Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngô Mai Phong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngô Mai Phong. Hiển thị tất cả bài đăng

14/8/11

MESSAGE



NGÔ MAI PHONG

Anh khoẻ không
Anh sống vui không
Anh đang ốm
Anh sống rất buồn
(Thật ra anh đang rất khoẻ
Rất vui)

Em khoẻ không
Em sống vui không
Em đang ốm
Em sống rất buồn
(Thật ra em đang rất khoẻ
Rất vui)

Anh khôe không
Anh sống vui không?
Anh khoẻ
Anh rất vui
(Thật ra anh đang ốm
Anh sống rất buồn)

Em khoẻ không
Em có vui không
Em khoẻ
Em rất vui
(Thật ra em đang đau ốm
Em sống rất buồn)

Nhiều năm sau
Khi mọi chuyện không còn
Những dòng tin còn lưu
Trong cửa hàng đồ cũ...




21/4/11

CÂU HỎI



Bình nguyên này lúa không trổ bông mà trổ hoa
Bởi nông dân toàn là thi sĩ

Con đường này ngựa xe tan hoang
Bởi xe ngựa chở toàn thi sĩ

Con sông này đục khiến cá vỡ mắt
Bởi xác thơ phơi trắng mặt dòng

Dải núi này cỏ không mọc nổi
Bởi dấu chân chằng chịt hội tao đàn

Đành ném lên trời xanh câu hỏi:
Có thật đất này nhiều thi sĩ thế không?

NGÔ MAI PHONG



24/1/11

TÔI LÀ CÔ ĐƠN



Trời trao cho tôi trái tim của bạn
Khi nào bạn cảm thấy cô đơn
Hãy đến với tôi đừng ngần ngại.
Tôi vẫn đi cùng bạn trên đường
Dẫu không thể nắm tay cùng bạn
Bạn ơi, tôi là CÔ ĐƠN!

Thơ Alfred de Musset


16/10/10

BỒ CÔNG ANH



Ngô Mai Phong

Anh hôn em như mưa
Như uống từng cơn mưa dài
Em tựa chiếc bánh dày trắng
Ấm và thơm

Sỏi dưới chân nhảy múa
Mặc bức tường câm
Những ngôi nhà âm u đang nhìn
Tóc em xù kín khuôn mặt anh
Ta đứng và hôn nhau
Đi và hôn nhau
Em tựa chiếc bánh dày trắng
Có vị mặn ngọt của muối

Người ta kéo hai con tàu buồm lên triền đồi
Kỳ dị như bọn cướp biển
Chợt nhận ra trời không màu
Và em như bông bồ công anh
Bỏ lại ta bên giấc mơ...

Entries liên quan:
BẦY DIỆC Ở HOÀNG SA
SỐNG
HOA LUÔN RẠNG RỠ
CHIM CÚ
KHÔNG CÓ SÂM



9/10/10

BẦY DIỆC Ở HOÀNG SA



Ngô Mai Phong

Họ đứng như bầy diệc
Bị chôn chân giữa dải đá ngầm
Bốn mặt sóng đen rầm chiến hạm

Những con diệc không thể bay
Không có chỗ ẩn nấp
Những con diệc lặng băng như ngọn cờ tuẫn tiết

Buổi sáng ấy chỉ mẹ tôi nhìn thấy
Có đàn chim đẫm máu về trời
Hai mươi năm Hoàng Sa thành Nam Sa

Hà Nội chiều nay thanh bình thế
Triệu Vi hát trên truyền hình
" Thu thủy vô ngân * -
Nước mùa thu không vết dấu" ...

--------------------
* Lời một bài hát trong phim " Kinh hoa yên vân" do Triệu Vi - diễn viên và ca sĩ nổi tiếng của Trung Quốc thể hiện.

Một đoạn của tượng đài "Hải đội Hoàng Sa"

Entries liên quan:
THIỀN SƯ
VỀ NHÀ
CHIM XANH
MIỀN ĐÔNG
BÌNH LIÊU
THƯ PHÁP CÁ


2/10/10

THIỀN SƯ



Ngô Mai Phong

Trong bữa ăn
Thiền sư bảo với ba người
Một cảnh sát
Một nhà buôn
Một ký giả
Kiếp trước các anh là người tu hành

Một năm sau
Viên cảnh sát mỗi tháng lên chùa một lần
Hai năm sau
Nhà buôn trở thành nhà từ thiện
Ba năm sau
Ký giả quay sang nghề bút lông

Hình như cả ba đều tin
Kiếp trước mình là người tu hành.




28/9/10

SỐNG



Gửi VMC

Long lanh thành rêu ngấn nước
Giông đêm đi qua dài vệt biếc
Vịt đồng kêu ran ban mai

Người đàn bà mang lụa ra phơi
Lụa óng bóng hồ
Hồ biếc thi với liễu

Liễu biếc thi với núi
Núi mọc thi với cỏ
Cỏ chạy thi chân trời
Chân trời đuổi theo dòng sông

Đất lại sống như chưa từng chết


Hỡi cây khát vọng của ta
cơn mưa của mi đâu?

Ngô Mai Phong


Entries liên quan:
VỀ NHÀ
CHIM XANH
MIỀN ĐÔNG
BÌNH LIÊU
THƯ PHÁP CÁ



22/9/10

HOA LUÔN RẠNG RỠ



Thơ Ngô Mai Phong

Hoa luôn rạng rỡ
Những bông trang nở giữa đầm lầy
Không ai chào đón
Tôi đang chẳng có gì ăn

Hoa luôn rạng rỡ
Những bông tóc tiên ven lối đổ nát
Không ai có tâm trạng ngắm nhìn
Đàn kiến đang lo chạy bão

Hoa luôn rạng rỡ
Những đóa hồng nơi thánh đường tràn ngập ánh sáng
Không ai rung động
Họ mải nhìn các cô phù dâu

Hoa luôn rạng rỡ
Những bông thạch lựu đỏ rực trong đám tang
Không ai để ý
Người ta chỉ nhìn xuống bàn chân mình cuộc tiễn đưa

Dù yêu hay không yêu
Dù vui hay không vui
Trên sự dửng dưng mỗi ngày
Hoa luôn rạng rỡ...



6/7/10

MỘT NGÀY VĂN MINH ĐÃ MẤT



Hôm trước, tôi có nhắc tới lễ hội hát Soóng Cọ trong entry "Ngày lạnh ở miền đông". Có bạn hỏi, hát Soóng Cọ là gì? Thú thực, tôi chưa nghe Soóng Cọ bao giờ. Giới thiệu với mọi người bài phóng sự "Một ngày văn minh đã mất" của Ngô Mai Phong, đăng trên báo Lao Động cách đây 4 năm. Hy vọng mọi người sẽ có một khái niệm chung về loại hình ca hát độc đáo này của người Sán Chay.

Cuối cùng, tôi cũng tới được Khe Lặc - thung lũng nằm về phía tây dãy núi Thông Châu thuộc xã Đại Thành, huyện miền núi Tiên Yên, Quảng Ninh. Đây là một trong chốn quần cư thanh bình nhất của người Sán Chay - tộc người không đông so với các cộng đồng dân tộc thiểu số Quảng Ninh, nhưng giỏi nghề canh nông và đặc biệt có một nền văn hoá lâu đời không thể trộn lẫn.

"Slạm nhịt hụi" là một phong tục đặc thù của nền văn hoá ấy. Đó là ngày hội của áo khăn, của những làn điệu soóng cọ. Sâu xa hơn, đó còn là ngày hiến tế của tình yêu tự do - một ngày văn minh mà chẳng phải tộc người nào cũng có được...

Thế giới trong giọt nước

Vượt qua hơn 30km đường đèo, Khe Lặc hiện ra tịch liêu, thanh bình trong nắng thu với trùng trùng ruộng bậc thang xanh rượi lúa mùa. Cúi xuống là lúa. Ngẩng đầu lên là lúa. Lúa cấy chen với đá mồ côi. Những mái nhà lợp ngói âm dương rải rác từ triền thung lên sát đỉnh núi phảng phất như khung cảnh một đào nguyên xưa cũ. Khe Lặc vốn là một thung lũng rộng gần 20km2, gồm 5 thôn: Khe Lặc, Khe Mươi, Mui Lạ, Nà Cam, Kéo Cai vừa được tách ra từ xã Đại Dực bên kia chân núi Thông Châu để hợp lại dưới cái tên chung: xã Đại Thành.

Trang phục phụ nữ Sán Chay

Ngoài một bản người Dao vài chục nóc nhà nằm ở triền ngoài thung lũng, gần 200 hộ trong này đều thuộc tộc Sán Chay. Nguồn sống chính của họ là thâm canh lúa nước, chăn nuôi gia súc và trồng rừng. Năng suất lúa mùa ở đây đạt tới 42 tạ/ha, không thua kém so với nhiều khu vực đồng bằng, đủ thấy người Sán Chay giàu kinh nghiệm canh nông và cần cù như thế nào.

Khang - ông bạn "mệnh quan nông lâm" huyện am tường thung thổ, rất mê dân ca Sán Chay và là người đồng hành của tôi trong cuộc đi này, kể lại: Cách đây không lâu, một giáo sư Đại học Kyodo - Nhật Bản có dịp qua Đại Thành khi nhìn thấy ở đây vẫn còn nguyên những chiếc cối giã gạo bằng nước nguồn; nông cụ cầm tay và cả lối kiến trúc những ngôi nhà gạch đất, đã phải thốt lên sao giống đời sống của dân tộc ông 200 năm trước đây một cách lạ lùng.

Riêng tôi, hơn một lần tôi đã từng đọc được những câu soóng cọ nhắc rất nhiều về thuyền bến, sông hồ. Rằng: "Vân Nam con đường về quê mình/ Chim én ngậm hoa bay qua núi/ Gió thổi hoa đào không muốn rơi/ Dù nhớ quê hương khó trở lại". Chẳng nghi ngờ gì, Sán Chay chính là tộc người Sơn Quả của miền Vân Nam - Trung Hoa di cư qua đây từ nhiều đời tao loạn xa xưa và hoà nhập vào cộng đồng các dân tộc thiểu số VN. Chợt hiểu khái niệm về một "thế giới phẳng" chẳng còn gì xa lạ. Nó tựa như một giọt nước dù tan vỡ không ngừng, cuối cùng cũng sẽ lại tròn đầy như bản chất của sự vĩnh cửu.

Ngày hội không có trẻ con

Ngôi nhà người Sán Chay đầu tiên chúng tôi ghé lại nằm khuất dưới một mom đồi giữa bạt ngàn thông mã vĩ. Ông Sằn Sẹc (63 tuổi) ngả vò rượu ra mời khách thay cho nước uống. Trên chiếc chiếu trải giữa nhà, chỉ sau vài ba chén, cả chủ lẫn khách bị cuốn ngay vào câu chuyện về "Slạm nhịt hụi", về soóng cọ. Ông Sằn Sẹc vân vi: "Soóng cọ, tiếng Pạc và (Bạch thoại) nghĩa là xướng ca. Đó là hình thức giống như người Kinh hát đúm.

Ông Sằn Sẹc (phải)

"Slạm nhịt hụi" mà không có soóng cọ không thành hội. Người đi nhất nhất phải biết hát. Thuộc nhiều ca từ dân ca đã khó, biết ứng tác cho hay, làm mê lòng người hát với mình càng khó hơn". Khi rượu đã ngà ngà, mắt chủ nhân bỗng lung liêng, dài như lá ngón. Ông bắt đầu cất tiếng: "Dằn mòi sình/ Sláu nhạ sệch chí dằn mòi chài/ Dằn mòi sình sấu thào vạ phát/ Dằn mòi sình sấu lầy vạ hoi" (Mời muội hát/ Tay cầm viên sỏi mời muội gieo/ Mời muội hát đến hoa đào nở/ Mời muội hát đến hoa mận khai).

"Nhện giăng tơ/ Sớm giăng trước cửa, chiều giăng bờ rào/ Giăng trước cửa sớm chiều thấy/ Giăng ở lòng anh ngày đêm nhớ". "Bẻ lấy rào/ Bẻ cành xanh rào đầu đường/ Bẻ cành xanh rào lối rẽ/ Không cho người bay qua châu khác"... Sằn Sẹc hát rất lâu. Không ngờ ông là cả một kho tàng dân ca Sán Chay lịch lãm, tinh tế, bạo liệt. Càng hát, khuôn mặt ông càng như phiêu diêu và không còn dừng lại cho tôi kịp ký âm nữa. Giờ đây, tôi đã hiểu tại sao "Slạm nhịt hụi" lại mở vào ngày 16.3 và duy nhất chỉ có một ngày vào tiết thanh minh.

Ấy là lúc trời đất trong sáng hoà dịu nhất. Việc ruộng nương đã xong. Tất cả các loài hoa mùa xuân đều khai mãn. Một ngày nhưng người ta phải chuẩn bị từ trước cả tuần lễ. Phụ nữ áo khăn phải chuốt nếp. Tóc chiều nào cũng phải gội bằng hai thứ lá "coóng cạy mộc" và "kệch tái thăng" cho thật thơm, thật óng. Đàn ông phải lo cất rượu thật ngon. Lấy cật giang làm khuôn mũ rồi bọc vải chàm phẳng phiu, sang như mũ quan châu. Ai không có không đi.

Chính hội là 16, song người ta thường lên đường từ một ngày trước đó và có thể rong ruổi qua ngày 17. Nơi người Sán Chay các vùng đổ về là xã Húc Động - huyện Bình Liêu. Nhưng "Slạm nhịt hụi" không đơn thuần chỉ là ngày hội làm sống lại truyền thống folklore của cả cộng đồng. Đó còn là một ngày mà mỗi người đều được trả lại quyền tự do tối thượng.

Cho phép người ta bước qua mọi lề luật nghiệt ngã nhất của đời sống hôn nhân để đến với người mình yêu dấu bất luận giới tính, dù đã có vợ hoặc có chồng. Phong tục cũ của người Sán Chay: Con gái, con trai 10 - 12 tuổi đã cưới xin. Cưới xong, cô dâu vẫn ở nhà cha mẹ cho đến lúc mang thai. Sự non nớt tuổi tác và những tháng năm chưa hoàn toàn ràng buộc chính là quá trình người ta ý thức dần về cuộc hôn phối "từ trên trời rơi xuống". Dù cam chịu, những giấc mơ về một hình bóng khác vẫn tới.

"Slạm nhịt hụi" chính là khoảnh khắc ngắn ngủi để người ta giải phóng những xung cảm chồng chất và dâng mình trọn vẹn cho hạnh phúc. Nó còn là cơ may của những người đàn ông vô sinh hoặc những người đàn bà suốt đời thèm được yêu thương. Bởi lẽ ấy, "Slạm nhịt hụi" cấm kỵ không hát với người cùng bản hoặc cùng vùng. Đã có những cặp dám từ hôn để sống với người mình đeo đuổi. Đấy là trường hợp của Káy Cường ở Khe Lặc 40 năm về trước.

Bây giờ, ông đã ngót tuổi 70. Lại cũng có đứa con ra đời không giấu nổi sau mùa hội ấy. Đó là thân phận của S - vợ một liệt sĩ ở Khe Lục thuộc xã Đại Dực bên kia triền núi Thông Châu. Còn nhân vật của tôi, năm 18 tuổi chính ông trước ngày ra lính vẫn còn đắm đuối về một người phụ nữ Đồng Văn mượt mà như chim trĩ tháng 3 mặc dù cả hai đều đã yên bề.

Ông Sằn Sẹc bâng khuâng: " Đấy là một ngày có thật. Ngày đó, ngả ai người nấy đi. Ngày hội không có trẻ con". Và rồi ông lại cất tiếng hát đầy hàm ý: "Kìn mòi hèn lầu thầu tày tày/Mằn mòi cù ná sái vạ quậy/Sái vạ mào kín thầu xoòng xép/ Thầu lìn mào kín sáu vạ quậy." ( Thấy muội đi đường cúi cúi đầu/ Hỏi muội đi đâu chơi hoa về/ Phơi hoa không thấy cài trên tóc/ Hái hoa sao không cầm trên tay ?).

Vành khăn soóng cọ

Tôi leo lên bản Mui Lạ giữa lưng chừng núi Thông Châu. Lại rượu. Nhưng lần này rót cho tôi là một phụ nữ: Chị Lục Móc Nhì (44 tuổi) - chủ nhà đã có 4 con. Con trai đầu đang học lớp 12. Con gái thứ hai (17 tuổi) đã gả chồng, đang mang bầu vượt mặt. Em đi ngang qua hiên, đôi mắt không vui cũng không buồn. Và tôi không sao đoán được tâm trạng của một cô bé sắp thành thiếu phụ.

Hát Soóng Cọ thời nay

Thời con gái của người phụ nữ Sán Chay tàn mau như hoa cải trời. Chị Móc Nhì bảo: "Ngày xưa, tôi có thể hát suốt ba ngày ba đêm". Nhưng ngày xưa ấy cũng đã hơn 20 năm. Tôi hỏi Móc Nhì: "Lũ trẻ nhà này có biết hát soóng cọ không?", người mẹ lắc đầu. Tôi quay sang Ngân - cậu trai thứ ba (16 tuổi) của chị tóc dựng xơm xơm, cặp lông mày bôi phẩm hồng kiểu tài tử TV Hàn Quốc và tin ngay cái lắc đầu buồn buồn của chị. Chợt nhớ ông Sằn Sẹc bảo: "Slạm nhịt hụi" là ngày không ai được ngáng chân ai. Có điều người phụ nữ nên kín đáo".

Nhưng biết thế nào là kín đáo? - Tôi kể lại chuyện trên cho chị Móc Nhì. Người đàn bà lặng lẽ quay vào buồng mang ra chiếc khăn vấn đầu màu chàm rộng hai muơi phân, dài hai mét rưỡi. Chiếc khăn đã cũ, mấy cô gái hàng xóm sang chơi phải xúm vào vuốt mãi mới phẳng lại. Rồi họ cùng gấp nhỏ dọc chiều khăn. Sau cùng, chị Móc Nhì phải nhờ Lặng - cô gái khéo tay nhất giúp vấn bao quanh vành khăn xanh đã có ngay ngắn trên đầu. Chị Móc Nhì cười cười nhìn tôi: "Đây, nếu đi hội về mà vành khăn này xộc xệch thì là "không kín đáo". Khi đã tuột ra rồi, đàn ông khéo mấy cũng khó mà vấn lại cho ngay ngắn". Ra thế, cái ngày "ngả ai người nấy đi" kia vẫn ngấm ngầm có sự ghen tuông.

Đã mấy chục năm qua, những vành khăn soóng cọ không bao giờ sổ nữa. Lớp trẻ Khe Lặc lớn lên, học hành và những chân trời dài rộng mở ra. "Slạm nhịt hụi", nói như bí thư trẻ xã Đại Thành: " Tuỳ ai đi thì đi" chỉ còn là dịp kèn trống suồng sã của các nhân viên phòng văn hoá huyện.

Tôi từ giã Thông Châu, lòng ám ảnh hoài về vành khăn nhàu nhĩ của chị Móc Nhì và câu hát của người đưa tiễn: "Nhất tiễn anh ra về/ Ra cửa ba bước chúc anh may mắn/ Bạn của ta ta mới tiễn/ Không lời nói tiễn người dưng".

Nguồn:
MỘT NGÀY VĂN MINH ĐÃ MẤT - LAO ĐỘNG




27/6/10

NGÀY LẠNH Ở MIỀN ĐÔNG



Ấy là một ngày mùa xuân giá rét cách đây hai năm. Lâu lắm rồi đất Bắc mới có một trận rét kéo dài và nhiệt độ xuống thấp đến như vậy. Người ta bảo đó là trận rét thế kỷ.

Anh đưa cô con gái vừa tốt nghiệp đại học lên cái huyện miền núi hiu hắt nằm giữa đường từ Hòn Gai đi Móng Cái. Con đường miền đông cô lẻ trong những chuyến đi công tác khắp những bản làng ở đây dường như vui hơn, ấm áp hơn nhờ bóng áo màu rực rỡ của cô gái trẻ trong xe.

Anh thuộc mảnh đất này. Cứ mỗi lần đến đây, anh lại khai phá được một điều gì đó mới mẻ. Khi thì anh thấy màu "vàng man dã", "bắp chân đỏ tía búp chuối rừng", "mưa tía hoa đào", lúc lại bị hút hồn bởi những "cặp mắt dài đuôi lau" dưới vành khăn Soóng Cọ của các cô gái Sán Chỉ.

Chỉ cần nhắm mắt lại là những hình ảnh ấy lại tràn ngập trong đầu.

Con gái anh đã nghe anh kể nhiều lần về lễ hội hát Soóng Cọ và rất háo hức muốn tận mắt chứng kiến một lần. Nay mai, cô lấy chồng, theo chồng sinh sống ở Hà Nội, và chắc sẽ khó có dịp được tận tai nghe những làn điệu Soóng Cọ mộc mạc và dân dã trước khi nó bị văn minh giết chết.

Nhưng trời đã không thương cô. Khi xe đi đến Tiên Yên thì hay tin, đoạn đường đến Bình Liêu bị tắc và không có cách nào để đến được nơi lễ hội đang diễn ra. Con đường này là thế, chỉ cần một tai nạn giao thông, hoặc một sự cố gì đó kiểu như xe chết máy nằm ngang đường thì sẽ tạo vài chục cây số xe nằm nối đuôi nhau, có khi phải nửa ngày mới thông xe được.

Họ rẽ vào một bản người Dao ven đường. Bản nghèo, tê tái trong những lằn roi lạnh buốt của gió núi. Một căn nhà tranh vách đất đứng co ro dưới chân đồi. Anh cất tiếng gọi, một người đàn bà Dao gầy gò ngoài 40 tuổi, gương mặt đen đúa khắc khổ, vết chân chim lộ đầy nơi khóe mắt bước ra.

- Chị có trà nóng không? Có thể bán cho chúng tôi bát trà nóng không?

Người đàn bà lặng lẽ đi nhóm lửa, đun nước và pha trà trong một cái ấm cóc cáy.

Anh và cô con gái đón bát trà nóng hổi vừa thổi vừa uống. Anh hỏi người đàn bà: "Chị tên gì? Chồng con đi đâu cả mà vắng tanh thế này?"

Người đàn bà xưng tên là Tằng Nhịt Múi, góa chồng lâu rồi, ở với ba đứa con trai. Chồng chết trong một lần đi bắt cá gặp lũ. Bốn mẹ con lần hồi nuôi nhau. Khổ lắm. Cơm không đủ mà ăn. Áo ấm không có mà mặc. Mấy đứa con trai đang lên rừng tìm xem có thứ gì ăn được không.

Anh nhìn người đàn bà Dao mà ái ngại. Bộ trang phục Dao cũ kỹ của chị không đủ ấm. Đôi chân trần nứt nẻ đen đúa di di dưới nền nhà đất trong cái giá lạnh ghê người.

Anh lấy cớ đi ra ngoài, vòng xuống bếp. Căn bếp tềnh toàng chỉ có một cái nồi đặt trên ba viên gạch chụm lại. Anh mở nồi và nhìn thấy những củ khoai lang, có lẽ được luộc từ sáng sớm, giờ đã nguội tanh nguội ngắt. Củ to nhất bằng ngón chân cái, các củ còn lại sàn sàn như những viên thuốc tễ.

Quay trở lại căn nhà, anh và con gái dốc gần hết số tiền mà họ mang theo, đưa cho người đàn bà Dao. Anh nói: "Chị cầm lấy mua gạo cho các cháu. Mấy đứa con trai đang tuổi ăn tuổi lớn. Ăn mấy củ khoai lang bé tí thế kia thì lớn thế nào được".

Chị ngỡ ngàng rồi rưng rưng nước mắt cầm lấy.

Anh hỏi: "Nếu có một điều ước thì chị muốn gì?"

Người phụ nữ Dao thật thà: "Chỉ ước có được con trâu thôi"!

Anh nhìn quanh. Đồi núi trập trùng, chẳng thấy bóng ruộng đồng ở đâu. Có trâu thì ích lợi gì? Anh bảo: "Tôi sẽ tặng chị một con bê nhé?"

Người đàn bà gật đầu, không nói gì.

Đấy là thôn Đốc Phẹ, xã Phong Dụ, huyện Tiên Yên. Tằng Nhịt Múi, cái tên nghe trúc trắc và khó nhớ, nhưng nếu dịch nghĩa sang tiếng Việt, thì lại được cái tên đẹp bất ngờ: Đặng Diệp Mai.

Về đến Hòn Gai, anh gọi ông bạn thân đến kể lại câu chuyện của Tằng Nhịt Múi. Bạn anh nói: "Tặng một con bê thì chẳng nghĩa lý gì. Tôi với ông tặng chị ấy một đôi bê đi. Cả bê đực lẫn bê cái. Mấy mẹ con họ nuôi, sau này có sữa bò, lại có thêm bê. Như thế tốt hơn".

Mấy hôm sau họ lên tận xã Thượng Yên Công dưới chân núi Yên Tử mua một cặp bê đẹp như trong tranh. Hai người thuê một chiếc xe tải chở đôi bê lên Tiên Yên. Tằng Nhịt Múi và ba đứa con trai không thể tin được người đàn ông ghé vào mua bát nước trà đã cho họ tiền mua gạo còn quay lại để thực hiện lời hứa của mình.

Anh bảo: "Chị nuôi đôi bê này nhé. Bao giờ chúng sinh ra bê mới, thì báo tin cho chúng tôi. Lúc đó chúng tôi sẽ xây lại cho mẹ con chị ngôi nhà này".

Người đàn bà Dao đưa bàn tay gầy guộc lau những giọt nước mắt và lặng lẽ gật đầu...

Trên đường về, bạn anh nói đùa: "Này, ngày mai ông với tôi quay lại Đốc Phẹ, có khi thấy bà Múi ngả thịt hai con bê đem bán cũng nên"...

...Mấy hôm trước, một cán bộ xã Phong Dụ liên lạc cho anh báo tin mừng: Cặp bê của Tằng Nhịt Múi mà anh tặng hai năm trước đã sinh hạ một chú bê con.

Anh cũng mừng lắm. Anh gọi điện cho tôi: "Tôi sẽ đi xây nhà cho bốn mẹ con Tằng Nhịt Múi. Cậu cũng tham gia nhé. Xây một căn nhà ở đó chẳng tốn kém lắm đâu. Mình tôi cũng lo được, nhưng tôi muốn cậu tham gia. Tằng Nhịt Múi rất đáng được giúp đỡ. Đúng không nào?"

- Vâng, đương nhiên em sẽ tham gia. - tôi đáp. - Em sẽ kể lại câu chuyện này trên blog, để những người biết anh vẫn đọc thơ anh cũng biết và tham gia giúp đỡ chị Múi.

- Thế thì tốt quá. Như vậy thì mấy đứa con trai của Tằng Nhịt Múi chắc chắn sẽ có cuộc sống khác.

Ảnh: Một phụ nữ Dao đỏ (Ảnh minh họa, không liên quan đến bài viết)

THAM KHẢO:
CÁC TÁC PHẨM CỦA NGÔ MAI PHONG


27/5/10

KHÔNG CÓ SÂM



Hãy lật tất cả những cái xác đó lên
Hãy tìm chiếc túi áo nào có sâm
Bản đồ chỉ huy sẽ nằm ở đó

Những chiếc áo màu cỏ úa loang đỏ
Lại bị dao găm rạch toang lần nữa
Không có, vẫn không có

Không thấy chiếc túi áo nào có sâm…

Thơ Ngô Mai Phong



2/1/10

CHIM CÚ



Gửi Phạm Ngọc Nam


Ở cái xứ sở đầy chuột bọ này

Nhiều kẻ sợ mi thế


Lũ chuột bọ sợ mi

Bọn cầu an sợ mi

Những người tử tế cũng sợ


Chuột bọ sợ móng vuốt của mi

Bọn cầu an sợ đôi mắt nhìn thấu bóng tối của mi

Những người tử tế sợ tiếng kêu báo trước điềm xấu


Này chim cú

Sự hôi hám bảo rằng mi là kẻ hôi hám

Chỉ có ngải đắng biết mùi thơm của đôi cánh


Mùa đông rồi

Bao nhiêu loài đã bỏ đi hết

Khu vườn như sân khấu kịch nô phủ đầy sương muối


Còn lại kẻ không mang mặt nạ

Đôi mắt thi nhân lặng phắc

Đậu lim dim như một quả chuông trầm.


NGÔ MAI PHONG


14/11/09

HÀNH



Ngô Mai Phong

Lại qua con sông ấy
Con sông màu nước đen


Có lúc đi trên tàu

Có lúc đi trên thuyền

Có lúc đi men theo bãi

Nhìn rõ đường sá, nhà cửa bờ bên kia
nhưng không rõ mặt những người cùng đi với mình

không biết qua sông rồi đi đâu

Lòng không còn tiếc thương

không vui buồn, không gì cả

con sông không chảy xiết mà đi mãi không tới

Sáng ra mở cửa
lập đông nắng trắng hiên nhà.


2009





16/6/09

CHỢ BIỂN



Thơ Ngô Mai Phong

Chợ ướt như chui từ bụng cá

Đầm đìa sương sớm


Cá trong nón trong nia

Mỗi con mang một hy vọng

Những vi hồng, vẩy trắng

Những mắt thủy tinh ngấn vàng

Những dày mỏng tròn dài mềm mại

Bất ngờ mở ra tươi rói ban mai


Ai mua cá mối

Làm chả thìa là

Ai mua cá đé

Về nướng than hoa

Ai mua riềng già

Về om cá gúng

Ai mua kẹo đắng

Về thả cá kìm

Ai nhặt đinh thuyền

Về kho cá nóc...


Chợ biển nắng loang biến mất

Những cườm tay tròn lẳn lên nâu

Những tờ bạc quăn queo

Làm bằng dớp cá

Những vành khăn âm u

Cất giấu bao niềm xa lạ


Cất giấu cả những chân trời bão tố

Những cuộc đời như khoảnh khắc ban mai...


Ảnh lấy từ đây


29/5/09

NGÀY VUI CỦA NGÔ TIÊN SINH



Những người thân quen với blog VMC trên blogspot cũng như trên Yahoo! 360 độ chắc hẳn nhiều lần đã đọc những bài thơ rất hay không xuất bản ở đâu trừ xuất bản ở đây của một cái tên không xa lạ nhưng cũng không hẳn đã thân quen với đại bộ phận người yêu thơ - Ngô Mai Phong.

Anh có thâm niên làm báo 3 thập niên, từng làm đủ nghề như nấu bếp, pháo thủ... trước khi làm phóng viên truyền hình, rồi làm báo viết. Làm phóng viên báo hình thú vị hơn, nhưng điều duy nhất khiến anh chuyển sang báo viết đó là "không thể chịu được khi cứ phải thòng lọng cái cà vạt vào cổ ngồi cả tiếng đồng hồ trong trường quay rực nóng ánh đèn để điểm tin nổi bật cuối tuần".

Nhưng cái nghiệp viết hóa ra lại hợp với anh hơn. Ở đó anh được tung tẩy ngòi bút với những câu từ đầy ẩn dụ của mình. Tôi vẫn còn nhớ, trong một phóng sự về sự nghèo của huyện Ba Chẽ (Quảng Ninh), anh đã viết như thế này: "còn bây giờ Ba Chẽ như người đàn bà Dao phai duyên, đến một chút trang sức cuối cùng trên người cũng phải cầm bán nốt để ném vào rau cháo".

Anh viết không nhiều, cả năm có khi mới viết một phóng sự, nhưng những thứ anh viết ra thật đáng đọc. Ví dụ như "Nàng dâu Nga ở Cẩm Phả", anh viết về một người phụ nữ Nga đạp qua mọi dư luận để kết hôn với người đàn ông Việt Nam mà chị yêu, rồi đi theo về quê chồng. Anh chồng chẳng may bị tai nạn lao động, cô phải mở quán bán bia trên vỉa hè một con phố ở thị xã Cẩm Phả để nuôi chồng, nuôi con. Thân phận của một người phụ nữ, đặc tính của một dân tộc toát lên trong bài viết, khiến người đọc không khỏi ngậm ngùi.

Anh viết rất nhiều thơ, những vần thơ rất lạ, đầy hình ảnh, nhạc điệu và chứa chan tình yêu. Chẳng hạn như bài này:

BÌNH LIÊU (*)

Ruộng bậc thang trùng trùng
Những ngấn cổ phì nhiêu tràn từ đỉnh núi xuống
Bình Liêu vàng man dã

Tôi nằm thẳng căng trên cỏ
Tiễn biệt đám mây mùa thu đi sứ
Dưới thung kia
Dòng sông sôi sục réo
Lũ bò đực đang quần nhau vì một con cái non tơ
Những thiếu nữ ngũ sắc
Bắp chân đỏ tía búp chuối rừng
Khánh bạc ngân nga vó ngựa
Ru trái tim không sinh diệt của tôi

Ôi, khối đá mồ côi
Mềm mại như làn da báo lửa
Đất thơm quá mùi hương hồi
Thứ tặng vật không cầm nắm được
Tôi phát hiện ra chùm mua gầy gò
Tím đau thương bên lạch nước trong vắt
Tôi đã yêu cùng kiệt
Rửa tội cho tôi là loại hoa không chịu mọc trong vườn

Tôi, cánh chim suốt đời bay một mình
Và phút này mỏi mệt
Đáp xuống cánh đồng tràn ngập nắng cao nguyên
Cánh đồng không em
Không cả giấc mơ buồn...

Dạo này, anh ít viết thơ, dành nhiều thời gian tự học tiếng Hán và gần như chuyển hẳn sang viết thư pháp, vẽ tranh thủy mạc. Anh tìm thấy niềm vui trong sự kết hợp giữa tinh - khí - lực bùng nổ dưới những đường bút lông

Nhưng con người ấy không thả mình chạy khỏi ranh giới của cái nghiệp làm báo mà anh đã chọn và sống chung trong suốt ba thập niên qua. Hôm nay nghe tin anh sẽ đoạt ngôi cao nhất của Giải thưởng báo chí quốc gia 2008 với những bài viết nóng bỏng về nạn khai thác "than thổ phỉ" ở vùng đất quê hương anh.

Chúc mừng anh. Anh luôn là người anh mà chúng tôi yêu quý, ngưỡng mộ và tự hào.
____
(*) Bình Liêu: Tên một huyện ở Quảng Ninh

13/9/08

NẾU BẠN Ở TRONG RỪNG



Bạn bảo đang đi trong rừng

Sao không thấy lối

Bạn bảo đang nướng hạt dẻ

Sao không có khói

Bạn bảo đang vắt mật ong

Sao không mùi thơm

Bạn bảo, đang quần nhau với gấu

Sao không nghe tiếng gầm

Nếu bạn ở trong rừng

Hãy đánh dấu máu hoặc khăn

Cho tôi nhìn thấy

Dù chỉ là khoảnh khắc sao băng...

Thơ Ngô Mai Phong


free hit counters

free hit counters

13/8/08

CHỢ RẰM



Hoa mâm bày kín chợ Rằm
Lối chen quấn quýt hương trầm đưa chân
Người vào lòng bỗng nhẹ thênh
Buồn vui thấm đượm tâm tình nước non

Oản đây bà gói giùm con
Mớ hồng kia nữa cho tròn một vuông
Lụa hàng hễ sắm thì thương
Cô tôi mất trẻ áo hường chưa may
Bao nhiêu ngần lá trầu này
Mẹ tôi xa lắm, nhà thày không ăn

Một năm đằng đẵng nhọc nhằn
Mấy ai quên nghĩa người âm chưa tròn
Trăng còn thì chợ Rằm còn
Đền cong mái cũ dẫu mòn gió mưa
Ngoại như vườn quả cuối mùa
Lửa hương càng đượm mắt thu dịu hiền
Hỡi người thăm thẳm vô biên
Thảo thơm ai đỡ ưu phiền cho ai
Môi trầu xưa mãi phôi phai
Chén son đã nhạt bóng dài áo xiêm

Chợ Rằm anh đi cùng em
Mua hoa cho cả nỗi niềm riêng ta...

thơ của NGÔ MAI PHONG

5/8/08

MONG MỘT NGÀY



Thơ của Ngô Mai Phong

Một ngày...
đường phố chỉ có xe đạp và người đi bộ
Lão bán cáy rong lại về

men theo giấc ngủ trưa


Vách núi Bài Thơ âm âm
tiếng vọng của đầu máy hơi nước

Mùi mồ hôi đá

Chim ó chao phơi lụa ngang chiều

Không nhìn thấy trên tường
những đám mây lừa mị

Một ngày
điện thoại cứng đờ như con cá chết

Mở lại chồng sách vàng ố
không phải nghĩ đến tiền.

Giấc mơ. Tranh của Alexander Jakovlev (Nga)
http://www.arthit.ru/landscapes/0060/0060-landscapes-2.html

17/1/08

ĐỒNG DAO 1


Đậu ơi, đậu bé bỏng
Em từ đâu tới đây
Trên nẻo đồng anh cuối thu

Ngàn mây cuồng nhiệt
Như ngựa hoang
Một thuở đi rồi
Khe suối âm âm mùa đá nẻ

Phép lạ nào làm mưa ấm
Nâu lại thời nâu non
Tim anh đã tặng cho hoa cải trời

Đậu ơi, đậu bé bỏng
Em từ đâu tới đây?

Ngô Mai Phong

 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết