôi qua thật nhanh và chương trình kết thúc trong sự thòm thèm của khán giả. Nếu cứ múa thế này thì ai bảo nghệ thuật múa khủng hoảng nhỉ?


Ảnh: Nguyễn Thanh Hà

7/10/09

"MỘT RỔ HUY CHƯƠNG"



Đó là cụm từ mà một nghệ sĩ tham gia Hội diễn sân khấu kịch chuyên nghiệp 2009 nói với tôi qua điện thoại, khi được hỏi về kết quả hội diễn bế mạc tối nay (7.10) tại TP Hồ Chí Minh.

"Một rổ huy chương" vì có tới 42 chiếc huy chương vàng (HCV) cá nhân được trao. Tất nhiên, Thành Lộc với 2 vai diễn trong "Hợp đồng mãnh thú" và "Ngàn năm tình sử" xứng đáng được HCV kèm danh hiệu "nghệ sĩ xuất sắc nhất". Hầu hết những cái tên nổi trội của các đơn vị nghệ thuật sắm vai chính trong các vở diễn đều được HCV.

Bên cạnh đó những cái tên được báo chí khen ngợi như NSƯT Thu Hà (Nhà hát Kịch Việt Nam), NSƯT Bảo Quốc, thì mặc dù chỉ diễn vai phụ, nhưng đã được Vàng không khó khăn gì.

Cơn mưa HCV cá nhân đã khiến một số nghệ sĩ gần đến tuổi nghỉ hưu thở phào, vì cuối cùng đã có thêm thành tích đủ điều kiện để nhân danh hiệu NSƯT hoặc nâng cấp lên NSND.

Vàng cho vở diễn có khắt khe hơn. Chỉ có 3 trong số 27 vở diễn tham gia được HCV. Đó là "Anh hùng và mỹ nhân" của Nhà hát Kịch Việt Nam, "Nỏ thần" và "Mẹ và người tình" của Sân khấu kịch Phú Nhuận.

Mặc dù BGK quá khắt khe khi cân nhắc giải Vàng (chỉ tiêu của Ban tổ chức đặt ra lúc đầu là sẽ trao HCV cho 1/3 số vở tham dự, có nghĩa là 9 vở), nhưng các vở diễn được dư luận mong đợi đã không được vàng. Đó là "Ngàn năm tình sử" của IDECAF, là "Cánh đồng bất tận" của Nhà hát Sân khấu nhỏ TP HCM.

"Ngàn năm tình sử" được Thành Lộc dàn dựng và diễn xuất xuất sắc, nhưng trước hội diễn lại bị một vài tờ báo phê bình là có cái nhìn không đúng về Lý Thường Kiệt: Không thể có chuyện vị tướng lừng lẫy trong lịch sử VN lại tự thiến vì một người phụ nữ và ngồi thổi sáo suốt 20 năm vì thương nhớ nàng.

"Cánh đồng bất tận" thì được một nhà phê bình nghệ thuật nhận xét là xử lý theo kiểu chuyển thể Slumdog Millionaire từ mấy tập sách thành tác phẩm điện ảnh. "Cánh đồng bất tận" trên sân khấu khác xa với nguyên bản của Nguyễn Ngọc Tư, nó chỉ còn những cái tên nhân vật, còn tình tiết, cốt truyện đã khác rất nhiều. Tất nhiên, tác giả kịch bản và đạo diễn có quyền như vậy. Nhưng một nghệ sĩ miền Bắc háo hức xem vở diễn này đã phải thở dài thất vọng: "Không thể chịu đựng được".

Có vẻ như Ban giám khảo đã dũng cảm khi trao giải Vàng cho hai vở diễn miền Nam và một vở diễn miền Bắc. Điều đó thể hiện đúng tương quan của hội diễn, nhưng Ban Giám khảo cũng đã lúng túng và nửa vời, không dám đi đến tận cùng nếu chỉ tính đến những tiêu chí nghệ thuật của vở diễn.

Dù thế nào thì hội diễn này cũng đánh dấu một sự chuyển mình. Kịch nói miền Bắc một thời tung hoành với những niêm luật nghệ thuật khắt khe của mình, với tiêu chí "nghệ thuật là thánh đường"
đã thực sự không còn là thánh đường nữa, khi không chịu đổi mới, cứ sống mãi với hào quang quá khứ của mình và chỉ chịu dựng vở khi có tiền đầu tư làm các vở diễn nhân các dịp kỷ niệm.

Các nghệ sĩ cứ miền Bắc cứ than khóc vì bị khán giả quay lưng, nhưng họ dường như không biết rằng chính họ đang làm cho khán giả quay lưng và bỏ đi, khi cứ tiếp tục dựng những vở diễn không khán giả, diễn những vở diễn ít người muốn xem.

Sân khấu kịch miền Nam, sau một thời gian bị phê phán là chiều theo thị hiếu khán giả, thì nay dường như đã trở lại thế cân bằng với những vở diễn vừa chiều theo thị hiếu khán giả vừa khiến thị hiếu khán giả thay đổi. Họ đã đúng: Trước hết phải có khán giả, sau đó mới bắt khán giả thay đổi được.

Cũng như chính sân khấu. Trước hết phải sống thì rồi mới hay được. Còn cứ lay lắt thì cũng chỉ lắt lay mãi mà thôi.

Chú thích: Poster vở diễn "Ngàn năm tình sử"


23/9/09

CHUYỆN TRONG NGÀY


Hai đạo diễn Trần Ngọc Giàu và Lê Quý Dương

Hôm nay đọc báo lướt mạng thấy có mấy chuyện về văn hóa cầm lòng không đặng:

1. "Giáo viên chưa đạt chuẩn" phải đeo thẻ. Chuyện này xảy ra ở Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Một số giáo viên phải đeo một tấm thẻ có hình ảnh của bản thân với dòng chữ "Giáo viên chưa đạt chuẩn". Không hiểu những người nghĩ ra chiêu đeo thẻ chưa đạt chuẩn này định nhằm mục đích gì? Để cho phụ huynh và học sinh biết giáo viên chưa đạt chuẩn mà tránh, hay muốn hạ nhục họ?

Tham khảo: Bị xúc phạm vì phải đeo thẻ 'Giáo viên chưa chuẩn'

2. Đạo diễn trẻ Lê Quý Dương làm nóng "Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp 2009" khi dùng một chiếc ly đựng bia đập thẳng vào mặt đạo diễn đàn anh là Nghệ sỹ ưu tú Trần Ngọc Giàu. Nghe đâu hai vị đạo diễn có mâu thuẫn từ 11 năm trước, giờ mới có dịp ngồi chung một mâm. Không hiểu nói với nhau thế nào mà dẫn đến sự cố trên. Đạo diễn Trần Ngọc Giàu bị rách mũi phải khâu. Sau đó ông nói với báo chí là ông thấy "tội nghiệp cho Lê Quý Dương". Còn vị đạo diễn trẻ thì viết hẳn một bài dài cho đăng trên báo, giải thích rõ tại sao mình lại đấm người đồng nghiệp, đồng thời ngỏ lời xin lỗi.

Tôi biết Lê Quý Dương có tài, nhưng anh cũng gây nên nhiều cuộc tranh cãi xung quanh những chuyện mà anh cho là các đạo diễn khác "đạo" ý tưởng hay cách dàn dựng của anh. Tôi cũng chưa nói chuyện với Lê Quý Dương bao giờ, nhưng có lần một nữ đồng nghiệp làm bên truyền hình bức xúc kể với tôi chuyện chị cộng tác với anh làm một chương trình nào đó. Chị thì chú trọng hiệu ứng hình ảnh trên truyền hình, anh thì chú trọng hiệu ứng thị giác sân khấu. Hai bên tranh cãi gay gắt và chị và êkip truyền hình bị đạo diễn mắng là "lũ đàn bà và trẻ con".

Dù thế nào, thì tôi thấy hành động đánh đồng nghiệp là không thể biện minh.

Tham khảo:
Đạo diễn Trần Ngọc Giàu bị hành hung
Đạo diễn Trần Ngọc Giàu thấy "tội nghiệp" cho Lê Quý Dương
Lê Quý Dương trần tình cú đấm ĐD Trần Ngọc Giàu



18/10/08

TRƯƠNG NGHỆ MƯU HỌC DOÃN HOÀNG GIANG



Đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Doãn Hoàng Giang là người phát minh ra kiểu hát nhép trên sân khấu Việt Nam.

Khi dựng vở "Nàng Sita" của cha con tác giả Lưu Quang Thuận - Lưu Quang Vũ trên sân khấu Đoàn chèo Hà Nội trong thập niên 1980, ông phải đối mặt với một vấn đề nan giải: Không có nữ diễn viên đủ xinh đẹp và hát hay để đóng vai chính - nàng Sita.

Sân khấu chèo, hay sân khấu cải lương, tuồng cổ đều đòi hỏi những cô đào vừa xinh đẹp, vừa phải biết diễn giỏi hát hay. Đoàn chèo Hà Nội thời đó có Lâm Bằng nổi tiếng với nhan sắc mặn mòi, diễn xuất tốt, nhưng giọng hát của cô thì lại không được hay cho lắm. Những nữ diễn viên khác hát tốt, thì lại không đủ sắc để thể hiện nàng Sita.

Đúng vào lúc bối rối nhất, Doãn Hoàng Giang đã nghĩ ra một kế. Hãy nghe ông kể lại với nhà báo Ngô Thượng Tùng của Sài Gòn Doanh nhân Cuối tuần hồi tháng Tư vừa qua:

"- Người ta nói Doãn Hoàng Giang là người đầu tiên ở Việt Nam đưa “hát nhép” lên chiếu chèo. Ông sẽ “biện hộ” cho mình như thế nào?

- Tôi coi đó là một sự sáng tạo. Anh có biết Lâm Bằng không? Đẹp lắm, diễn rất hay mà không hát được. Không lẽ mình bỏ một cô bé đẹp thế? Tôi bố trí ba em hát thật giỏi đứng sau cánh gà, nhìn miệng Lâm Bằng mà “đớp” theo. Khán giả bàng hoàng, không hiểu Giang nhào nặn thế nào mà Lâm Bằng hát hay thế.

Trong nghề có người biết cô bé không hát được, xộc vào sau sân khấu mới hay Giang giở trò ma. Tôi nói các ông thắc mắc cái gì? Các ông vừa được xem cái đẹp, vừa được nghe giọng hát hay, còn muốn gì nữa. Nghệ thuật là sự hòa quyện của những tinh hoa. Trong điện ảnh, diễn viên lồng tiếng đầy ra đấy, sao không thấy ai phàn nàn. Còn ca sĩ bây giờ, có người làm biếng, chạy show nhiều quá, ra sân khấu là cỡn lên, hát nhép thì mới đáng bị phê phán."

Vở "Nàng Sita" diễn ra hàng trăm đêm và tạo nên cơn sốt vé thực sự ở Hà Nội trong thập niên 1980. Lâm Bằng trở thành sao, cô còn đảm nhiệm nhiều vai diễn khác trong các vở "Đêm hội Long Trì", "Ngọc Hân công chúa"...

Sau "Nàng Sita", "phát minh" của Doãn Hoàng Giang đã trở thành cách làm phổ biến của các đoàn nghệ thuật. Khán giả được thỏa mãn cả khoản nghe lẫn khoản nhìn. Khá nhiều diễn viên có nhan sắc, biết diễn xuất nhưng giọng hát thì bình thường đã trở thành sao nhờ cách diễn này.

Người Việt Nam có lẽ không lạ với điều đó nữa.

Nhưng cả thế giới thì đã bị sốc khi phát hiện ra cô bé có gương mặt thiên thần Lâm Diệu Khả hóa ra chỉ hát nhép cho camera quay hình và phát đi toàn cầu, còn cô bé Dương Bái Nghi răng sún mới là chủ của giọng hát ngọt ngào tại lễ khai mạc Olympic Bắc Kinh. Thế giới gọi đó là "cú lừa ngoạn mục". Toàn bộ công sức sáng tạo đỉnh cao của "đại sư đạo diễn" Trương Nghệ Mưu chỉ vì chuyện đó mà bị hoen ố.

Chuyện chẳng có gì mà ầm ĩ. Nghe giải thích của người có thẩm quyền từ Ban Tổ chức Olympic Bắc Kinh, thì thấy rất giống những gì mà bác Doãn Hoàng Giang đã nói.

Hóa ra là Trương Nghệ Mưu đã học Doãn Hoàng Giang đấy nhé.

P/S: Dịp 2.9 tới đây, Nhà hát Chèo Hà Nội (nâng cấp từ Đoàn Chèo Hà Nội) sẽ đưa "Nàng Sita" trở lại sân khấu sau hơn 20 năm. Lâm Bằng sẽ vẫn thủ vai chính, nhưng chưa rõ ai sẽ hát thay cho chị, bởi người khớp giọng cho chị trước kia là NSƯT Thúy Mùi nay đã trở thành Giám đốc Nhà hát.

15/2/08

CẢI LƯƠNG TIẾP TỤC CẢI LƯƠNG



Tôi là người Bắc, tôi không nghiền cải lương, nhưng biết đánh giá thế nào là một vở cải lương hay, biết thưởng thức ngón nghề đờn ca của các nghệ sĩ và có được cảm giác thoả mãn với một vở cải lương đích thực.

Wikipedia bản tiếng Việt định nghĩa cải lương như sau:

"Cải lương, nghĩa đen là đổi mới, là một loại hình nghệ thuật sân khấu kịch hát của miền nam Việt Nam, trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long, nhạc tế lễ, và bản Vọng cổ. Nghệ thuật này ra đời vào năm 1917, chịu nhiều ảnh hưởng của âm nhạc Tây phương hơn so với các nghệ thuật thuần túy như hát chèo và hát bội. Đề tài của các tuồng cải lương thường liên quan đến các điển tích và những vấn đề xã hội. Hiện nay cải lương vẫn còn thịnh hành, đặc biệt là tại miền nam Việt Nam" (*).

Phải nói, cải lương - như một bộ môn nghệ thuật được đổi mới, có ảnh hưởng sâu rộng và sức sống mãnh liệt. Bằng chứng là cả miền Nam không có đoàn chèo nào. Chèo là bộ môn nghệ thuật rặt Bắc và chỉ có ở miền Bắc và chỉ có người Bắc hát, thì cải lương - xuất thân từ Nam Bộ - lại phát triển rất rầm rộ ở miền Bắc, tạo nên một trường phái cải lương Bắc kết hợp được tinh hoa của nghệ thuật đờn ca Nam Bộ với cách xử lý niêm luật của sân khấu hiện đại.

Ngày xưa, rất nhiều địa phương ở phía Bắc có đoàn cải lương. Trước 1954, đoàn Chuông Vàng của Hà Nội với những tài tử Bắc kỳ đã làm mưa làm gió trên sân khấu Sài Gòn. Khi đất nước bị chia làm 2 miền, thì ở miền Bắc, ngoài những đoàn hát cải lương tập hợp những nghệ sĩ Nam Bộ tập kết, còn có những đoàn cải lương của người Bắc rất nổi tiếng như Đoàn Cải lương Thái Bình (tung hoành ngang dọc trong thập niên 1970 với vở "Lửa phi trường"), hay Đoàn Cải lương Hoa Mai (Hà Sơn Bình) với Nghệ sĩ Nhân dân Mạnh Tưởng hát hay không thua kém Út Trà Ôn, Thành Được...

Miền Nam giải phóng, cải lương từ miền Nam ra nhanh chóng chinh phục công chúng miền Bắc XHCN. Thời đó những vở diễn của các nghệ sĩ miền Nam như "Làm lại cuộc đời", "Cây sầu riêng trổ bông", "Tiếng hò sông Hậu", "Tô Ánh Nguyệt", "Đời cô Lựu", "Lá sầu riêng", "Bên cầu dệt lụa", "Tiếng trống Mê Linh".. đã khiến khán giả miền Bắc say mê. Cải lương mang đến cho công chúng miền Bắc sự ngọt ngào lạ lẫm với cách diễn khác, cách khai thác những chủ đề gần gũi về số phận con người, tình người và đặc biệt là những kết cục có hậu.

Có lẽ đó là thời hoàng kim của cải lương. Khi nghệ sĩ Thanh Nga bị sát hại, khán giả miền Bắc tiếc thương chị chẳng khác gì khán giả miền Nam. Còn nhớ, Đài Truyền hình Trung ương khi đó không kịp ghi hình vở diễn cuối cùng với diễn xuất của Thanh Nga là "Thái hậu Dương Vân Nga". Để đáp ứng nhu cầu của công chúng, đài đã phải quay vở diễn này với diễn xuất của nghệ sĩ Kim Hương. Lịch phát sóng được công bố trước nhiều ngày và khán giả tụ tập rất đông trước các màn hình đen trắng ở hội trường các công sở. Phát thanh viên ngậm ngùi giải thích rằng, thật tiếc chúng ta không được xem Thanh Nga, mời các bạn (thời đó chưa gọi quý vị như bây giờ) xem Kim Hương.




Ngọc Giàu ca "Dạ cổ hoài lang"
Thế hệ vàng của cải lương đã qua. Cải lương đã ngắc ngoải trong suốt hơn 2 thập kỷ. Bây giờ, người ta ít biết "cải lương" là sự đổi mới, mà những gì dính đến cải lương bị coi là xí xọn, loè loẹt, cầu kỳ vô lối, sến... Khổ thay khi cải lương đồng nghĩa với những điều như vậy.

Cái gọi là cải lương bây giờ thực ra không thể xem được. Một số nghệ sĩ vẫn ca hay, diễn hay đấy, nhưng một mình họ chẳng thể hồi sinh được sân khấu cải lương. Xem cải lương tức anh ách khi thấy kịch bản vô lý không thể tưởng tượng, các màn tấu hài lê thê - vô bổ - nhạt hoét; các diễn viên bất kể đóng vai nào đều vô cùng xinh đẹp phục trang lộng lẫy (nữ tì của sân khấu các lương chắc chắn mặc đẹp hơn công chúa thời xưa); các nam diễn viên thì xinh đẹp hệt như các nữ diễn viên.

Gần đây dư luận nói nhiều đến những nỗ lực làm mới sân khấu cải lương. Cải lương giờ đây phải kết hợp với dàn nhạc giao hưởng, phải đưa ra sân vận động, phải có sự tham gia của các ca sĩ đang hot, phải có sân khấu hoành tráng ánh sáng laser kèm theo những kỹ thuật phi thân như trong rạp xiếc. Nói nôm na thì cải lương đang tiếp tục cải lương.

Thiển ý của tôi, thì cách này sẽ chẳng đi đến đâu. Cải lương đã được cải lương trong 3/4 đầu của thế kỷ 20 để đến rất gần với công chúng và đã thành công. Thời đó cải lương có những kịch bản xuất sắc, những nghệ sĩ xuất sắc và một công chúng xuất sắc. Phải chăng thời hoàng kim đã qua?

Có lẽ cải lương không cần cải lương thêm nữa, hãy quay lại với cung cách và niêm luật đã biến cải lương thành classic thì hơn.


Lạm bàn một tí, ai có ý kiến nào hay thì chia sẻ trong comment nhé. Xin cảm ơn trước.

(*): Xem http://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%A3i_l%C6%B0%C6%A1ng

Ảnh: Cải lương giờ có cả dàn nhạc giao hưởng, dàn đồng ca và đu bay như trong rạp xiếc. Cảnh từ vờ "Chiếc áo thiên nga" sắp công diễn ở TP.HCM. Ảnh: VNExpress.


23/9/07

VA CHẠM



Hôm rồi đọc một vở kịch (chứ không phải xem) mà rơi nước mắt. Kịch không có mối tình ngang trái nào, không có trai yêu gái, chỉ là bi kịch của chính nghĩa bị cái xấu giày vò, vùi dập. Vùi không được, dập không xong, cho dù đầu rơi và máu đổ, tất nhiên rồi, nhưng cái cách của con người tàn bạo với cái đẹp, khiến ta bật khóc.

Đây là kịch bản được nhận giải thưởng của Hội Nghệ sỹ sân khấu Việt Nam năm 1981 của tác giả Hoàng Hữu Đản, một dịch giả, một nhà giảng dạy và nghiên cứu văn học. Nhưng 8 năm sau, vở kịch "Bí mật vườn Lệ Chi" mới được dựng trên sân khấu thành phố Hồ Chí Minh. Rồi bị buộc ngưng diễn (hiểu được là... chết liền, đọc hết vở kịch mà không hiểu sao lại bị cấm diễn). Và vở kịch đã trở lại với công chúng thành phố vào giữa năm nay.

Nhiều câu quá hay, xin trích ra đây:

Kẻ sĩ chân chính không chấp nhận lời dối trá, không khuất phục bạo tàn.

Giữ lấy ngọn đuốc văn hiến là dân, mà thổi bùng ngọn lửa văn hiến ấy là nhiệm vụ kẻ sĩ.

Con thú có thể cắn chết con người nhưng vẫn là con thú. Con người mang lẽ phải có thể bị giết vì lẽ phải, nhưng bảo vệ lẽ phải vẫn mãi là thiên chức của con người!

Nghe nói đó là vở kịch rất kén khán giả. Một kiểu bi kịch Hy Lạp.

"Trước khi màn hạ, những tiếng nói cuối cùng vang lên và tóm tắt số phận của chúng ta trên trái đất là những tiếng nói của sự tiếc hận, của lòng biết ơn và yêu thương" - Lời nói của Tổng lãnh sự Pháp tại Tp HCM, Nicolas Warnery.

Bữa đó tới giờ cứ nhớ về vở kịch, nhớ ông Hoàng Hữu Đản. Nó ám ảnh ta bởi một giả thiết quá mới, được đặt ra xung quanh cái chết của Nguyễn Trãi. Ông không chết bởi bọn gian thần, bởi người phụ nữ nhẫn tâm nhiều tham vọng tên Nguyễn Thị Anh. Ông không chết bởi những con người tầm thường như thế. Ông chết bởi sự va chạm giữa hai nền văn minh (lại nói cho hoành tráng), giữa kẻ sỹ và một triều chính được xây dựng trên cái nền của vua quan hãnh tiến, thiếu một tầm nhìn xa, tham lam không kiềm chế, thù hằn vặt vãnh cá nhân, và... Nguyễn Trãi. Một mình.

Nảy sinh tình huống như sau:

Nguyễn Trãi dùng thời gian rảnh để đọc sách, thưởng trà, ông đọc "Trăm năm cô đơn", "Sông Đông êm đềm", hay "Chùm nho nổi giận" thì vua quan mê mẩn uống rượu hát ca, có đọc, thì cũng lướt qua mấy chuyện vụ án giật gân, ma quái kiểu tuyển tập "chuyện kể lúc nửa đêm".

Nguyễn Trãi vò đầu bứt tóc hoạch định một chiến lược phát triển đất nước trong năm mươi năm tới thù quan quan ấy, những người chưa bao giờ biết run rẩy, xao động khi cầm lên một cuốn sách hay, một câu thơ đẹp, một ánh trăng tan, một tiếng dế ran bên hè, một màu nắng phai, một cơn mưa mòng... chỉ nghĩ coi ngày mai ăm với món gì. Cao lương mỹ vị cũng ngán quá rồi.

Nguyễn Trãi tìm một bà vợ thông minh, biết chữ còn vua quan ấy chọn vợ đẹp, dù tham vọng, ác độc, ít học không sao, miễn là hấp dẫn, sắc nước hương trời. Và vua toại nguyện khi trong cung có được Nguyễn Thị Anh.

Va chạm đã nảy sinh từ những chi tiết rất nhỏ của hai lối nghĩ, hai lối sống, hai cách nhìn đời. Tâm hồn kẻ sĩ, thư sinh của Trương Ba không đủ mạnh kiềm chế sự bản năng, thô lậu của thân xác anh hàng thịt.

Nên trước Nguyễn Trãi, hẳn cũng có người ngã xuống, sau Nguyễn Trãi, trăm năm, ngàn năm sau vẫn còn những số phận, những giày vò, những oan khiên... Chẳng vì anh A, anh B, hay chị C nào, chỉ vì lịch sử luôn tồn tại những triều đình với những vua quan không... đọc sách, hoặc đọc sách mà không hiểu sách nói gì.

Trời ơi, ta có đề cao sách quá chăng?

NGUYỄN NGỌC TƯ

T/B: Bài của nhà văn NGUYỄN NGỌC TƯ đăng trên tạp chí Tia sáng số 18 ra ngày 20.9.2007. Bài quá hay, mà tạp chí Tia sáng lại không mấy phổ biến, nên post lên đây để bà con cùng đọc. Xin lỗi chị Tư, vì tui không biết phải liên lạc với chị qua số nào để xin phép.


Ảnh: Hữu Châu trong vai Nguyễn Trãi, vở "Bí mật vườn Lệ Chi". Xin từ blog của cogaidolong.


 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết