Hiển thị các bài đăng có nhãn du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng

4/12/11

CHÙA VÂN SƠN Ở CÔN ĐẢO




Chùa Vân Sơn được các bậc tiền bối Phật giáo và đồng bào Phật tử trong đất liền phối hợp với nhân dân Côn Đảo xây dựng trên Núi Một (Côn Sơn - Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)từ năm 1964, để đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân địa phương và phục vụ các ngư dân đến Côn Đảo tránh bão; đồng thời cũng là nơi mà người dân địa phương cầu chúc cho các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm trong các trại giam khét tiếng ở đây. Trong một thời gian dài, chùa Vân Sơn không có người chăm nom, hương khói nên theo thời gian đã bị hư hại.

Với sự quan tâm của Giáo hội PGVN và tổ đình Vĩnh Nghiêm (TP HCM) cũng như việc thành tâm cúng dàng của các Phật tử và việc góp sức của toàn thể nhân dân, ngôi chùa Vân Sơn – Núi Một đã được khởi công xây dựng lại cuối tháng 7 năm ngoái.

Chùa Vân Sơn mới đã được khánh thành tối 3.12 vừa qua.

Chùa trông thẳng ra biển với phong cảnh rất ngoạn mục.


Lầu trống

Lầu chuông




Đường lên chùa trải qua 200 bậc thang.




Ban thờ Phật.





27/11/10

TẠI SAO DU LỊCH VIỆT NAM KÉM THÁI LAN?



Tạp chí Economist ấn bản tháng rồi có bài báo cho hay rằng tỷ lệ du khách quay lại Việt Nam chỉ có 5% (tương ứng với con số 50% của Thái Lan). Việt Nam mới chỉ mở cửa du lịch 25 năm, trong khi Thái Lan đã là địa điểm được ưa chuộng từ những năm 1960.

Xét về bề dày kinh nghiệm du lịch giữa hai bên thì rõ ràng sự so sánh có thể khập khiễng. Thái Lan đã và đang là một trong những điểm đến giá trị nhất, “xứng đồng tiền bát gạo” nhất thế giới, đặc biệt du lịch biển và đảo với đặc trưng dễ đi lại, dễ nghỉ ngơi, nước trong như pha lê, khung cảnh đẹp như tranh ở mọi nơi.

Không thể sánh với danh sách các bãi biển ở Thái dù Việt Nam có những bãi biển tuyệt đẹp, song chưa hề được phát triển cho du lịch. Thái còn có những khu rừng già và những đường mòn du lịch rất hấp dẫn dành cho du khách thích đi bộ và khám phá.

Việt Nam cũng có thế mạnh là hình thái du lịch đa dạng, song lại chưa biết cách khai thác theo hướng có lợi. Chẳng hạn như Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, bờ duyên hải dọc dài cả nước, miền Bắc giàu văn hóa, lịch sử và những phố núi như Sapa... Thế nhưng du khách đến Việt Nam lại ít trở lại là vì sao?

Đa số du khách đến Việt Nam đều được giới thiệu hành trình Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh, từ Bắc đến Nam hoặc từ Nam ra Bắc. Cấu tạo địa lý của đất nước khiến nhiều du khách nghĩ đây là một sự lựa chọn lý tưởng và nghĩ rằng họ đã biết hết Việt Nam qua chuyến đi ngắn ngủi chỉ kéo dài ba tuần.

Với loại du khách thích mở mang tầm mắt và ưa phiêu lưu, Việt Nam với họ thế là xong và họ sẽ bắt đầu lựa chọn một nước khác để đến
và tiếp tục khám phá. Những du khách thường xuyên quay lại một điểm đến nào đó thường là loại “chung thủy”, có thể họ phát hiện được một nơi nào đó thú vị và “bị” dính liền với nơi đó, ví dụ như một hòn đảo, một bãi biển, một khu resort...

Thái Lan đầy rẫy những nơi như vậy. Nếu phải chọn giữa Thái Lan hay Việt Nam cho một chuyến du lịch biển hai tuần thì chắc chắn tôi chọn Thái Lan ngay!

Vì vậy tôi không ngạc nhiên khi Thái Lan có tỷ lệ du khách quay lại cao gấp mười lần Việt Nam, bởi họ có nhiều điểm đến khác nhau dành cho những loại du khách khác nhau.

Một trong rất ít những nơi tôi biết ở Việt Nam có khả năng thu hút khách du lịch quay trở lại là Mũi Né. Chỉ cách Sài Gòn 200km, thế nhưng để đến được Mũi Né phải qua năm tiếng ngồi xe mỏi mệt.

Thái Lan, Malaysia và những nước khác có biển tương tự thường có đường bay hoặc đường cao tốc thông suốt có thể đưa du khách đến nơi trong tích tắc.

Đó có thể chỉ là một yếu tố nhỏ, nhưng nếu phải chọn, rõ ràng thời gian và phương thức di chuyển trong du lịch chiếm một điểm rất quan trọng. Xuyên suốt Việt Nam, giao thông là một rào cản lớn. Khoảng cách giữa Nha Trang, Mũi Né, Đà Lạt không là bao, nhưng hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ khiến du lịch trở nên khó khăn.

Quốc lộ 1 chưa bao giờ thôi khiến tôi ngạc nhiên bởi nó là đường... độc đạo đi Phan Thiết, Nha Trang, hơn nữa chỉ là một con đường nhựa chất lượng thấp chạy xuyên qua không biết bao nhiêu thôn xóm với người dân sinh hoạt ở hai bên dọc suốt chiều dài đất nước.

Cũng trên quốc lộ, xe ca, xe tải chen nhau chạy bất chấp nguy hiểm - một cảnh tượng chỉ làm cho những du khách lần đầu đến Việt Nam kinh sợ mà không bao giờ nghĩ đến chuyện quay lại lần nữa.

Chuyến đi Mũi Né gần đây lại cho tôi hiểu thêm một lý do khiến nhiều du khách ái ngại khi đến Việt Nam. Mũi Né có những đồi cát xinh đẹp, leo lên rất là thú, nhưng thú thật là gia đình tôi đã bị một đám trẻ con dưới 10 tuổi la hét, rượt đuổi chúng tôi chạy xuống. Thật là một cảnh tượng bẽ bàng!

Tôi cũng đã nghe rất nhiều người than phiền những người bán dạo liên tục dồn khách như ở trên đèo Hải Vân, khiến du khách thay vì được thong thả đứng trên đèo ngắm cảnh thì chán ngán quay vào xe chỉ sau chưa đầy năm phút.

Thế nên, mặc dù Việt Nam không nằm chung “hạng” với Thái Lan, vẫn còn nhiều việc chúng ta cần làm để bộ mặt du lịch Việt Nam được sáng dần lên.

Đó là ngoài thu hút du khách, Việt Nam cần phải giữ chân du khách để họ vui khi đến đây và sẽ còn vui để trở lại. Đó là chăm sóc, bảo vệ môi trường, thiên nhiên, không ngừng tôn tạo để những phong cảnh đẹp trên khắp đất nước ngày càng thân thiện, an toàn và xứng tầm giá trị vốn có.

JONATHAN HOFF - Q.A dịch

Nguồn:
Hãy trở lại Việt Nam... - Doanh nhân Sài Gòn



30/10/10

QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (5)


Các chàng cowboy trên bãi biển Bali (Indonesia)

Không chỉ có phụ nữ phương Tây mới có mốt đi du lịch tình dục. Các quý bà từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore.. đã bắt đầu gia nhập làn sóng này. Đích đến của họ phần lớn là Thái Lan. Những cửa hiệu mátxa mà nhân viên phục vụ là nam ở thủ đô Bangkok vốn tưởng lầm là dành cho những người đàn ông đồng tính, nhưng hoá ra lại là chốn thư giãn cho các quý bà.

Phó Giáo sư Nither Tinnakul của Khoa xã hội học Đại học Chulalongkorn danh tiếng đã dành thời gian nghiên cứu hiện tượng mại dâm nam núp dưới khái niệm mỹ miều là "văn hoá hộ tống" (escort culture). Đội quân mại dâm nam ở Thái Lan đã lên đến khoảng 30 nghìn người, bằng một phần ba so với số lượng "đồng nghiệp" nữ.

PGS Tinnakul cho hay loại hình dịch vụ này đã và đang "nhập khẩu" hàng trăm thanh niên da đen khoẻ mạnh, lực lưỡng (tiếng Thái là forung) từ Jamaica và Châu Phi để thoả mãn nhu cầu ngày một gia tăng đối với dịch vụ này của phụ nữ thuộc tầng lớp trên ở Thái Lan. Theo ông, phụ nữ Thái sẵn sàng trả 10 nghìn baht/đêm (280USD) để hưởng sự chiều chuộng của những chàng trai hoang dại, "có da có thịt" hơn so với đàn ông Thái.

Thị trường mại dâm nam ở Thái Lan bao gồm cả người Thái lẫn người nước ngoài. Đàn ông da đen "được giá" hơn và khách hàng của họ thường là những quý bà thượng lưu. Gần đây đã xuất hiện cả đàn ông da trắng đến từ Châu Âu. Dân gian bắt đầu chuyển cách gọi những người làm nghề này từ "escort" sang "gigolo" (đĩ đực). Đàn ông mại dâm không chỉ phục vụ phụ nữ Thái, mà còn cả phụ nữ phương Tây và nữ du khách từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore...

Trào lưu này bắt đầu từ phu nhân của các doanh nhân Nhật làm việc tại Thái Lan. Họ tìm đến với các chàng trai Thái trong khi chồng họ bận việc. Quay trở lại Nhật, họ kể cho bạn bè nghe về những thú vui ở Bangkok rồi lập ra các nhóm đi du lịch Thái Lan để mua sắm và tận hưởng. Họ thường tụ tập tại các quán bar ở Ngõ Chạng vạng (Soy Twilight), nơi vốn dành cho dân đồng tính.

Các quý bà Nhật mua nước uống cho vũ công mà họ yêu thích, được họ ôm ấp, vuốt ve. Họ trò chuyện bằng tiếng Anh và tiếng Nhật. Sau đó quý bà có thể mời vũ công về khách sạn. Các vũ công thường phải trả khoản tiền phạt 500 baht để được phép đi ra ngoài với khách. Phụ nữ Nhật thường đi du lịch chung và thuê hai người một phòng. Ban ngày người này đi mua sắm, thì người kia rảnh rang gọi "dịch vụ hộ tống" đến phục vụ tận phòng.

"Dịch vụ lan truyền phần lớn là thông qua bạn bè" - PGS Tinnakul nói. "Họ có mạng xã hội riêng trên Internet, cũng như những website chuyên cung cấp "dịch vụ hộ tống. Rồi họ có những quán bar và địa điểm dành riêng. Rất khó để thâm nhập vào giới này, vì họ xây dựng quan hệ bằng lòng tin". Và cứ thế dịch vụ liên tục phát triển.

So với thời điểm ông Tinnakul bắt đầu nghiên cứu vấn đề này từ vài năm trước, thì đến nay "hầu như không có gì thay đổi, cân bằng giữa cung và cầu vẫn như cũ". Với nguồn cung dồi dào hơn do khủng hoảng kinh tế, thì giá cả trở nên rẻ hơn vì du khách cũng vãn hơn."Nhiều phụ nữ muốn trả đũa thói trăng hoa của chồng. Thế là họ quyết định "ông ăn chả, bà ăn nem". Họ cần làm một điều gì đó để khẳng định sự tự do của mình" - ông Tinnakul nói.

Bản báo cáo của ông Tinnakul trở thành quả bom trong xã hội Thái. Một số người cho rằng nếu đúng là phụ nữ Thái "ăn bánh trả tiền", thì chà đạp lên truyền thống dân tộc. Một chính trị gia tiếng tăm nhận xét, "sự om sòm về những kẻ đĩ đực ngoại nhập làm xói mòn truyền thống gia đình của Thái Lan và khiến đàn ông nghi ngờ vợ của họ".

Đó là chưa kể đến làn sóng khiêu vũ tại đất nước này. Đa phần vũ công đều là những chàng trai trẻ đẹp quấn quýt bên các bà lớn tuổi vào ngày nghỉ cuối tuần. Đương nhiên các quý bà này đều thuộc loại giàu có, và muốn nhiều hơn chứ không chỉ khiêu vũ đơn thuần.

Tinnakul biết rõ ông đã đụng chạm vào một vấn đề nhạy cảm, chỉ ra điều cấm kỵ trong xã hội Thái: "Đây là thực tế xã hội, hãy đọc những tờ báo xuất bản bằng tiếng Anh bạn sẽ thấy rất nhiều quảng cáo về công việc này". Ông Tinnakul đã có lần phát biểu trên kênh ABC của Australia rằng "vấn đề này không được nói đến, đơn giản là vì người ta nghĩ rằng nó không tồn tại trong xã hội Thái, hoặc nghĩ rằng sẽ không hay khi nói về nó".


BONUS



QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (1)
QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (2)
QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (3)
QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (4)



29/10/10

QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (4)



Tại các bãi biển vùng Caribbea luôn có những chàng trai cơ thể lực lưỡng, rắn chắc hy vọng bắt mắt những nữ du khách cô đơn đi tìm kiếm những giây phút vui vẻ. Đội quân "trai bãi biển" đang gia tăng. Nhiều choai choai đã bỏ học để sung vào đội quân này. Tiến sĩ Joan Philips của Đại học London đã tiến hành nghiên cứu thực trạng này.

"Những cậu bé tầm 14-15 tuổi bỏ học ra bãi biển để kiếm tiền đã trở thành hiện tượng phổ biến. Và cách kiếm tiền là quan hệ tình dục với du khách. Chúng nói rằng học hành không giúp được chúng điều gì. Thường thì chúng bắt đầu "đi làm" vào mùa hè và hết hè chúng cũng bỏ học luôn" - bà Philips nói.

Theo nghiên cứu được tiến hành tại Barbados, bà rút ra một điều là du lịch tình dục ở phụ nữ bao gồm: quan hệ tình cảm với đàn ông bản xứ, thưởng công rồi biến thành quan hệ khách hàng. Du lịch tình dục dựa trên trí tưởng tượng mang màu sắc chủng tộc của đàn ông da đen. Người đàn ông da đen khát khao trở thành người da trắng. Và họ trở thành món hàng mới đem bán lấy đồng dollar của du khách.

Bà Philips không đưa ra số liệu cụ thể, nhưng cho rằng cứ một trong năm cặp ngoài bãi biển và một trong ba cặp ở hộp đêm thuộc mối quan hệ này. "Điều đặc biệt là trong vòng 10 năm trở lại đây hiện tượng này ngày một rõ rệt, người ta không bận tâm che giấu nữa". Bà còn cho hay để phục vụ nhu cầu "du lịch tình dục" của quý bà, đã xuất hiện biến tướng là những khu massage dành riêng cho phụ nữ.

Mô hình thông thường là phụ nữ trả tiền vé vào hộp đêm, trả tiền đồ uống, sau đó 2 tuần trước khi về nước, người phụ nữ dẫn trai bao của mình đến khu mua sắm hàng hiệu ở Bridgetown. Các chàng trai cũng không chỉ quẩn quanh từ bãi biển đến khách sạn nữa. Một số chàng còn lên máy bay đi du ngoạn Châu Âu vài tháng và mọi chi phí đều do "khách" bao. "Thậm chí, họ còn được trả công bằng tiền mặt 15 nghìn USD, nhẫn vàng 18-carat, được dẫn đi shopping, ở trong những căn hộ thuê và nhiều "ưu đãi" khác…" - bà Philips cho hay.

Theo bà thì du lịch tình dục đích thị là một sản phẩm của sự chiếm hữu nô lệ. Phụ nữ da trắng luôn muốn "nếm thử" đàn ông da đen, trong khi các trai bao lại hy vọng rằng phụ nữ da trắng sẽ giúp họ cải thiện tình hình tài chính và vị thế xã hội. Nhiều trai bao hy vọng có cơ hội được đổi đời như Winston, người tình của Terry MacMillan.

Sau cuộc tình bãi biển, bà McMillan kết hôn với Winston, đưa anh ta sang Mỹ để bắt đầu một cuộc đời mới với những điều kiện sống tốt hơn cho con cái họ.

Tiến sĩ Anthony Bryan - Giáo sư quan hệ quốc tế tại Trung tâm Bắc-Nam Đại học Miami - công bố bản báo cáo "Du lịch Caribbea: Kích thích động lực tăng trưởng bền vững", khảo sát một số mặt của ngành du lịch, tác động xã hội và văn hoá, vấn đề HIV/AIDS, sự phát triển bền vững và tương lai của ngành này tại các nước đang được coi là thiên đường du lịch. "Một trong những hoạt động nghiêm trọng có thể gây ra tổn hại sâu rộng và đôi khi không thể đảo ngược được đối với kết cấu văn hoá xã hội của các cộng đồng bản xứ chính là du lịch tình dục" - ông cảnh báo.

Phụ nữ da trắng buộc đàn ông ở Caribbea phải đối mặt với vai trò của đàn ông theo truyền thống của họ, hoặc phải vượt qua những thách thức để thoả mãn thú vui của phụ nữ da trắng. Nhà xã hội học người Mỹ Klause de Albuquerque, cho hay nhiều trai bao người bản xứ đã phải vượt qua những điều cấm kỵ để thoả mãn thú vui của các quý bà da trắng.

"Tại quê nhà, những người phụ nữ này có thể bị chê bai nếu có những mối quan hệ bất hợp pháp hoặc quá thoải mái với đàn ông da đen, các chàng trai trẻ hơn hay có nhiều bạn tình. Nhưng khi đi nghỉ mát, họ cho phép mình hưởng những thú vui như vậy mà không bị tiết lộ danh tính, tránh được con mắt của hàng xóm, bạn bè", nhưng "Một số ý kiến cho rằng du lịch tình dục mang lại cơ hội cải thiện kinh tế cho những cộng đồng bị cách ly khỏi nhịp điệu phát triển xã hội. Nhưng nó cũng là một trong những yếu tố góp phần lan tràn HIV/AIDS, bệnh viêm gan B và C và những dịch bệnh khác" - Giáo sư Bryan nhận xét. Quả thực, AIDS đã nổi lên như một thực tế đe doạ sự phát triển bền vững ở Caribbea.

(còn nữa)

QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (1)
QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (2)
QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (3)




28/10/10

QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (3)



"Vừa về đến nhà tôi đã gọi cho Mohammed ngay. Cậu nói cậu cần một đôi giày mới và hỏi tôi có thể gửi cho cậu một ít tiền mặt không? Vẫn mụ mẫm vì niềm hạnh phúc vừa trải qua, nên tôi đã gửi tiền cho cậu" - Sarah kể lại.

Dần dà những yêu cầu ngày một nhiều hơn và đa dạng hơn. Cứ mỗi lần chuông điện thoại reo là Sarah lại thấy thiếu sót với người tình trẻ. Cậu bắt bà hứa phải bay sang thăm cậu. Trong vòng một năm, Sarah quay lại Thổ Nhĩ Kỳ 4 lần. Bà tốn cả gia tài vào tiền vé máy bay và quà cáp cho Mohammed.

Con cái của Sarah ở Anh tỏ ra nghi ngờ về anh bạn trai mới của mẹ. Sarah không dám nói với các con rằng anh ta làm nghề bồi bàn và mới ngoài 20 tuổi. Bà chỉ ỡm ờ rằng "anh ấy" đã ngoài 30 và có công ty riêng. Con cái bà cố gắng thuyết phục rằng đây chỉ là kẻ đào mỏ. Nhưng Sarah cả quyết rằng bà biết rõ việc mình đang làm và đề nghị họ không can thiệp vào việc riêng của bà.

Nằm cùng nhau trong phòng của Sarah tại khách sạn, Mohammed trút bỏ mọi nỗi niềm: cậu phải chăm lo cho bố mẹ già cả, là người duy nhất kiếm tiền nuôi cả gia đình. Những lời nói của Mohammed khiến Sarah cảm thấy có lỗi vì đã lục vấn tại sao cậu lại cần nhiều tiền như thế.

Mỗi năm Sarah bay đến Thổ Nhĩ Kỳ 5 lần trong ba năm liên tiếp. Bà không chỉ cho Mohammad hàng trăm nghìn bảng Anh, mà còn đưa cậu đi nghỉ ở Istanbul và khu nghỉ mát Marmaris. Nhiều khi họ cùng dắt tay nhau dạo phố và bắt gặp không ít ánh mắt ngờ vực, nhưng Sarah phớt lờ. Bà tin rằng bà đang sở hữu một tình yêu đích thực.

Du lịch tình dục không phải là hiện tượng mới mẻ gì đối với phụ nữ Anh. Từ những năm 1890, họ đã dan díu với những chàng trai Pháp hoặc Italia có nước da rám nắng trong các "chuyến du lịch văn hoá" tới Châu Âu. Dưới thời Anh cai trị Ấn Độ (1858-1947), không ít mệnh phụ phu nhân đã vướng phải bùa mê của các chàng trai Ấn Độ mắt đen.

Nhưng hiện tượng này leo thang trong hai thập niên trở lại đây. Tác giả Jannette cho rằng từ những năm 1990 đến nay, hàng trăm nghìn phụ nữ phương Tây đã có quan hệ tình ái với các chàng "phi công trẻ" người nước ngoài. "Họ là những phụ nữ khả kính thuộc tầng lớp trung lưu. Không phải tất cả trong số đó đều vô ý trở thành nạn nhân của bọn đào mỏ. Nhiều phụ nữ đi Gambia và Jamaica chủ yếu là để tiêu khiển" - Jannette nói.

Nicky, một nữ du khách Anh, hết chinh chiến ở Ai Cập lại đến Caribbea, chia sẻ: "Tôi rất hiểu là tại sao ngày càng có nhiều phụ nữ Anh độc thân như tôi tìm kiếm thú vui khi đi nghỉ mát. Thật không có gì dễ bằng việc kiếm một chàng trai trẻ đẹp nói với bạn rằng bạn xinh đẹp và rồi đáp ứng bạn thật nồng nhiệt. Thứ mà họ cần chỉ là một ít tiền mặt hay quà tặng thì tôi lại quá dư thừa. Tôi luôn áp dụng biện pháp phòng ngừa nên không ai bị tổn thương cả. Chị em nên cẩn thận, luôn sử dụng bao caosu, và đừng say mê những chàng trai đó. Dù thế nào thì họ cũng là người lạ".

Trong chuyến đi cuối cùng tới Thổ Nhĩ Kỳ hồi năm ngoái, Sarah gọi cho Mohammed từ sân bay như mọi lần. Nhưng Mohammed không trả lời. Sarah đến khách sạn và sộc thẳng vào căn phòng nhỏ nơi Mohammed ở. Cậu đang nằm trên giường với một bà da trắng khác. Lát sau cậu gọi lại thổn thức thú nhận rằng đó chỉ là phút yếu lòng sai lầm. Cậu vẫn yêu Sarah.

Sarah gặp người phụ nữ đó trong phòng ăn và hỏi rất nhẹ nhàng: Bà nghĩ gì mà làm như vậy? Người phụ nữ kia ngỡ ngàng: "Cậu ta là bạn trai của tôi. Chúng tôi yêu nhau và tôi thường xuyên bay từ Anh qua đây thăm cậu ta. Tôi sẽ ly dị với chồng để kết hôn với cậu ấy". Sarah nói: "Bà thật điên rồ".

Dò hỏi nhân viên khách sạn, Sarah vỡ lẽ ra Mohammed có ít nhất 40 nhân tình da trắng như bà. Cậu ta thật siêu hạng khi sắp xếp để không ai gặp mặt ai. "Hẳn sẽ có người mắng tôi là ngu ngốc, nhưng làm sao có thể cưỡng lại được, khi ta đã cảm thấy già, béo và xấu xí mà vẫn có trai trẻ nói rằng không thể sống được vì thiếu ta và yêu ta như thể ta là điều tuyệt vời của tạo hoá?" - Sarah than thở.

Giờ đây thì Sarah đã tỉnh ngộ, bà cảnh báo phụ nữ trung niên không nên vướng phải lưới tình mỗi khi đi nghỉ. "Bạn sẽ tốn hàng chục nghìn bảng để rồi thấy mình thật lố bịch và bị khinh rẻ. Những kẻ đào mỏ không hề nghĩ bạn xinh mà cười sau lưng bạn!". Jannette bổ sung thêm, các thiên đường tình ái của quý bà cũng là những nơi mà dịch bệnh AIDS hoành hành và không nên khiến mình phải đối mặt với căn bệnh thế kỷ.

(Còn nữa)

QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (1)
QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (2)


27/10/10

QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (2)



Chàng trai bồi bàn dán mắt vào Sarah Jarvis khi bà bước vào nhà hàng. Tim bà đập nhanh hơn, khi cậu ta cúi xuống đặt khăn ăn lên đùi bà. Sarah đã 59 tuổi, có 4 người con trưởng thành và là bà của 4 đứa cháu. Mắt bà chạm mắt chàng bồi bàn và bà tự mắng mình: "Đồ ngu xuẩn, cậu ta không quan tâm tới mình đâu". Nhưng bà đã nhầm...

Ly dị người chồng luật sư từ 15 năm trước, Sarah vẫn rất hấp dẫn với dáng vẻ thanh mảnh và ăn mặc hợp thời trang. Bà chấp nhận hẹn hò với những người đàn ông bụng to đầu hói tầm tuổi bà ở thành phố quê nhà Chester (Anh).

Nhưng khi cùng một bà bạn đến nghỉ tại khu resort Dalaman ở Thổ Nhĩ Kỳ, thì bỗng xuất hiện một triển vọng khác. Cũng giống như hàng vạn phụ nữ Anh khác, bà rơi vào tầm ngắm của đội quân trai bao kiếm sống tại các điểm nóng du lịch ở Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Jamaica, Gambia và Kenya.

Chỉ cần họ vừa xuống khỏi máy bay là vô số chàng trai khoẻ mạnh, vóc dáng săn chắc, da ngăm đen tìm đủ lý do để tiếp cận họ: "Bà thật là xinh đẹp. Tôi có thể tìm giúp khách sạn cho bà được không?". Đó là cái cớ thông dụng nhất để bắt đầu cuộc phiêu lưu tình ái, mà sau đó một số nữ du khách không còn muốn quay trở về nhà nữa.

Barbara Scott-Jones, 61 tuổi, từ Leeds, rơi vào lưới tình ở Jamaica. Khi bà đang dở dang xây dựng căn nhà tình yêu, thì người ta phát hiện ra thi thể của bà.

Chàng công nhân Omar Reid bị khởi tố với tội danh giết người. Cảnh sát tin rằng Barbara có quan hệ với người đàn ông 30 tuổi này và bà bị giết sau khi (hoặc trong khi) chấm dứt cuộc tình.

Số lượng phụ nữ chuyển từ ngã lòng sang yêu trai bao tại nơi đến nghỉ gia tăng mỗi năm. 30% số cuộc hôn nhân "xuyên văn hoá" có kết cục ly dị. Jannette, 50 tuổi, quê ở Surrey, ly dị từ khi mới ngoài 30 tuổi. Vài năm sau, quá chán nản với chuyện hẹn hò ở Anh, bà bắt đầu chu du thiên hạ và có nhiều cuộc tình với với các chàng trai trẻ người bản xứ.

Jannette cho hay, các phụ nữ ly dị hoặc goá chồng ở độ tuổi 40-60 ở Anh rất khó tìm kiếm đối tượng: Đàn ông tầm tuổi họ hoặc là không còn hấp dẫn, hoặc là đang hẹn hò những phụ nữ trẻ hơn.

"Tại những nước như Gambia hay Kenya đàn ông nhiều hơn đàn bà, không những thế phụ nữ có xu hướng kết hôn với đàn ông hơn họ khoảng 10 tuổi. Nên thanh niên ở độ tuổi 18 đến ngoài 20 thường không có đối tượng hẹn hò" - Jannette nói.

Mười năm trở lại đây, nhiều phụ nữ Anh độc thân ở độ tuổi trung niên bắt đầu bay đến những nước này mang theo hàng túi tiền mặt. Các chàng trai thừa thãi sức lực, nghèo đói lại lan tràn, nên chẳng mấy chốc họ hiểu ngay cơ hội béo bở đang ở ngay trước mắt.

Sarah giờ đây đã hiểu được bà đã tự lừa dối mình như thế nào trong chuyến phiêu lưu ở Thổ Nhĩ Kỳ. Bà ngủ với chàng bồi bàn Mohammed hầu như ngay sau khi gặp. "Ăn trái cấm rất tuyệt. Hoặc Mohammed là diễn viên thượng thặng, hoặc cậu ta thực sự thích ân ái cùng tôi" - Sarah nói. "Thử hình dung xem điều gì có thể đến với tôi, một phụ nữ ngoài năm mươi vẫn có cảm giác bị bỏ rơi, không được yêu thương và luôn tự nhủ rằng không bao giờ được đàn ông đoái hoài nữa. Thì nay lại có một chàng trai đẹp đẽ, khoẻ mạnh, van xin tôi lên giường với anh ta?".

Mặc dù đã được bà bạn đi cùng cảnh báo, nhưng Sarah vẫn lao vào cuộc tình với Mohammed. Bà e rằng sẽ không bao giờ có lại cơ hội này. Do đã mãn kinh, không phải lo sợ vướng bầu, nên bà không sử dụng bao caosu. "Giờ đây tôi mới thấy mình thật điên rồ sau khi phát hiện ra Mohammed ngủ với hàng trăm phụ nữ. Tôi có thể bị mắc bệnh truyền nhiễm lây qua đường tình dục, thậm chí là AIDS".

Mohammed nói cậu mới 22 tuổi. Từ khi gặp cho đến hết kỳ nghỉ của bà, họ hầu như không rời nhau. Sarah như bay trên chín tầng mây: "Cậu ấy nhìn vào mắt tôi, rưng rưng nói: "Tôi muốn già cùng em và được chăm sóc em từ nay đến cuối đời". Khi tiễn bà ra sân bay, Mohammed nước mắt lưng tròng, bắt bà phải hứa sẽ viết cho cậu mỗi ngày và sẽ quay trở lại.

(còn nữa)

QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (1)



26/10/10

QUÝ BÀ ĐI DU LỊCH "TƯƠI MÁT" (1)



Phụ nữ đi "du lịch tình dục" (DLTD) đang trở nên phổ biến trong thế giới ngày nay. Con số thống kê cho hay mỗi năm có khoảng 600 nghìn phụ nữ đến các nước khu vực Caribbea để tìm kiếm sự chăm sóc và tình yêu của đàn ông.

DLTD ở đàn ông và đàn bà là những hiện tượng hoàn toàn khác biệt. Phụ nữ không đến các quán bar, quán nhảy tìm "đối tác", họ cũng không tham dự vào các sex tour. Hình thức du lịch này chủ yếu dành cho những phụ nữ trung niên, hoặc đơn thân, hoặc không hài lòng về cuộc sống gia đình.

Trong khi đàn ông chọn Châu Á làm điểm đến cho DLTD, thì phụ nữ đi Nam Âu (Italia, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Croatia, Tây Ban Nha), khu vực Caribbea (Jamaica, Barbados, CH Dominica), Châu Phi (Genoa, Kenya), Châu AÁ (Bali - Indonesia, Phukhet - Thái Lan). Nepal, Marocco, Fiji, Ecuador, Costa Rica đang nổi lên như những địa chỉ mới.

Khoảng 17% dân số Jamaica sống dưới mức nghèo khổ, du lịch và nghề nông là những nguồn thu chính của họ. Sân bay Montego Bay chật cứng thanh niên trai tráng mỗi khi có chuyến bay từ Canada hay London hạ cánh. Họ đến để tìm "những chai sữa cần được đổ đầy ngay lập tức". Đó là cách mà họ gọi những phụ nữ ngoại quốc có làn da trắng. Dân địa phương cho rằng phụ nữ trung niên đến đây để tìm "những cây tre lớn" vì sức mạnh chăn gối của đàn ông da nâu đã nổi tiếng trên toàn thế giới.

Phụ nữ trung niên từ các nước giàu không còn rực rỡ như các ngôi sao điện ảnh, song họ có không ít tiền và có như cầu được hưởng thụ. Vậy nên DLTD của quý bà không còn xa lạ ở các nước thuộc thế giới thứ ba và đã hình thành khung giá dịch vụ.

Theo các chuyên gia du lịch Jamaica, thì giá một giờ là 30 USD và một đêm là 150 USD. Ngoài ra các chàng trai địa phương cũng thích nhận đồng hồ, áo sơ mi, bật lửa và những món quà khác. Phụ nữ đến từ Ottawa, thủ đô Canada, được thừa nhận là hào phóng nhất.

Những người phụ nữ thích DLTD được gọi bằng nhiều cái tên ở những nước khác nhau: Shirley Valentine ở Anh, Longtail ở Bermudas, taxi vàng ở Nhật, chai sữa (tóc vàng) và stella (tóc đen) ở Jamaica.

Tại Barbados người ta dùng hẳn một cái tên dài là "hội chứng thư ký Canada" để chỉ những người phụ nữ này. Các thanh niên hành nghề phục vụ quý bà cũng có tên: kamakia (lưỡi câu cá mập) ở Hy Lạp, galebovi (hải âu) ở Croatia, shark (cá mập) ở Costa Rica, Kuta Cowboy và pemburu-bule (săn da trắng) ở Bali, Marlboro Men ở Jordan, bomsa hay bumster ở Gambia, sanky panky ở CH Dominica, grinda hunter ở Ecuador, brichero ở Peru. Trai CH Dominica được coi là có trình độ chuyên nghiệp danh bất hư truyền.

Thực ra DLTD ở quý bà được nhắc đến từ giữa thế kỷ 19 tại Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ. Phụ nữ Mỹ thích những người da đỏ Bắc Mỹ, còn phụ nữ Châu Âu thì ưa các chàng trai Thổ khoẻ mạnh. DLTD bị lãng quên trong một thời gian dài từ đại khủng hoảng kinh tế trong thập niên 1930 cho đến tận đầu thời kỳ "cách mạng tình dục" thập niên 1960. Thời đó chỉ có vài phụ nữ "dũng cảm" từ Anh, Pháp, Tiệp Khắc và Mỹ đến Ấn Độ, Nepal và Thái Lan để tìm cách chăn gối với người bản xứ.

Cùng với làn sóng nữ quyền thứ hai và sự tăng trưởng nhanh chóng của du lịch trong thập niên 1960, phụ nữ mới lại nghĩ đến chuyện DLTD. Phụ nữ Canada đi đầu trong trào lưu này. Cũng nhờ họ mà các hòn đảo ở khu vực Caribbea và đàn ông Jamaica, Barbados trở nên nổi tiếng như hiện nay. Sang thập niên 1990, phụ nữ Nhật Bản, Đài Loan gia nhập trào lưu và tìm đến Bali (Indonesia) hay Phukhet (Thái Lan).

Vài năm trước, một số nhà xã hội học người Mỹ đã phỏng vấn 240 phụ nữ đi nghỉ ở Negril (Jamaica) và hai resort nổi tiếng của CH Dominica, thì thấy 30% trong số đó có quan hệ tình cảm với người bản xứ. Trong số đó lại có đến 60% phụ nữ cho rằng các chàng trai quan hệ với họ là vì tiền.

Tất cả đều nói họ không đến để mua sex mà coi đó là một kiểu trợ giúp kinh tế cho đội ngũ nhân viên của resort, thậm chí là đóng góp vào nền kinh tế địa phương. Một số phụ nữ cho rằng họ tham gia DLTD chỉ là tình cờ, nhưng họ thích được hưởng thụ sự chăm sóc và thái độ ân cần mà đàn ông bản xứ mang lại cho họ.

(còn tiếp)

Ảnh: Cảnh trong phim Pháp "Vers le Sud" về các quý bà đi du lịch tươi mát.


BONUS




9/7/10

UZBEKISTAN VÀ CON ĐƯỜNG TƠ LỤA


Nằm trên con đường tơ lụa huyền thoại, Uzbekistan – nước cộng hòa Trung Á thuộc Liên Xô trước đây, đang nỗ lực tìm lại ánh hào quang đã mất thông qua những hoạt động quảng bá rầm rộ những giá trị văn hóa, kiến trúc, tôn giáo... vô giá của mình để thu hút du khách từ khắp nơi trên thế giới. Đã 15 năm qua, Uzbekistan bền bỉ tổ chức Hội chợ Du lịch Quốc tế Tashkent. Đây là diễn đàn du lịch lớn nhất ở khu vực Trung Á, thu hút các hãng hàng không và lữ hành từ 25 nước trên thế giới.

Cứ mỗi khi mùa thu phủ màu vàng huyền diệu lên cảnh sắc thiên nhiên, là Tashkent - thủ đô Uzbekistan lại rộn ràng đón các chuyên gia du lịch quốc tế đến tham dự Hội chợ Du lịch Quốc tế Tashkent (Tashkent International Tourism Fair - TITF). Hội chợ lần thứ 15 diễn ra vào cuối tháng 10.2009 với chủ đề “Du lịch theo con đường tơ lụa” còn là hoạt động kỷ niệm 2.200 năm thành lập thành phố Tashkent. Malaysia được chọn là nước đối tác của Uzbekistan trong TITF lần thứ 15, còn Malaysia Airways – 1 trong 6 hãng hàng không thế giới được Skytrax xếp hạng 5 sao là nhà tài trợ chính cho sự kiện.

Du lịch luôn là là một loại danh thiếp đối với bất cứ đất nước nào: số lượng du khách đến là một trong những chỉ số chính về sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế đối với sự ổn định, thịnh vượng và đặc biệt còn là sự công nhận tài sản văn hóa và tinh thần của dân tộc. Ngày nay, Uzbekistan là một trong những điểm đến hàng đầu của các hãng lữ hành Châu Âu, Châu Á và Châu Mỹ. Với tiềm năng du lịch độc đáo, bản sắc dân tộc không bị pha trộn và hạ tầng phát triển nhanh, Uzbekistan còn chinh phục du khách bằng sự hoang dại của thiên nhiên dọc theo Con đường Tơ lụa huyền thoại.

Uzbekistan có truyền thống hợp tác thương mại và văn hóa lâu đời với nhiều nước trên thế giới. Truyền thống này khởi nguồn từ thời xa xưa, khi vào thế kỷ thứ hai trước công nguyên, khi các đoàn buôn bằng lạc đà xuất hiện và hành trình qua những điều kiện địa hình và địa lý phức tạp và khắc nghiệt. “Con đường Tơ lụa” xuất hiện từ đó với trọng trách kết nối hai đầu của một thế giới mà khi đó người ta vẫn còn ít biết: một đầu ở bờ biển Thái Bình Dương (Trung Quốc và Nhật Bản ngày nay); đầu kia là những nước Địa Trung Hải. Con đường Tơ lụa không chỉ thúc đẩy phát triển thương mại giữa Đông và Tây, nó còn là tác nhân kích thích trao đổi tôn giáo, văn hóa, phong tục tập quán và hàng thủ công mỹ nghệ. Uzbekistan nằm ở trung điểm của con đường đó.


Uzbekistan sở hữu một số lượng lớn những công trình lịch sử và kiến trúc được coi là di sản vô giá của nền văn minh nhân loại. Các thành phố cổ như Bukhara và Shakhrisabz, các tòa nhà của Samarkand và Ichan-Kala ở Khiva được đưa vào danh sách Di sản Thế giới của UNESCO, được trùng tu và bảo tồn cho các thế hệ mai sau.

Nhận thức rõ tiềm năng du lịch to lớn đối với sự phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa của đất nước, Uzbekistan đã thông qua Luật Du lịch tạo cơ sở pháp lý và môi trường thông thoáng cho hoạt động của các hãng lữ hành quốc tế và nội địa. Chính phủ Uzbekistan thông qua chương trình phát triển dịch vụ giai đoạn 2006 – 2010 cùng những chính sách nhằm phát triển, tự do hóa và thu hút nguồn đầu tư nước ngoài vào du lịch. Không những thế, Tổng thống Islam Karimov còn đích thân ban hành nghị quyết “Về những biện pháp bổ sung để tăng cường sự phát triển trong lĩnh vực dịch vụ ở CH Uzbekistan tới 2010”.



Kết quả là hiện nay có hơn 610 tổ chức du lịch đang hoạt động tại nước này, 163 công ty được phép kinh doanh khách sạn và 90% trong số đó là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Từ năm 2008, khoảng hơn 60 công ty lữ hành mới đã đăng ký hoạt động, phản ánh sự tăng trưởng năng động của thị trường.

Uzbekistan đặc biệt chú trọng phát triển hạ tầng du lịch đạt trình độ quốc tế với phương châm không chỉ cung cấp cho du khách dịch vụ cao và chuyên nghiệp, mà còn cả sự độc đáo mang dấu ấn riêng. Thừa hưởng hệ thống đường sá (bao gồm đường bộ và đường sắt) khá tốt từ thời Xôviết nối Tashkent với các thành phố di sản, Uzbekistan chú trọng nâng cấp chất lượng dịch vụ giao thông.

Từ nay đến năm 2015, Uzbekistan lên kế hoạch nâng cấp 280 km đường sắt. Sở hữu mạng đường bộ cao tốc dài hơn 42 nghìn km, Uzbekistan đang xây dựng thêm 557 km đường loại chất lượng tốt nhất trong năm nay, bao gồm cả những trung tâm du lịch, khu cắm trại, trạm xăng và những dịch vụ khác ở hai bên đường. Điều này sẽ cho phép các công ty lữ hành địa phương mở những tour hoàn toàn mới, tới những địa điểm còn ít người biết đến.



Song song với đó là việc xây dựng hệ thống khách sạn. Năm 2008, nước này đã xây dựng 20 khách sạn lớn và trung, 30 khách sạn nhỏ. Các khách sạn vốn có ở Tashkent, Samarkand, Urgench, Shahrisabz được nâng cấp, mở rộng. Kế hoạch trong năm 2010 của Uzbekistan là xây dựng 56 khách sạn mới nhằm mục tiêu đón 2,2 triệu du khách/năm. Đến năm 2010, quỹ hỗ trợ việc làm và Ngân hàng Mikrokreditbank cung cấp 26,335 tỉ soum (165 triệu USD) cho chương trình phát triển dịch vụ tại các địa phương có tiềm năng du lịch.

Xu hướng du lịch hiện đại cho thấy càng ngày du lịch càng được cá nhân hóa, phân khúc và tập trung vào những nhóm nhỏ. Ngày càng có nhiều người thoát khỏi du lịch thăm thú và mua sắm chuyển sang du lịch học hỏi văn hóa, tinh thần của người dân, làm quen với cuộc sống, truyền thống, phong tục tập quán của họ.

Xét về khía cạnh này thì Uzbekistan là một mỏ vàng lộ thiên hầu như chưa được khai thác. Uzbekistan có bề dày lịch sử và văn hóa vô cùng rực rỡ với những thành tựu về kiến trúc, tôn giáo và thiên văn học. Âm nhạc và trang phục của người Uzbekistan rất đặc sắc. Ẩm thực của Uzbekistan độc đáo với món thịt nướng (shashlyk) và cơm trộn (plov) nổi tiếng thế giới. Bên cạnh đó, Uzbekistan cũng bắt đầu quan tâm đến các tour du lịch sinh thái.



Hai năm qua, Uzbekistan quan tâm đến Việt Nam như một thị trường mới đưa du khách đến Uzbekistan và đón du khách Uzbekistan đến Việt Nam. Thông qua ông Lê Văn Nghĩa, Lãnh sự Danh dự Uzbekistan tại Việt Nam, Tổng cục Du lịch Uzbekistan đã mời đại diện của 5 hãng lữ hành Việt Nam tham dự TITF 15. Với mối thiện cảm với Việt Nam từ thời Liên Xô, người Uzbekistan đã bày tỏ mối quan tâm không giấu diếm đến gian hàng Việt Nam tại hội chợ. 200 chiếc nón lá được phát hết veo trong 10 phút đầu tiên sau khi gian hàng được mở.

Nhu cầu du lịch giữa Việt Nam và Uzbekistan là có, nhưng việc chưa có đường bay thẳng giữa hai nước đang là trở ngại lớn. Đại diện các hãng du lịch Việt Nam đều cho rằng việc du khách phải trung chuyển ở Bangkok hay Seoul khiến cho thời gian và chi phí vận chuyển tăng là khó khăn chính khiến tiềm năng du lịch Uzbekistan – Việt Nam chưa được khai thông.

Lãnh sự danh dự Lê Văn Nghĩa khẳng định rằng lãnh đạo hai nước đều rất quan tâm đến phát triển hợp tác mọi mặt giữa hai nước, những khó khăn sẽ được giải quyết và việc đông đảo du khách Việt Nam đến Uzbekistan thưởng ngoạn Con đường Tơ lụa không phải là điều xa vời.



ENTRY CŨ
UZBEKISTAN - MÙA THU
NGƯỜI ĐẸP UZBEKISTAN



8/7/10

LỜI TRÊN BIA MỘ



Những vần thơ mà nghệ nhân khắc gỗ Stan Ioan Patras khắc trên các bia mộ trong nghĩa trang làng Sapanta (Romania) .

1. Nằm ở đây là tôi Johnny Voher
Người đời gọi tôi là kẻ xảo quyệt
Tôi sống được những 80 năm

Cả đời chả làm điều tốt cho ai
Nếu có trở lại làm người
Cũng chả làm điều tốt cho ai.


2. Tom Rahet đau khổ vĩ đại ở đây
Ngủ trong tấm áo gỗ
Đã từng sống cuộc đời vô dụng:
Lang thang đầu đường xó chợ
Sống như lợn, thở hắt ra như chó
Và đếm người kế thừa.

3. Nhân viên phòng thí nghiệm Villi Do nằm chỗ này
Cũng là nơi nắm xương tàn của ông yên nghỉ
Ông muốn uống H2O
Nhưng lại uống H2SO4.

4. Mộ của người bồi bàn

Và cuối cùng thì Thượng đế
Cũng vẫy anh lại gần.


5. Mộ của tu sĩ

Tu sĩ, quan tòa và nhà thơ Liverston
Nằm đây dưới sức nặng của tội lỗi
Sinh thời ông đã kịp phạm luật
Của trời, của người và của thơ.


6. Mộ của bác sĩ

Ông đi ra giếng và bị gẫy cổ
Đời ông đáng quý với chúng ta siết bao
Giá như ông chăm đến thăm bệnh nhân hơn
Để người hầu nhà ông đi quẩy nước.


7. Mộ vợ

Không anh không đi theo em đâu:
Chắc chắn em yêu giờ này nơi địa ngục

***
Villi trục trặc với vợ
Và Thượng đế đã đón nàng đi
Nhưng Villi ngồi bên mộ vợ
Tuyệt vọng khóc than
Hàng xóm thấy thế bàn tán
Bản chất khóc than của chàng:
Lệ càng rơi xuống bao nhiêu
Đất càng chặt thêm bấy nhiêu.


8. Lời của người vợ ra đi

Vĩnh biệt anh, em đang hành trình
Đến miền đất xa nơi không cần rửa bát,
Không xào nấu, pha trà, may vá
Tất không phải khâu, chẳng phải lau sàn

Nơi đó em được tự quyết, được bình yên, vui vẻ
Vì người không ăn, không phải nấu bao giờ
Đừng khóc thương em, đừng gọi em quay lại
Em sẽ nghỉ ngơi, nghỉ ngơi đã đời

Nguồn:
Веселое кладбище



7/7/10

NGHĨA TRANG KHÔNG BUỒN



Làng Sapanta nằm ở vùng núi hẻo lánh của Romania, nhưng khá nổi tiếng vì khu nghĩa trang mà ai đến cũng phải mỉm cười. Một người đàn ông làm nghề khắc gỗ tên là Stan Ioan Patras đã biến khu nghĩa trang thành biên niên sử của làng, thành tác phẩm nghệ thuật và di tích nổi tiếng toàn thế giới. Trong suốt đời mình ông đã khắc gần 700 bia mộ với những hình vẽ mô tả đúng nghề nghiệp hoặc nguyên nhân cái chết của người đã khuất.

Stan Ioan Patras qua đời năm 1977, nhưng công việc của ông được người học trò Dimitriu Pop tiếp tục. Sinh thời, Patras không có tên, mà được gọi là “kẻ nát rượu”. Nhưng hiện nay, kẻ nát rượu này đang nuôi sống cả làng vì khu nghĩa trang vui vẻ mang đến cho làng khoản tiền 150 nghìn USD mỗi năm.
















(hãy quay lại để đọc update lời ghi trên bia mộ)

Nguồn:
Веселое кладбище


 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết