Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

22/5/11

SỰ CHỊU ĐỰNG CỦA NGƯỜI VỢ



Phần Dominique Strauss-Kahn đã coi như phần nào "yên", được tại ngoại hầu tra tuy là tù giam lỏng, ngồi chờ các luật sư của mình bóp óc tìm cách bào chữa sao cho nhẹ tội. Bây giờ mọi ống kính quay về rình "người đàn bà đáng thương nhất thế giới" trong những ngày này và sắp tới: Anne Sinclair, vợ của Strauss-Kahn.

Vai trò của Anne trong vụ án Strauss-Kahn

Là khuôn mặt được mọi người dân Pháp biết và yêu mến, ngày 20.5, Anne Sinclair đã lên trang nhất của hầu hết báo Pháp và một số báo ngoại, bởi vì số phận Anne gắn mật thiết với Strauss-Kahn, khiến dân Pháp đam mê. Báo Le Monde cho rằng đây chắc chắn là cơn khủng hoảng nghiêm trọng nhất bà phải đối phó... Có báo còn bỏ cả hình ảnh Liên hoan điện ảnh Cannes để đưa Anne lên trang nhất, hay dành cả 6 trang để viết về cuộc đời bà. Trước thảm kịch một tháng, người ta đã tưởng tượng Anne trong vai trò phu nhân số 1 của Pháp. Tờ New York Times cũng ghi chép dài dòng về con đường lập thân của Anne với nhiều lời khen: đẹp, nhà báo tài năng, con nhà giàu sụ, mẹ của các con thành đạt, bây giờ lại rơi vào danh sách những người đàn bà phải chịu đựng các phanh phui bẩn thỉu...

Cho đến giờ, cựu ký giả nữ của mục "7 trên 7" danh tiếng đề cập rất ít về vụ việc này và sống nhờ nhà bạn để tránh phó nhòm luôn rình rập trước nhà mình, không thể cố thủ trong sự im lặng thận trọng lâu dài nữa, bởi sự làm chứng của bà sẽ cho phép bồi thẩm đoàn và ông toà hình dung được về con người thực của Strauss-Kahn. Dày kinh nghiệm truyền thanh, truyền hình cũng như trên mạng, sự can thiệp của Anne Sinclair cho phép lập lại hình ảnh con người bình thường cho Strauss-Kahn và đối đầu với trò "siêu truyền thông" bất lợi trong vụ việc. Ngày 21.5, bà Anne đã gom 5 triệu USD tiền cổ phiếu từ việc bán nhà ở Washington đóng vào khoản thế chân bảo lãnh tại ngoại cho ông chồng, nâng tổng số tiền thế chân này lên 6 triệu USD. Số tiền này được xem là một trong những khoản tiền thế chân tại ngoại lớn nhất trong lịch sử xét xử của Mỹ.

Không ai có thể nói chính xác chuyện gì đã xảy ra giữa Strauss-Kahn và cô làm phòng trong thời gian từ 12 giờ đến 12 giờ 29 ngày 14.5, phải đợi lời tuyên bố chính thức của Strauss-Kahn mà cho đến nay chưa biết. Từ hôm đầu tiên vụ việc, Anne đã khẳng định rằng đây là một cú dàn dựng. Niềm tin đó dựa vào 20 năm hôn nhân, hình ảnh hai vợ chồng luôn hợp nhất qua nhiều sóng gió, nên Anne sẽ mang lại cho chồng sự nâng đỡ quan trọng. Sự chân thật của Anne, được củng cố bằng tính chuyên nghiệp hoàn hảo, có thể sẽ làm công chúng Mỹ không hề biết bà từng là ký giả rung cảm.


Thân thế người vợ thứ ba của Strauss-Kahn

Sinh năm 1948 ở New York, cháu của Paul Rosenberg (nhà buôn hàng nghệ thuật Do Thái), và con duy nhất của Robert Schwartz (mà Sinclair là bí danh thời kháng chiến, truyền lại cho con gái), Anne được hưởng gia tài kếch sù. Cử nhân luật, Anne tốt nghiệp Sciences-Po Paris. Ly dị với nhà báo truyền thanh Ivan Levai, bà hành nghề nhà báo từ đầu những năm 70, là ngôi sao của màn ảnh nhỏ những năm 90, và được tôn vinh là có tay nghề thành thạo, Anne lập danh cho mình qua chương trình "7 sur 7" của TF1 trong suốt 13 năm.

Bà gặp Strauss-Kahn năm 1989 và tái giá 2 năm sau, đã mang lại cho chồng sự thoải mái vật chất và mở ra cho ông địa chỉ của nhiều chính trị gia và nhà trí thức, kết quả của những năm làm việc nghiêm chỉnh. Đặc biệt năm 1991 đó, Anne Sinclair được Thị trưởng Pháp chọn làm hiện thân cho Marianne (biểu tượng của nước Pháp), nên lễ cưới thân mật được diễn ra dưới bức tượng bán thân của chính cô dâu. Tám năm sau khi Strauss-Kahn làm bộ trưởng Kinh tế, Anne giải nghệ, đóng vai người đàn bà sát cánh trong sự nghiệp của chồng.

Năm 1999, Strauss-Kahn từ chức bộ trưởng Kinh tế sau vụ việc Mnef (*), Anne ở đó nâng đỡ chồng mặc dù có sự nghi ngờ, và việc ông từ chức vội vàng. Hai năm sau mới được thanh minh. Gần 10 năm sau, bà lại hỗ trợ chồng trong vụ lem nhem tình ái với Piroska Nagy. Dù bị lừa, bà vẫn viết trong blog của mình là "chúng tôi vẫn yêu nhau như ngày đầu". Từ nhiều tháng nay, trên blog, Anne đã phát tán nhiều câu ngắn về cuộc bầu cử tổng thống 2012, nâng đỡ tham vọng của chồng. Bây giờ bằng sức lực và lòng tin thẳng thắn, vững chãi của mình, bà sẽ "nhân tính hoá" lại Strauss-Kahn đang bị xem là tội phạm.

Nguy hiểm của truyền thông

Điều buồn cười là bây giờ Strauss-Kahn ngã xuống, nhiều bà lại lên tiếng đã từng bị ông quấy nhiễu. Riêng trường hợp nhà văn Tristane Banon, người kể đã từng là nạn nhân của Strauss-Kahn năm 2002, thì cũng có nguồn tin rằng trong một quyển sách có đoạn cô phỏng vấn Strauss-Kahn, sau bị Strauss-Kahn cho người liên hệ với NXB rút bỏ, Tristane Banon thề sẽ trả thù. Còn các phương tiện truyền thông thì càng ngày càng nguy hiểm, họ tuyên bố nhanh quá, giật gân quá. Họ đã kiểm chứng để biết đâu là sự thực chưa? Tờ Libération đã tự làm kiểm điểm trên trang nhất - chủ biên Nicolas Demorand viết trong “Tính dục, truyền thông và tranh cãi”: “Dù phải lội ngược dòng thời đại và ngược lại các thúc đẩy đó đây, Libération tiếp tục nguyên tắc đầu tiên, là tôn trọng đời tư của quý ông, quý bà chính trị gia. Đó là nguyên tắc đạo đức giả đối với một số người, nhưng nó là chính yếu”.

Trong khi tờ New York Times chê truyền thông Pháp là theo “luật im lặng”, là trộn lẫn các thể loại, là quan hệ loạn luân giữa truyền thông và chính trị.

Từ mấy hôm nay, Twitter hay Les Guignols (**) đều đem vụ Strauss-Kahn ra giễu cợt. Báo Le Canard enchainé (Con vịt bị buộc) chơi chữ, đổi khẩu hiệu “Election, ... piège à cons” (Bầu cử là cái bẫy cho bọn ngu) thời bạo động tháng 5.1968 thành “Erection, piège à cons” (Cương dương là cái bẫy cho bọn ngu).

Bernard Henri Lévy, bạn Strauss-Kahn từ 30 năm, cho rằng những người cứ nói “biết từ lâu” rồi, mà lựa lúc Strauss-Kahn sụp xuống đất, mới mở gói ra, là đáng tởm. Giữa thông tin và đại chúng hoá đời sống chính trị, ranh giới rất mong manh. Nhưng điều 9 luật dân sự không có chỗ cho sự diễn dịch tùy tiện: “mọi người đều có quyền được tôn trọng đời tư”.

Với Strauss-Kahn, sự nghiệp đã nằm sau lưng. Chỉ tội cho Anne, nhiều việc nhiêu khê chỉ mới bắt đầu. Người ta chờ đợi sự can thiệp xứng đáng của bà.

Xuân Sương (Paris, 5.2011)


(*) Vụ MNEF (Mutuelle Nationale des Etudiants de France, quỹ bảo hiểm xã hội của sinh viên Pháp): Strauss-Kahn bị quy kết lấy tiền quỹ do tạo công việc ảo.

(**) Les Guignols de l’info, thường gọi tắt Les Guignols, là chương trình tivi trào phúng với hình con rối, phát trên Canal+ từ 1988. Mô phỏng tin tức truyền hình, đây là chương trình biếm họa thế giới chính trị, và nói chung, xã hội Pháp cũng như thế giới hiện tại.

Nguồn:
Nỗi chịu đựng của vợ cựu tổng giám đốc IMF



19/5/11

DOMINIQUE STRAUSS-KAHN: TỪ "THIÊN ĐƯỜNG" XUỐNG THẲNG "ĐỊA NGỤC"


Quá trình rơi xuống địa ngục của ông Dominique Strauss-Kahn, một trong những nhân vật sáng chói nhất trên chính trường nước Pháp, một trong những nhân vật có thế lực nhất toàn cầu, chỉ mới bắt đầu.

Bị còng hai tay sau lưng và bị hai cảnh sát xốc nách đi, rồi bây giờ bị tống giam với những cáo buộc nặng nề về cưỡng bức tình dục, Dominique Strauss-Kahn, một trong những nhân vật sáng chói nhất trên chính trường nước Pháp, một trong những nhân vật có thế lực nhất toàn cầu, đã rơi xuống tận đáy, tiêu tan hoàn toàn tham vọng trở thành Tổng thống tương lai của nước Pháp.

Rơi xuống địa ngục

Cho tới ngày 16.5, các luật sư của cựu bộ trưởng Kinh tế Pháp vẫn hy vọng là ông sẽ được tại ngoại trong thời gian điều tra và trong thời gian đó, họ sẽ tìm ra đủ bằng chứng để minh oan cho ông. Đó cũng là hy vọng của gia đình, của Đảng Xã hội Pháp và dư luận Pháp nói chung, bởi vì vụ này đang làm tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh nước Pháp.

Nhưng trước đề nghị nộp tiền bảo lãnh 1 triệu USD, nữ thẩm phán Melissa Jackson vẫn giữ thái độ kiên quyết, ra lệnh tống giam ông Dominique Strauss-Kahn, khởi đầu cho một thủ tục tố tụng hình sự chắc chắn sẽ kéo dài.

Cho dù cuối cùng có được trắng án thì công danh sự nghiệp của Dominique Strauss-Kahn coi như chấm dứt ở đây.

Năm nay 62 tuổi, ông Dominique Strauss Kahn, một kinh tế gia lỗi lạc, đã góp phần nâng cao uy tín của quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) kể từ khi ông được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc của định chế này năm 2007, một chức vụ coi như ngang hàng với các nguyên thủ quốc gia trên thế giới.

Với trình độ, kinh nghiệm nhiều lần làm bộ trưởng của ông, từ nhiều tháng qua, Dominique Strauss-Kahn vẫn được đa số dân Pháp xem là một trong những ứng cử viên Tổng thống có khả năng giải quyết các vấn nạn của nước Pháp, đặc biệt là thất nghiệp.

Trong nội bộ Đảng Xã hội, đảng đối lập cánh tả, tuy có nhiều nhân vật khác sẽ tham gia bầu cử sơ bộ chọn người đại diện cho Đảng ra tranh cử Tổng thống năm 2012, nhưng trước khi xảy ra vụ New York, mọi người coi như đã chấp nhận ông Dominique Strauss-Kahn như là ứng cử viên đương nhiên, bởi vì chỉ có ông mới chắc chắn đánh bại được ứng cử viên cánh hữu Nicolas Sarkozy.

Nay, bàn cờ chính trị phải được sắp lại, với viễn cảnh là Đảng Xã hội sẽ lại để tuột mất cơ hội giành chiếc ghế lãnh đạo tối cao.

Rơi xuống tận đáy như vậy, chính là vì tổng giám đốc IMF vẫn có một điểm yếu, đó là phụ nữ, điều mà chính bản thân ông vẫn thừa nhận.

Từ nhiều năm qua, thói trăng hoa của ông không còn là chuyện bí mật đối với giới báo chí Pháp, nhưng hầu như không ai nói đến trên mặt báo, với lý do không muốn đụng chạm đến đời tư của các chính trị gia.

Nhưng ngay cả khi đã sang Washington làm việc, tại một quốc gia rất kỵ những vụ bê bối tình dục, ông Dominique Strauss-Kahn vẫn “ngựa quen đường cũ”. Ông lại dan díu với nhân viên cấp dưới, một nữ kinh tế gia người Hungary và suýt nữa đã bị mất chức vì vụ này. Vào lúc đó, người vợ thứ ba của ông, bà Anne Sinclair, một nhà báo nổi tiếng của Pháp, đã công khai tuyên bố tha thứ cho chồng. Lần này, sau khi ông Dominique Strauss-Kahn bị bắt ở New York ngày 14.5, bà Anne Sinclair cũng đã tuyên bố “không tin chút nào” những lời cáo buộc đối với chồng bà.

Nhưng vụ New York không phải chỉ là cuộc tình vụng trộm qua đêm, mà là một vụ án hình sự nghiêm trọng, vì với những tội danh bị cáo buộc, cựu Bộ trưởng Pháp có thể lãnh án tổng cộng đến tới 74 năm tù.

Quá trình rơi xuống địa ngục của ông Dominique Strauss-Kahn chỉ mới bắt đầu.

Ông Strauss-Kahn bị phân biệt đối xử?

Việc cảnh sát Mỹ để cho ống kính toàn thế giới chụp và quay cảnh ông Dominique Strauss-Kahn bị còng hai tay dẫn đi hôm 15.5 đã gây sốc dư luận Pháp, nhất là vì luật pháp của Pháp không cho phép điều này. Ngày 17.5, nhiều nhân vật trong Đảng Xã hội cánh tả đã nhất loạt chỉ trích hệ thống tư pháp Mỹ. Nhưng dù muốn hay không, thì vị tổng giám đốc IMF này sẽ được xử theo luật pháp Mỹ.

Cựu bộ trưởng Văn hóa Pháp Jack Lang đã mô tả việc đối xử của Mỹ với ông Strauss-Kahn là một "vụ phân biệt chủng tộc” đầy kinh dị và khiêu khích, đáng ghê tởm. Còn Segolene Royal, người đã đánh bại ông Strauss-Kahn để trở thành ứng cử viên tổng thống của đảng Xã hội năm 2006, nói rằng người Mỹ cần phải nhớ rằng ông Kahn là vô tội cho đến khi được chứng minh có tội.


Thị trưởng TP New York, Michael Bloomberg đã bảo vệ việc cảnh sát thành phố công khai dẫn giải ông Dominique Strauss-Kahn với hai bàn tay bị còng sau lưng trước các nhà báo. Việc này khiến một số chính trị gia Pháp lên tiếng phẫn nộ.

"Tôi nghĩ rằng điều đó là nhục nhã, nhưng nếu bạn không muốn việc này thì không nên phạm tội'', ông Bloomberg nói. Ông cũng cho rằng hệ thống tư pháp của Mỹ luôn công khai làm việc nơi công cộng để mọi người có thể nhìn thấy thủ phạm.

Ông Bloomberg khẳng định: "Điều đáng buồn là bị buộc tội, tuy nhiên xã hội cần phải nhìn vào đó để làm gương và qua đó chúng ta cần phải cẩn thận hơn trong mọi hành động'.

"Tôi từ chức để lấy lại thanh danh"

Ngày 19.5, đúng như dự báo của giới quan sát, sau khi bị áp lực từ nhiều phía, tổng giám đốc quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) Dominique Strauss-Kahn (DSK) đã gửi thư thông báo từ chức đến ban điều hành IMF. Nhưng ông này vẫn mạnh miệng tuyên bố mình vô tội.

Ông giải thích: “Việc tôi từ chức nhằm không tổn hại danh tiếng của định chế tài chính mà tôi đã gắn bó và đặt nhiều cống hiến tâm huyết. Tôi muốn tập trung dành thời gian và công sức để chứng minh sự vô tội và lấy lại thanh danh. Tôi rất kiên định với những lý lẽ chống lại tất cả các cáo buộc nhắm vào tôi".

DSK bày tỏ “nỗi buồn vô hạn và niềm may mắn là vẫn nhận được sự khích lệ từ người vợ (hiện đã bay đến Mỹ) cùng các con.

Trong khi đó, luật sư Shawn P. Naunton của ông đang xúc tiến các thủ tục cần thiết tại Tòa án tối cao New York để thân chủ được tại ngoại hầu tra. Số tiền thế chân dự kiến là 1 triệu USD tiền mặt, đi kèm các điều kiện: ông bị giới hạn tại nhà con gái ở Manhattan, với thiết bị giám sát điện tử và giao nộp tất cả các giấy tờ tùy thân để "đảm bảo không rời khỏi phạm vi triệu tập của tòa án".

Trước đó, thẩm phán tòa án hình sự Manhattan đã từ chối yêu cầu được tại ngoại của bị cáo. Trong bản kháng cáo lên Tòa án tối cao tiểu bang, luật sư mô tả DSK là "một người chồng và người cha có trách nhiệm, một nhà ngoại giao, luật sư, chính trị gia, nhà kinh tế và giáo sư, được vị nể và không có tiền án".


Các nhà phân tích dự báo, cho dù có thoát án tù, sự nghiệp và tương lai chính trị của DSK cũng “đi tong” sau vụ này.

Việc ông DSK tự nguyện từ chức là điều không tránh khỏi. Vì nếu thẩm phán New York tiếp tục từ chối cho ông được tại ngoại hầu tra, ban điều hành IMF cũng sẽ cách chức ông ta. Lý do được một quan chức giấu tên của định chế này tiết lộ rằng: “ông DSK không thể lãnh đạo IMF từ nhà giam, hoặc xa trụ sở chính của Washington”.

Jean-Francois Cope, tổng thư ký đảng cánh hữu cầm quyền UMP nói: "Tôi không thấy DSK còn đủ tư cách để thực hiện vai trò điều hành IMF. Tổ chức này nên cân nhắc người thay thế ông ta trong những ngày tới".

Trong khi đó, bộ trưởng Tài chính Mỹ Timothy Geithner bình luận rằng: "DSK không còn thích hợp ở vị trí điều hành IMF".

Cùng lúc, bộ trưởng Tài chính Áo lên tiếng đề nghị DSK nên tự trọng và từ chức vì lợi ích của định chế tài chính này.

DSK hiện đang bị giam giữ tại nhà tù Rikers Island trong tình trạng canh gác cẩn mật 24/24. Đề phòng trường hợp ông nghĩ quẩn và tự sát, cứ 15 - 30 phút sẽ có người kiểm tra buồng giam. Ông được phép đi ra ngoài buồng giam một giờ/ngày. Do đang chờ ra tòa ngày 20.5, ông không phải mặc áo tù như các tù nhân khác, nhưng phải mang giày không thắt dây.

Trước ngày 20.5, một bồi thẩm đoàn nhân dân gồm từ 16 -23 người sẽ họp kín để quyết định có chính thức truy tố ông DSK hay không.

Một nguồn tin cho biết, các luật sư của DSK đã chuyển hướng bào chữa, xác nhận rằng thân chủ của họ và cô dọn phòng khách sạn có quan hệ tình dục, nhưng là quan hệ có thỏa thuận, chứ không phải cưỡng bức như cáo buộc.

Đáng lưu ý, cách đây không lâu, DSK đã từng dự báo rằng ông có thể bị đối thủ chính trị trong cuộc chạy đua bầu cử tổng thống Pháp giăng bẫy mỹ nhân kế. Ông đã đưa ra giả thuyết rằng đối thủ của mình dàn xếp một phụ nữ nào đó nhận tiền cả triệu euro để dựng lên kịch bản “bị hiếp dâm”.

Nguồn:
Từ nhân vật sáng chói rơi xuống địa ngục vì phụ nữ
Tổng giám đốc IMF: "Tôi từ chức để lấy lại thanh danh"



19/9/10

HỌ BỊ NƯỚC PHÁP XUA ĐUỔI



Hồi thập niên 1970, khán giả ở miền Bắc hẳn có ấn tượng rất mạnh với bộ phim “Đoàn Digan lên trời” (Табор уходит в небо) dựa theo truyện ngắn của đại văn hào Nga Maxim Gorky.

Cô gái Digan xinh đẹp Rada đem lòng yêu Loiko – chàng trai chuyên trộm ngựa. Người Digan trong phim này hiện lên như một dân tộc kiêu hãnh, yêu tự do, tài năng và sống hài hòa với thiên nhiên.

Nhưng đó là chuyện trong phim. Người Digan ngày hôm nay vẫn đang phải chịu sự kỳ thị ghê gớm, thậm chí ở ngay cả một nước có truyền thống “tự do, bình đẳng, bác ái” như nước Pháp...


Chính quyền của Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đang tiếp tục thực thi kế hoạch trục xuất 700 người Di Gan (còn gọi là Gypsy hay Roma) về nơi họ xuất phát là Romania. Cảnh sát đã dỡ bỏ những khu lều của họ và cấp cho bất cứ ai muốn tình nguyện trở về 300 euro. Nhưng dư luận Pháp lại có quan điểm trái ngược nhau về vấn đề này. Cả Liên minh Châu Âu (EU) lẫn các tổ chức về quyền con người đều lên tiếng phản đối.

Người Di Gan là ai? Tại sao họ lại bị căm ghét đến vậy? Từ Gypsy trong tiếng Anh là cách gọi ngắn của từ Egyptian (Ai Cập), cho thấy sự nhầm lẫn về gốc gác của tộc người này. Trên thực tế, người Di Gan xuất thân từ Ấn Độ. Họ rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn từ thế kỷ 11, có thể do hậu quả từ các cuộc xâm lược của người Hồi giáo. Và từ đó đến nay họ không quay trở lại cố quốc. Sang thế kỷ 14, họ di cưu đến Đông Âu và cư dân tại một số nước ở khu vực này tưởng nhầm rằng họ đến từ Ai Cập.

Mặc dầu số lượng người Di Gan hầu như không bao giờ hiển thị trên các kết quả điều tra dân số chính thức, song ước tính hiện nay có khoảng 2-5 triệu người. Họ sinh sống chủ yếu ở các nước Slavơ như CH Czech, Bulgaria và Romania. Sự hiện diện của họ đã kéo dài qua nhiều thế kỷ, nhưng Châu Âu chưa bao giờ chấp nhận tộc người du mục này và đã áp dụng một cách có hệ thống những sự thanh trừng khác nhau kể từ lần đầu tiên họ đặt chân lên lục địa.

Bằng chứng của sự kỳ thị có thể nhìn thấy rõ ràng trong ngôn ngữ (tiếng Anh). Người ta dùng từ “gyp” để chỉ hành động lừa đảo tiền bạc; “Gypsy moths” (bướm đêm Gypsy) có nghĩa là sống ăn bám; “Gypsy taxi” là loại taxi hoạt động bất hợp pháp...

Vì người Di Gan cứ di cư từ nước này sang nước khác, nên họ không dễ dàng trong việc xây dựng chỗ ở cố định và có công ăn việc làm. Họ di chuyển trên những đoàn xe lưu động và kiếm kế sinh nhai bằng những trò biểu diễn, hoặc làm công nhân thời vụ hoặc bán những mặt hàng tạp hoá... Một số người làm nghề bói toán.

Người Di Gan có biệt tài là nhảy múa rất giỏi. Chính họ đã tạo ra điệu flamenco nổi tiếng. Cách sống du cư trở thành một phần trong văn hoá của người Di Gan và mặc dù có thể dễ dàng lãng mạn hoá điều đó, song trên thực tế nhắc đến Di Gan là nói đến nghèo khổ, sự ngờ vực và mặc cảm không thuộc về đâu.

Sự ngược đãi kéo dài đã buộc họ sản sinh tâm tính “chúng ta chống lại chúng nó” rất mạnh. Thậm chí, họ có những đạo luật rất khắt khe, cấm đoán kết hôn với những người “gadje” (ngoài Di Gan).

Châu Âu đưa ra những đạo luật chống người Di Gan từ đầu thế kỷ 15: những thành phố như Lucerne (Thụy Sỹ) và Freiburg (Đức) đã thường xuyên xua đuổi họ. Người Di Gan phải gánh chịu hầu hết mọi hình thức phân biệt đối xử.

Trong Chiến tranh Thế giới II, phátxít Đức đã tàn sát gần 400 nghìn người Di Gan cùng với người Do Thái, người đồng tính và những sắc dân khác. Nhiều người Di Gan bị bố ráp và bắn chết ngay trong làng của họ, không ít người bị đưa đến các trại tập trung.

Hai phụ nữ Di Gan bị trục xuất khỏi Pháp tại sân bay Roissy cuối tháng 8 vừa qua.

Quan hệ giữa nước Pháp và người Di Gan luôn luôn căng thẳng. Năm ngoái, gần 10 nghìn người Di Gan đã bị buộc phải “trở về nhà” ở Bulgaria và Romania. Theo Chính phủ Pháp, cuộc cưỡng bức hồi hương mới đây là kết quả của cuộc ẩu đả diễn ra ngày 16.7.2010. Chàng trai Di Gan 22 tuổi Luigi Duquenet bị cảnh sát bắn chết sau khi anh ta đâm vào một cảnh sát trong khi lái xe.

Cái chết của Duquenet đã dấy lên cuộc náo loạn ở thị trấn Saint-Aignan, khiến người phát ngôn của Chính phủ Pháp phải gọi người Di Gan là “nguồn gốc của buôn lậu, của những điều kiện sống cực kỳ kinh hoàng, của bóc lột trẻ em ăn xin, của mại dâm và tội ác”. Ngày 28.7, Tổng thống Sarkozy tuyên bố cho dỡ bỏ những khu lều trại của người Di Gan và trục xuất họ về nơi ra đi.

Dư luận cho rằng những hành động của chính quyền Pháp đi ngược lại luật pháp của EU. Đại đa số người Di Gan đến Pháp từ Romania và Bulgaria - hai nước thành viên của EU. Công dân của các nước EU được quyền di chuyển tự do trong lãnh thổ những nước thành viên khác.

Tuy nhiên, luật pháp của Pháp hạn chế sự lưu trú của họ trong vòng 3 tháng, trừ khi họ tìm được việc làm. Đúng là đa phần người Di Gan cư trú tại Pháp là bất hợp pháp, nhưng Pháp không chứng minh được rằng họ đang trục xuất đúng người, nếu như không kiểm tra giấy tờ tùy thân của từng người bị trục xuất.

Vẫn kiên quyết với kế hoạch trục xuất, Pháp mở chiến dịch ngoại giao để tranh thủ sự ủng hộ của EU. Ngày 14.9, các bộ trưởng Pháp gặp gỡ với các quan chức EU và đại diện Nhà thờ Catholic Pháp để giải thích rõ rằng các bước đi của Chính phủ Pháp là đúng luật.

BONUS:




23/6/10

DOMENECH PHẢN BỘI TÔI



Hôm qua, tôi khen ngợi văn hóa thưởng ngoạn bóng đá của người Pháp trên sân vận động Stade de France tại World Cup France 1998. Nhưng chỉ ít giờ sau, ông Raymond Domenech, Huấn luyện viên trưởng đội tuyển Pháp tại World Cup Nam Phi 2010 đã chứng minh ngược lại.

Pháp thua Nam Phi 2-1 giã từ World Cup một cách tủi hổ. Đội Pháp năm nay có quá nhiều chuyện vớ vỉn, từ việc đuổi Nicolas Anelka về nhà sớm, cho đến các cầu thủ tẩy chay luyện tập để bày tỏ sự đoàn kết với Anelka.

Khi tiếng còi chấm dứt trận đấu vang lên, ông Domenech bắt tay những người đứng xung quanh. Ai cũng biết đây là trận cuối cùng ông chỉ đạo đội tuyển Pháp. Người kế vị ông sẽ là cựu danh thủ Laurent Blanc.



Chuyện bất ngờ xảy ra khi HLV đội tuyển Nam Phi Carlos Alberto Parreira đến gần, mỉm cười và chìa tay về phía Domenech. HLV người Pháp đã từ chối cử chỉ thân thiện của ông Parreira và dợm chân bước đi.

Parreira túm lấy áo vest của Domenech và cố thử nói chuyện với ông ta, nhưng Domenech vẫn tiếp tục giữ thái độ thô lỗ của mình và lên lớp HLV người Brazil với một ngón tay.

Tại cuộc họp báo sau đó, báo chí hỏi Domenech, nhưng ông không chịu giải thích hành động của mình, kiên quyết không trả lời các câu hỏi của phóng viên.

Parreira thì cho rằng điều đó xảy ra là do ông đã phê phán đội tuyển Pháp lọt vào World Cup năm nay nhờ cú chơi bóng bằng tay của Thierry Henry. “Tôi thực sự không nhớ (lời chỉ trích). Đó là người trợ lý của Domenech bảo tôi thế” – Parreira nói như vâỵ.

Hành động của HLV Domenech được gọi là gì nhỉ? Giận mất khôn à?

BONUS:


THAM KHẢO
BÊN LỀ WORLD CUP FRANCE 1998 (1)
BÊN LỀ WORLD CUP FRANCE 1998 (2)
VIỆT KIỀU CÁ CƯỢC
MUA VÉ WORLD CUP CHỢ ĐEN
PARIS, CÀ PHÊ, BÓNG ĐÁ
GẶP TIFOSI Ở SANREMO
VĂN HÓA BÓNG ĐÁ Ở STADE DE FRANCE

22/6/10

VĂN HÓA BÓNG ĐÁ Ở STADE DE FRANCE



Khi tôi đến Stade de France xem trận Pháp - Saudi Arabia ngày 18.6.1998, thì sân vận động chính của World Cup France 1998 vẫn còn thơm mùi sơn. Nó như một chất men đập vào khứu giác của khán giả, bắt người ta phải hưng phấn với trò chơi và có những cảm giác huy hoàng.

Stade de France (Sân vận động nước Pháp) được xây dựng ở Saint Denis - thành phố vệ tinh của dân lao động nhập cư, cách trung tâm thủ đô Paris hơn 10 cây số. Stade de France đã kéo theo tuyến đường sắt ngầm cao tốc (RER) kéo Saint Denis gần hơn với Paris.

Trận đấu bắt đầu vào lúc 21 giờ, nhưng đại bộ phận cổ động viên đến sân lúc 19 giờ. Phần lớn đã vẽ mặt và ân vận trang phục sặc sỡ từ ở nhà. Những người nào đến đây sau giờ làm, chưa kịp trang điểm thì cũng không phải lo, sẽ có cách.

Khu vực bên ngoài sân vận động là một chiến trường cạnh tranh lớn của tất cả các hãng nước ngọt và bánh kẹo lớn. Hãng Coca-Cola cho các nhân viên ăn mặc theo kiểu anh hề trong triều đình đeo các bình lạnh đựng Coca chai trên lưng và bán cho khán giả với giả 15 FR/chai (2,5 USD). Hãng này còn căng những tấm phông lớn có dòng chữ: "Sân vận động nước Pháp, tôi đã đến đây ngày 18.6, xem trận Pháp gặp Saudi Arabia" kèm theo logo của hãng và cho một dàn người mẫu trẻ đẹp đứng làm mỗi một việc là chụp ảnh miễn phí cho các du khác bằng máy ảnh của họ, hoặc chụp cùng nếu họ muốn.

Đó là một chiêu PR và tiếp thị đầy hiệu quả cho thương hiệu Coca-Cola.

Hãng kẹo Snickers phát không những chiếc mũ nhựa có in quốc kỳ Pháp và Saudi Arabia. Một hãng khác lại phát những tấm bìa có thể cuốn lại thành loa. Tất nhiên trên tấm bìa này có in logo của hãng. Một công ty sơn của Pháp cũng phát những tấm bìa, nhưng trên lại để sẵn ba loại màu có thể vẽ lên mặt quốc kỳ Pháp. Tôi đã nhờ một cô gái Pháp vẽ ba màu đó lên hai má để trở thành một cổ động viên Pháp thứ thiệt.

Tôi có cảm giác là người Pháp khá thực dụng. Những khán đài cao, giá vé rẻ được họ lấp đầy từ trước trận đấu cả hai tiếng đồng hồ, trong khi đó những khán đài thấp hơn chỉ chưa đầy một phần ba. Nhưng hóa ra không phải như vậy, đến trước trận đấu khoảng nửa tiếng thì tất cả các khán đài đều được lấp đầy. Có thể những người ở phía dưới là những người trung lưu, họ đến đây sau giờ làm.

Sân vận động nước Pháp được thiết kế rất tốt, sao cho khán giả từ bất cứ vị trí nào đều có thể theo dõi toàn bộ sân cỏ. Một người dù i-tờ về bóng đá, cũng có thể thấy rõ cách bố trí đội hình của mỗi huấn luyện viên.

Zidane bị thẻ đỏ trong trận Pháp - Saudi Arabia

Khác với USA '94, 130 người làm công tác an ninh dưới sân cỏ, tuy phải quay lưng vào trận đấu, nhưng lại được ngồi. Tuy nhiên, vào các giây phút gay cấn: sau bàn thắng, những cú đá phạt, hay cầu thủ nào đó bị đuổi ra khỏi sân, họ đồng loạt đứng dậy, chắp hai tay ra phía sau.

Khán giả Pháp thiên vị rõ rệt (đương nhiên rồi, trận đấu tầm cỡ quốc tế vì màu cờ sắc áo của quốc gia mà). Ngay cái việc cả sân vận động, có đến 80 nghìn người Pháp đồng thanh hát bài quốc ca Pháp "La Marseillaise" cũng khiến những ai không phải là người Pháp sởn gai ốc.

Khi đội Pháp tấn công, họ hát "Allez les Bleus" (Đội Xanh tiến lên). Khi đội Pháp đá phạt, họ kêu "Un but" (Ghi bàn). Khi đội Pháp làm hàng rào chắn quả phạt, học thúc giục "Bloquez" (Phong tỏa).

Rồi họ làm những làn sóng. Những làn sóng thường chấm dứt ở khu khán đài chính giữa. nơi các quan chức và khách mời ngồi. Nhưng vào những thời điểm kịch tính, thì những người đàn ông, đàn bà thượng lưu ngồi ở đó cũng không nề hà nghi lễ, đứng dậy để làn sóng được nói tiếp.

Có lẽ ít có loại khán giá nào bộc lộ sự cổ vũ của mình ở trình độ văn hóa cao như cổ động viên Pháp tại Stade de France tối 18.6. Họ "oh", "ah" khi các cầu thủ Pháp thực hiện một pha bóng không đẹp, hay trọng tài phạt đội Pháp, hoặc khi các cầu thủ Saudi bị tấn công.

Không có ai hét: "Đuổi thằng ấy ra đi", hay "Trọng tài bắt như c... ấy". Khi nào bất bình họ chỉ huýt sáo mà thôi. Ngay cả khi Zidane bị thẻ đỏ, cúi đầu bước ra khỏi sân và ông Aimé Jacques đứng ở đường piste giận dữ không thèm nhìn, thì cả cầu trường vẫn vang dội tiếng hô: "Zizou, Zizou!".

Có thể nói không ngoa rằng khán giả là nguồn sức mạnh quan trọng khiến đội Pháp ghi được 4 bàn thắng vào lưới đội Saudi Arabia trong trận đấu tối 18.6.

THAM KHẢO
BÊN LỀ WORLD CUP FRANCE 1998 (1)
BÊN LỀ WORLD CUP FRANCE 1998 (2)
VIỆT KIỀU CÁ CƯỢC
MUA VÉ WORLD CUP CHỢ ĐEN
PARIS, CÀ PHÊ, BÓNG ĐÁ
GẶP TIFOSI Ở SANREMO




17/6/10

PARIS, CÀ PHÊ, BÓNG ĐÁ



Kiến trúc ở Paris đẹp. Ai cũng biết thế. Tuy nhiên, bạn sẽ không thể vừa đi trên hè phố vừa ngước mắt ngắm nhìn các ngôi nhà. Lý do? Bạn luôn luôn có nguy cơ giẫm phải các "bãi mìn" chất thải của các chú khuyển đủ loại để lại trên vỉa hè. Các hè phố của Paris vì thế không còn được sạch sẽ nữa.

Chỉ có người nước ngoài mới cảm thấy khó chịu về chuyện đó, còn người Paris thì yêu chó hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Nhưng ở đây lại không thể đi đứng vô tư dưới lòng đường như ở Hà Nội vì có thể bị tai nạn giao thông ngay lập tức.

Có lẽ không có thủ đô một nước nào lại có nhiều tiệm càphê như Paris. Ngồi càphê và ngắm đường phố có lẽ là thú vui đã ngấm vào máu và truyền qua gene người dân Pháp. Hầu như bất cứ đường phố nào, không phụ thuộc vào dài ngắn hay rộng hẹp đều có ít nhất một tiệm càphê. Trình tự mỗi tiệm càphê bao giờ cũng có ba lớp: chỗ dành cho những người uống đứng; bàn ghế bên trong tiệm, và bàn ghế bày trên vỉa hè.

Người Paris uống càphê vào mọi thời điểm trong ngày. Nói là đi vào tiệm càphê, nưng người ta có đủ thứ: từ rượu mạnh cho đến một ly trà. Và cả ăn nữa: ăn sáng, ăn trưa, ăn tối. Một điều hơi lạ lùng là nếu vào tiệm chỉ để uống càphê đứng trong vòng 5 phút buổi sáng trước khi đi làm, bạn chỉ phải trả 5FR. Nhưng cũng với tách càphê như thế, nếu bạn mang ra bàn vừa ngồi uống nhẩn nha, vừa đọc báo và ngắm các cô gái ngoài phố, thì bạn sẽ phải trả từ 10-15 FR (tùy chỗ đẹp hay không).



Bước vào World Cup, các vị chủ tiệm càphê đều đặt thêm một chiếc TV lớn ở sát lớp cửa kính, thuận tiện sao cho những người ngồi ngoài phố thỉnh thoảng có thể liếc mắt xem một vài pha. Ông Jean-Claude, chủ một quán càphê trên phố Picardie cho biết để TV như vậy là cho đủ món thôi, chứ không phải fan bóng đá nào cũng đến tiệm càphê xem bóng đá.

Cũng may là người Pháp có nhiều giải bóng đá để xem, nên một chiếc TV luôn thường trực sẵn trong tiệm, khi cần là có thể đem ra dùng, chứ không phải mua. TV mới loại to lên đến 6.000 FR/chiếc.

Trận đấu sớm (vào 17h30) thường trùng với "happy hour" - giờ may mắn mà các tiệm dành cho khách hàng với giá tiền giảm 50%. Tôi đã ngồi trong quán của ông Jean-Claude uống một cốc bia tươi loại nửa lít với giá 18 FR (khoảng 30 nghìn VND). Nếu không vào giờ may mắn thì cốc bia này sẽ có giá gấp đôi, quá đắt so với giá ở VN. Nhưng nên nhớ là ta đang ngồi uống bia ở Paris.

Người Pháp không uống bia tràn lan theo kiểu Việt Nam. Không ồn ào huyên náo. Tại quán của ông Jean-Claude, khi vị khách ở bàn bên cạnh gọi đến cốc thứ ba (loại một lít), tôi thấy anh bồi hỏi: "Etes-vous sûr?" (Ông chắc chứ?"). Điều đó khiến tôi hơi ngạc nhiên. Ở Việt Nam bán càng được nhiều bia càng tốt, thậm chí tiếp viên chả cần hỏi cứ tự tiện mở bia liên tục. Ở đây, người ta lại hỏi có chắc chắn uống thêm nữa không, rồi mới mang ra.

Ông Jean-Claude nói ông chỉ có một nhóm bồ ruột 7 người đến uống bia và xem đá bóng trong trận đấu thứ nhất. Mọi người cũng có cá cược tí chút. Ở Paris, đi uống thế này thường ai trả tiền người ấy, nhưng World Cup cũng có ngoại lệ của nó: người nào thua cược thì phải trả tiền cho cả bọn.

Hết trận đầu ai về nhà nấy, xem tiếp trận thứ hai cùng gia đình.

Chú thích: Cà phê ở Paris. Tranh không rõ tác giả.

THAM KHẢO
BÊN LỀ WORLD CUP FRANCE 1998 (1)
BÊN LỀ WORLD CUP FRANCE 1998 (2)
VIỆT KIỀU CÁ CƯỢC
MUA VÉ WORLD CUP CHỢ ĐEN



16/6/10

MUA VÉ WORLD CUP CHỢ ĐEN


Trước khi kể chuyện này, muốn lưu ý mọi người rằng đây là chuyện từ hồi World Cup France 1998, cách đây 12 năm, chứ không phải chuyện đang diễn ra ở Nam Phi nhé.

Thời đó mặc dù mua bán vé qua Internet chưa thịnh hành như bây giờ, song BTC WC France 98 đã xây dựng được một hệ thống bán vé khá hoàn chỉnh. Tuy nhiên, chuyện khan hiếm vé thì vẫn xảy ra, đặc biệt là trước các trận đấu giữa các đội Châu Âu, vì số lượng cổ động viên kéo sang Pháp rất đông do đi lại thuận tiện và dễ dàng.

Trận đấu giữa Bỉ và Hà Lan trong vòng bảng là một trận đấu khan hiếm vé như vậy. Cổ động viên của hai nước này sang Pháp từ một ngày trước. Nhiều người táo bạo đeo những tấm biển to dòng chữ bằng hai thứ tiếng Anh và Pháp: "Places demandees" và "Need tickets". Chiểu theo luật Pháp khi đó thì họ hoàn toàn có thể bị bắt và ở vài hôm trong sở cảnh sát.

Do muốn viết bài về vấn đề này, nên tôi đã xán đến một nhóm cổ động viên mặc áo liền quần màu da cam, tóc cũng nhuộm màu da cam ở tàu điện ngầm. "Tôi muốn mua một vé, các bạn có thừa vé không?". Họ nhìn tôi từ đầu đến chân rồi hỏi lại bằng tiếng Anh: "Ticket?". Tôi đáp: "Yes". Họ bảo họ còn thừa một cặp, song phải mua cả đôi với giá 5.000 FR (900 USD).

Quá đắt, tôi tìm cớ thoát: "Tôi chỉ cần một vé, 2.500 FR có được không?". Người đàn ông khoảng 40 tuổi, vẽ quốc kỳ Hà Lan trên mặt dứt khoát đáp: "Không, 3.500 FR". Tôi cảm ơn họ. Tưởng tôi là người Hàn Quốc, người đàn ông nói với theo: "Ra Hotel de Ville (Tòa thị chính) mà xem truyền hình. Hàn Quốc sắp đá với Mexico đấy".

Tôi đáp tàu điện ngầm cao tốc (RER) đến Saint Denis. Rảo bước trên đại lộ Winson về phía sân Stade de France, còn cách sân đến nửa cây số, tôi đã nghe thấy người ta mặc cả với nhau. Tôi tiến đến vài nhóm cổ động viên của Bỉ lẫn Hà Lan: "Tôi cần mua một vé". Họ không trả lời, mặt lạnh tanh.

Tôi liếc nhìn xung quanh, chẳng có người Châu Á nào đến đây tìm vé hết. Bao nhiêu du khách Nhật thì đã kéo hết về Toulouse để xem đội nhà thi đấu tại đó. Người Hàn Quốc đang bận chuẩn bị xem trận đấu với đội Mexico ở Lyon. Sự có mặt của tôi có thể khiến họ sinh nghi chăng?

Thấy tôi cứ lân la, một chàng trai chừng 20 tuổi tiến đến gần và nói bằng tiếng Pháp nhanh như gió, khiến tôi phải đề nghị nhắc lại. Hóa ra cậu ta là người Pháp. "Anh cần vé à? Tôi có một vé, nhưng hôm nay là sinh nhật người yêu tôi, tôi không xem được. Vé của tôi ở cửa F - khán đài giữa, giá 4.000 FR".

"Oh la la!" - tôi thốt lên như một người Pháp thực thụ. "Thôi, 3.000 vậy!" - cậu ta xuống thang. "Xin lỗi, 1.500 có được không?". Cậu ta văng bậy, rồi bỏ đi. Tôi còn hỏi vài ba nhóm nữa, nhưng đều không có kết quả. Nhận xét chung, thì không phải ai cũng là "máy chém". Có những người vì hoàn cảnh nào đó không xem được, thì bán vé với giá chênh lệch chỉ khoảng 200-250 FR, coi như là công đăng ký vé và mang đến đây.

Nhưng cũng có một cổ động viên Hà Lan giao bán chiếc vé của anh ta với giá gấp hơn 10 lần (giá gốc 180 FR, giao bán với giá 2.000 FR). Lại có người đề nghị mua vé của trận đấu giữa Mỹ và Đức diễn ra sau đó vài ngày. Lúc đó tôi đóng hơi đạt vai người săn vé: "Không, tôi cần vé trận hôm nay cơ!", mà quên vai trò nhà báo của mình. Khi anh ta bỏ đi rồi, tôi mới lấy làm tiếc không biết trận Đức - Mỹ chợ đen định chém bao nhiêu.

Những người hâm mộ bóng đá thực thụ thì không sợ gì hết. Họ giơ biển cần mua vé bằng đủ thứ tiếng. Rất nhiều người mua được vé, tất nhiên sau khi đã mở rộng hầu bao. Còn tôi thì không phải là fan bóng đá thực thụ rồi. Với lại cũng chẳng có hầu bao mà mở...


THAM KHẢO
BÊN LỀ WORLD CUP FRANCE 1998 (1)
BÊN LỀ WORLD CUP FRANCE 1998 (2)
VIỆT KIỀU CÁ CƯỢC



15/6/10

VIỆT KIỀU CÁ CƯỢC



Tiếp series "Bên lề World Cup France 1998"

Nói chung người Việt mình đi đâu cũng không bỏ được những thói quen cố hữu của mình. Một trong những thói quen là cá cược bóng đá. Có dịp tiếp xúc với một số Việt kiều trong thời gian diễn ra World Cup France 1998, mới thấy cá độ của người Việt ở Paris khá kịch tính và cay cú.

Đêm 13.6, vào lúc diễn ra trận đấu giữa tuyển Pháp và Nam Phi, tôi đến quận 11, khu vực có khá nhiều nhà hàng, quán ăn Việt Nam. Quán Đồng Hương có khoảng 40 thực khách. Vì những người đi ăn vào giờ này phần lớn không phải là dân nghiền bóng đá, nên chủ quán đã cho tắt tivi.

Khoảng chừng giữa hai hiệp, tôi hỏi người bồi bàn nói giọng Nam: "Tỷ số thế nào?". Anh ta hơi nhăn mặt: "Pháp ăn một trái, anh à".

Trong khoảng 30 phút sau đó, người đàn ông khoảng 30 tuổi có gương mặt hơi khắc khổ này vừa làm việc vừa căng thẳng không rõ vì lý do gì. Cứ mỗi lần có khách đến, anh vừa chào , vừa xếp chỗ vừa hỏi: "Trận đấu thế nào rồi, monsieur?". Khi người ta báo Issa đã ghi bàn thứ hai cho đội Pháp, mặt anh xịu hẳn xuống.

Khoảng 23 giờ kém 10, anh ta đến gần chỗ tôi, thì thào: "Trận đấu chắc xong rồi đó. Anh đi ra ngoài đường hỏi người ta xem Nam Phi có gỡ được trái nào không?". Tôi chạy ra ngoài đường, một thanh niên Pháp báo cho biết Henry ghi bàn thứ ba cho đội Pháp ở phút 92. Đội Nam Phi thua trắng.

Trở lại quán ăn, tôi báo cho anh ta hung tin đó. Anh ta nhăn nhó: "Thế là em mất đứt 5.000 FR rồi". Tôi hỏi: "Chết, sao lại thua nhiều thế?" Hóa ra anh ta đã tính tỉ số hòa 2-2. Không ngờ đội Pháp lại thắng tới 3 trái.

Tôi hỏi: "Anh cá độ với ai vậy?", anh trả lời: "Thì với người Việt mình thôi". "Người Việt ở đây cá cược có ghê không?" - "Ghê chứ. Hôm nay, bạn của em bắt kèo dưới trận Paraguay - Bulgaria, thắng đến hai chục nghìn lận (20 nghìn FR xấp xỉ 3.500 USD). Em lại thua những 5.000 FR".

Anh ta than thở, rồi bất ngờ hỏi lại: "Còn anh, anh thua bao nhiêu?". Tôi phì cười: "Tôi đâu có chơi, tôi là nhà báo từ Hà Nội mới qua".

Anh ta nở nụ cười méo xệch: "Chết rồi, nếu nhà báo có viết chuyện em vừa rồi thì đừng nêu tên nha. Em còn gia đình phải chu cấp ở Long An".

Anh ta bắt tay chào tôi và tự an ủi mình: "Thôi thì thua keo này, ta bầy keo khác!"

THAM KHẢO
BÊN LỀ WORLD CUP FRANCE 1998 (1)
BÊN LỀ WORLD CUP FRANCE 1998 (2)


11/6/10

BÊN LỀ WORLD CUP FRANCE 1998 (2)



Thời đó mới cách đây 12 năm, nhưng Internet ngay cả ở Pháp cũng là thứ xa xỉ. Khách sạn có Internet nhưng đều qua dial-up với tốc độ như rùa bò và giá đắt kinh người. ADSL hoàn toàn vắng bóng, ngay cả tại các quán cà phê Internet cũng vậy.

Hôm đầu thử đi gửi fax. Đến bưu điện, em nhân viên da đen khá to béo phải gửi vài lần mới được. Hỏi em về confirmation, em bảo: "Tao không xác nhận vụ này được. Bưu cục này không gửi fax về thẳng VN được mà chỉ gửi lên bưu điện trung tâm. Từ đó sẽ gửi về VN cho mày. Mày muốn biết có OK hay không thì chiều quay lại".

Cha mẹ ơi, hiện đại kiểu Pháp là thế này đây. Mà đây là bưu cục ở gần quận 16 - quận toàn dân nhà giầu sống đấy. Mấy hôm sau, gặp một đồng nghiệp của báo Thể thao TP Hồ Chí Minh, anh này ở quận 13 (quận có đông người Hoa và người Việt sinh sống), nhưng phải lên bưu điện trung tâm fax bài, để nhìn tận mắt cái xác nhận đã gửi bài OK về nhà thì mới an tâm.

Mùa hè năm 1998 VN có Internet được hơn nửa năm, cơ quan tôi là tờ báo tiên phong thuê bao đường Internet, nên tôi quyết tâm phải tìm nơi có Internet để gửi bài. Nhờ các bạn sinh viên VN giới thiệu, tôi tìm được hai tiệm cà phê Internet ở khu vực trung tâm Paris, tốc độ tương đối ổn, cho phép sử dụng đĩa mềm từ ngoài mang vào, nhưng chỉ được phép ngồi tối đa 30 phút và phải xếp hàng dài từ 30 phút trở lên.

Mở ngoặc đơn là có một vài quán Internet khác gần hơn nhưng lại không cho sử dụng đĩa mềm từ ngoài mang vào (vì e ngại lây lan virus). Tôi viết bài sẵn ở nhà, nên không thể vào những quán này. Chết tiền vì phải thuê máy tính gõ bài.

Tìm được chỗ có Internet rồi thì luôn luôn phải canh giờ để thời điểm truyền bài về Việt Nam không quá 8 giờ tối (tức 2 giờ chiều, giờ Paris). Thế có nghĩa là sáng phải dậy lúc 8h, cuống cuồng đi metro đến các điểm đã định trước, tìm hiểu tình hình rồi ngồi ở một chỗ nào đó gần trung tâm để gõ bài. Rồi trong khoảng từ 12 giờ đến 2 giờ phải gửi bài về, sau đó mới tính chuyện ăn uống.

Ăn uống xong lại lang thang tiếp để tìm chuyện ở những nơi có trận đấu hoặc các hoạt động ăn theo World Cup. Chiều tối thì xem đá bóng tại những địa điểm có màn hình lớn.
Đôi khi nửa đêm mới trở lại khách sạn. Mệt mỏi bải hoải với đôi chân rã rời.

Được khoảng một tuần như vậy, thì tôi được một người bạn giới thiệu cho một căn phòng với giá thuê khá mềm ở Montreuil (ngoại ô phía đông Paris, khu lao động có đông dân nhập cư). Hôm đầu đi chợ ở đây, tôi phát hiện ra một tiệm Internet rộng rãi, thoáng đãng, rất vắng người ở ngay trong chợ, cách chỗ tôi ở chừng 500m. Vội vã chạy vào thì thấy chủ quán là một anh chàng người Bắc Phi (Maroc hoặc Algeria). Anh ta vui vẻ nói: Ở đây cho phép khách mang đĩa mềm vào.

Phải nói là mừng hơn bắt được vàng.

Từ hôm đó, tôi thay đổi hoàn toàn lịch làm việc. Sáng có thể ung dung dậy muộn một chút, đi mua mấy tờ báo và tìm một quán cà phê yên tĩnh để ngồi. Tấm 10 giờ 30 quay về nhà chỉnh sửa lại bài viết đêm trước rồi copy bài ra 2-3 cái đĩa mềm (đề phòng bị hỏng), rồi tầm 12 giờ trưa (tức 6 giờ tối ở Hà Nội) tản bộ ra tiệm Internet để gửi bài. Sau đó quay về nhà ăn trưa, rồi chiều mới vào trung tâm và đến các sân vận động lấy tin. Tối về nhà viết bài, ăn tối rồi đi ngủ. Cứ như thế trong suốt 1 tháng còn lại.

Anh chủ quán Bắc Phi một hôm không nén nổi tò mò khi thấy tôi ngày nào cũng đến tiệm của anh vào một thời gian cố định. Anh hỏi tôi là người nước nào và tỏ ra vui mừng khi nghe cái tên "Việt Nam". Anh nói, anh biết Điện Biên Phủ.

Rồi anh hỏi: "Etes-vous amoureux?" (Anh đang yêu đấy à?). Tôi hỏi tại sao anh lại nghĩ thế? Anh đáp: "Chắc đang yêu nên mới ngày nào cũng thư từ"? Lại mở thêm một cái ngoặc đơn để nói với mọi người: Thời đó chat chít chưa phổ biến như bây giờ, không có YM, MSN, Skype hay ICQ gì hết.

Tôi giải thích cho anh ta công việc của mình. Anh thân mật hẳn lên: "Anh thấy Zidane chơi hay không? Tuyệt không? Zizou là đồng hương của tôi đấy!"

Hóa ra, anh là người Algeria. Tôi nói tôi rất hâm mộ Zidane.

Và anh dành cho tôi một đặc ân: Giảm giá 10% giá cước Internet và càphê.

Ảnh: Đường phố Montreuil. Nguồn: Internet

THAM KHẢO
BÊN LỀ WORLD CUP FRANCE 1998 (1)


BÊN LỀ WORLD CUP FRANCE 1998 (1)



Mùa hè năm 1998, tôi được tòa soạn cử đến Pháp để đưa tin về World Cup France 98. Không phải vì tôi là phóng viên thể thao, mà đơn giản là tôi biết chút ít tiếng Pháp. Tôi hơi băn khoăn, vì chưa bình luận bóng đá bao giờ, nhưng tòa soạn nói họ cần những bài viết về các chuyện diễn ra xung quanh World Cup, còn bình luận thì ngồi tại Việt Nam xem truyền hình cũng có thể làm được.

Thế là tôi ung dung lên đường.

Nhưng càng gần đến ngày lên đường thì thì tình càng có vẻ bi đát. Hàng không Pháp Air France đình công, khiến cho các chuyến bay từ Hà Nội đến Paris của hãng này bị hủy bỏ. Mà vé máy bay của tôi thì lại lỡ đặt chuyến của Air France. 10 ngày trước chuyến bay tôi trở thành khách hàng nhẵn mặt tại phòng vé của Air France ở đầu phố Bà Triệu (Hà Nội). Cuối cùng, họ linh động gửi tôi sang chuyến bay của Vietnam Airlines.

Máy bay kín đặc, không còn một chỗ trống. Có đến 1/3 trong số hành khách là các ông bà người Pháp, người Bỉ, người Thụy Sĩ sang Việt Nam xin con nuôi. Mấy chục đứa trẻ từ sơ sinh đến chưa đầy năm khóc váng cả máy bay. Lúc đầu ai cũng tỏ vẻ cảm thông, nhưng hành trình kéo dài mười mấy tiếng đồng hồ mà thỉnh thoảng lại phải nghe tiếng khóc trẻ con thì quả là mệt mỏi.

Nhưng đi Vietnam Airlines hóa ra không phải là phương án tồi.

Lần đầu đến Paris lạ nước lạ cái, khi về đến khách sạn chuẩn bị check in thì mới tá hỏa vì không thấy cái ví đựng 3000 đô đâu cả. Định thần một lúc mới nhớ ra đã bỏ quên nó trong cái túi đựng báo ở lưng ghế phía trước trên máy bay.

Vội vã quay lại sân bay Charles de Gaulle, vào văn phòng của Vietnam Airlines hỏi thăm, thì may quá, họ báo là có cái ví như vậy. Các nhân viên lao công đã phát hiện ra khi dọn dẹp máy bay. Tôi phải tường trình chi tiết trong ví có gì vào một tờ giấy, sau khi đối chiếu, thấy khớp, các nhân viên Vietnam Airlines mới trả ví lại (còn nguyên vẹn tiền bên trong), kèm theo lời nhắc nhở: "Paris trộm cắp như rươi, nhà báo cẩn thận hộ chiếu, tiền bạc, giấy tờ. Để quên trên máy bay còn tìm được, chứ lớ quớ ở Paris là khỏi về VN luôn đấy".

Hú vía. May mà đi Vietnam Airlines.

Mùa hè ở Paris thật đẹp. Nhưng do quá tất bật với công việc, phải chạy từ đầu này đến đầu kia của thành phố (nơi ở, trung tâm báo chí, sân Parc de Princes và sân Stad de France) nằm ở 4 góc của bản đồ Paris, nên hầu như không tận hưởng được gì trong suốt 1 tháng rưỡi ở Pháp. Điều lạ lùng nhất là người Pháp chẳng mấy hào hứng với World Cup. Họ rời khỏi Paris, đi nghỉ ở đâu đó, nhường thành phố cho đám cổ động viên đủ mọi màu da và sắc tộc, ồn ào và bẩn thỉu.

Tôi còn nhớ đã hỏi một người Pháp cảm tưởng về World Cup, thì anh ta nhăn mặt: "Bóng đá là dành cho thế giới thứ ba. Chỉ có dân các nước đang phát triển mới điên cuồng vì bóng đá".

Nhiều người Pháp cũng chẳng biết đội nhà gồm những ai, mặt mũi thế nào. Do chỉ kiếm được vé xem ba trận trên sân, nên đa phần các trận đấu tôi phải xem ở màn hình lớn dựng trên Quảng trường Tòa thị chính (L'hotel de Ville). Còn nhớ hôm đội Pháp đá với Nam Phi, tôi ngồi gần hai người đàn ông Pháp vừa uống bia vừa xem. Một ông hỏi bạn: "Trong hai đội kia đội nào là đội Pháp?". Người bạn đáp: "Đội nào nhiều cầu thủ da đen hơn thì là đội Nam Phi".

Chết cười, trên sân lúc đó, đội Pháp có số cầu thủ da mầu ngang ngửa với đội Nam Phi!

(có nên viết tiếp không nhỉ?)

BONUS: Hồi đó ở Paris suốt ngày được nghe bài này




26/1/10

CÀPHÊ VÀ TUYẾT



Tự nhiên muốn nhìn thấy tuyết bay. Vẫn còn nhớ buổi tối mùa đông đầu tiên ở Minsk cuối năm 1985. Ra khỏi rạp chiếu phim sau khi xem phim "Anh đào mùa đông" thì thấy tuyết rơi. Tuyết đầu mùa trắng tinh, xoay tròn trong gió. Ngửa cổ thích thú ngắm nhìn những bông tuyết nhỏ xíu lung linh trong ánh đèn đường, rơi nhẹ xuống tóc. Giơ tay hứng tuyết, thấy nó đậu nhè nhẹ lên tay và khe khẽ cựa mình tan chảy.

Tự nhiên muốn uống cà phê ở quán càphê của Gare de Lyon ở Paris. Quán nhỏ sực nức mùi càphê thơm nồng và quyến rũ, không hiểu những người đàn ông Thổ rang say và pha ra sao mà ly càphê lại thơm ngon đến như vậy. Ly càphê ở Paris chỉ bằng một phần ba ly càphê ở Việt Nam, tợp một miếng là hết. Muốn ngồi lâu phải gọi hai - ba ly.

Cái quán đó lúc nào cũng đông. Đủ loại người ngồi ở đây: da trắng, da đen, da nâu, da vàng, thuộc các nền văn hóa khác nhau với các đức tin khác nhau, nhưng cùng chung một niềm đam mê với càphê. Những bản nhạc Pháp lúc dạt dào lúc lơi lả làm cho cái không khí uống càphê rất vào.

Người sắp đi xa ngồi uống cà phê trước khi lên tầu. Người đi tiễn buồn rầu, lưu luyến. Người đến đón bồn chồn. Người vừa xuống tầu, muốn đôi chút thư thái để dọn mình bước vào thành phố đông đúc kia. Người vừa đón được ai đó cũng vào đây để uống mừng gặp mặt.

Đủ mọi tâm trạng.

Ly càphê là chất xúc tác đẩy họ đến tận cùng tâm trạng, có thể vui hơn, có thể buồn hơn. Càphê làm dung môi cho tất cả các cảm xúc.

Bỏ nỗi buồn vào đó khoắng cho nó tan ra.

Bỏ niềm vui vào đó nghe nó trào lên trong mùi hương.

Bỏ cô đơn vào đó để nhấm nháp vị đắng.

Bỏ tình yêu vào đó để thấy tim đập mạnh.

Bỏ tuyệt vọng vào đó để thấy nó tan chảy và hòa quyện trong một thứ dung dịch mà người ta khó chối từ...

Tôi đã ngồi đó chờ đợi chuyến tầu khởi hành từ Paris về miền đông nam nước Pháp. Ngoài kia tuyết rơi. Tuyết cuối mùa. Nó đã ngừng rơi từ cả tháng nay để nhường chỗ cho những bước chân rón rén của mùa xuân, nhưng rồi đột ngột quay trở lại để nói lời giã từ cuối cùng. Những chiếc áo khoác to sụ tối màu không còn nhiều, thay vào đó là những màu sắc mùa xuân rộn rã.

Đi qua ga tầu này có người bước hối hả, có người bước ung dung, có người chạy. Nhìn bước chân của họ, dáng vẻ của họ, gương mặt của họ có thể đoán được cuộc đời và số phận của mỗi người. Thật thú vị khi bỏ ra vài đồng franc ta có được quyền công khai theo dõi những con người đi qua mà không khiến ai phải khó chịu.

Tuyết và càphê. Một thứ trắng, một thứ đen.

Nào hãy gọi một ly càphê. Thả vào đó một chút đường. Giống như những bông tuyết nhẹ rơi xuống làn nước tối sẫm bốc khói nghi ngút. Hít một hơi thật mạnh mùi thơm quyến rũ tỏa ra từ ly càphê nóng hổi. Và nhấm nháp cuộc đời với dư vị tinh khôi mà trời đất thả vào qua những giọt tuyết.

Càphê và tuyết. Một thứ đen, một thứ trắng.

Ước gì có hai thứ ấy.

Ở quán càphê thơm nồng trên Gare de Lyon.



28/12/08

TIẾNG ĐÀN TRONG TẦU ĐIỆN NGẦM PARIS



Tôi không thích tầu điện ngầm Paris. Nguyên nhân là bởi vì tôi biết nó sau khi biết tầu điện ngầm ở Mátxcơva

Metro Paris xấu, nóng nực, ô nhiễm, không tiện dụng. Hành khách phải đi rạc cẳng mỗi lần chuyển tầu.

Bù lại những dàn nhạc ở metro thật tuyệt. Xuống metro ta có thể nghe đủ mọi loại nhạc do những nghệ sĩ đủ màu da trình tấu.

Hầu như tuần nào tôi cũng gặp anh vài ba lần. Khi thì vào buổi sáng, lúc tôi vội vã xách lỉnh kỉnh máy móc từ căn phòng thuê được của một người bạn ở Montreuil đến trung tâm báo chí của World Cup France 98. Khi thì vào chiều muộn, lúc tôi lê bước trở về sau một ngày chạy khắp thành phố chụp ảnh, làm tin, gửi bài.

Anh kéo đàn arcordeon. Những giai điệu Nga réo rắt, đủ làm thổn thức bất cứ một tâm hồn nào biết buồn. Anh thường đứng ở một vị trí ít người trong toa, say sưa kéo đàn như đang đứng trên một sân khấu lớn với hàng nghìn khán giả ngồi dưới.

Kéo xong, anh khép đàn làm một bên vai và ngả chiếc mũ phớt từ trên đầu xuống đi một lượt khắp toa. Ai thích thì đặt tiền vào cái mũ đó. Tuyệt đối không một lời xin.

Tôi gặp anh lần đầu vào lúc chiều muộn. Tiếng đàn huyền ảo của anh đánh thức những ký ức xa xôi về nước Nga. Khi anh đi qua chỗ tôi ngồi, tôi nói khẽ bằng tiếng Nga: "Nhạc rất tuyệt. Xin cảm ơn anh". Người đàn ông gật đầu và mỉm cười.

Và kể từ đó cứ mỗi lần gặp nhau, anh lại gật đầu. Đủ để tôi biết anh nhận ra tôi rồi lại mải miết với những giai điệu của mình.

Một tháng rưỡi làm World Cup trôi đi rất nhanh. Ngày gần cuối cùng trước khi rời Paris, tôi gặp anh trên chuyến tầu về nhà. Anh lại gật đầu khi nhìn thấy tôi.

Thế là tới đây tôi sẽ không còn cơ hội được nghe tiếng đàn khắc khoải của người nghệ sĩ tha hương này nữa. Anh sẽ còn ở đây bao lâu? Khi nào anh sẽ dừng chân và trở lại cố quốc? Nước Nga của anh có chờ đợi anh không?

Sực nhớ mình đã nghe nhạc miễn phí suốt một tháng rưỡi qua, tôi lục ví lấy ra một đồng 50 Franc.

Khi tiến đến gần chỗ tôi ngồi, người đàn ông đột ngột quay đi trong một động tác vươn tay đưa mũ cho một người phụ nữ ngồi ở hàng ghế bên kia.

Tôi không thể bỏ đồng 50 Franc của mình vào chiếc mũ đó.

Người nghệ sĩ đi xuống cuối toa. Anh bỏ những đồng tiền vừa kiếm được vào túi áo vest, đội mũ lên và quay đầu lại nói: "Merci beaucoup" (Cảm ơn). Và anh nhìn thẳng vào tôi đang ngồi chưng hửng vì không thực hiện được ý định của mình, nói bằng tiếng Nga: "Спасибо".

Tôi hiểu. Anh không nỡ lấy đồng bạc từ một người cũng vất vả kiếm tiền nơi đất khách như anh.

Ảnh của Corbis, chỉ có tính minh hoạ.

Blog counters

20/11/08

THẦN TƯỢNG



1. Tháng Tư năm 2004, tôi đến Pháp. Đi cùng một người bạn đến Bảo tàng Louvre. Tôi đã thăm bảo tàng này, nay cũng muốn dạo qua đó một vòng nữa, nhưng nhìn thấy dòng người xếp hàng quá dài mà ngán, nên đành từ bỏ ý định đó.

Chúng tôi rẽ vào quán càphê ở terrace bảo tàng trông ra khoảng sân rộng có kim tự tháp bằng thuỷ tinh nơi có vô số du khách đứng chụp hình. Lại xếp hàng. Nhưng hàng ngắn hơn và chừng 15 phút sau được bồi dẫn đến bàn.

Đi được nửa hai chục bước chân, tôi bỗng khựng lại.

Một người đàn ông chừng bảy chục tuổi mái tóc bạc trắng, dáng vẻ phong trần đang ngồi cùng một cặp còn rất trẻ. Ông mặc chiếc áo len đan bện thừng không cổ màu trắng, tay áo kéo lên hơi cao một chút, chiếc quần linen mầu ngà cùng đôi giầy lười màu be. Mặt đầy nếp nhăn nhưng toát lên vẻ hóm hỉnh qua nụ cười rộng hoác.

Trễ nải đầy phong độ, lịch lãm một cách phóng khoáng, sang trọng như thể sinh ra chỉ để sang trọng.

Đó là Jean Paul Belmondo, ngôi sao màn bạc nổi tiếng của Pháp trong thập niên 1950-1970, lừng lẫy với những vai diễn hành động như muốn nổ tung màn ảnh nhỏ đen trắng của những đứa trẻ mới lớn ở miền Bắc trong thập niên 1980.

Và giờ đây, ông đang ngồi đó, trước mắt tôi, cách tôi chỉ vài bước chân.

Người tôi như tê liệt, hàm cứng lại, cổ họng khô khốc. Người bồi quay lại nhìn tôi vẻ nhắc nhở. Tôi bước theo anh ta như một cái máy.

Về đến bàn dành cho mình, tôi ngồi xuống. Vài phút sau, sực nhớ ra chiếc máy ảnh cầm trong tay, một ý nghĩ chợt loé lên: Sao không xin chụp ảnh cùng ông, xin ông một chữ ký, chắc chắn ông sẽ không chối từ.

Tôi đứng lên và vội vã quay lại chỗ Jean Paul Belmondo ngồi. Nhưng cả ông lẫn cặp thanh niên đều không còn ở đó nữa...

Thật tiếc vì cơ hội như thế sẽ không bao giờ lặp lại nữa.

2. Richmond, bang Virginia, Hoa Kỳ, đầu tháng 11.2008. Tôi đến văn phòng tranh cử của Obama tại thành phố này.

Người Mỹ nói chung đều tốt bụng, luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác. Thấy một nhà báo, dù của nước nào, họ cũng vui vẻ tiếp đón và nói chuyện.

Ở đó tôi gặp Bob Hiett, 64 tuổi, một tình nguyện viên da trắng của Đảng Dân chủ. Ông bảo: "Anh cứ làm việc của anh đi, khi nào xong thì gọi tôi, tôi sẽ kể cho anh nghe chuyện này".

Y hẹn, khi đã hỏi han những nhân vật cần thiết, đủ tư liệu cho bài viết về hoạt động của văn phòng này, tôi gọi Bob Hiett. Ông nói: "Ta ra ngoài phố hút thuốc nhé".

Rít một hơi thuốc, ông kể: "Tôi đã được gặp Obama, trong cuộc diễn thuyết của ông ấy tại Richmond hồi tuần trước. Ông ấy là một con người kỳ lạ. Anh có tin không, nghe ông ấy nói, tôi thấy ông ấy là người trung thực, có nhân cách, có lương tâm. Ông ấy hùng biện, nhưng có chừng mực. Là công dân thế giới, va chạm với nhiều tầng lớp và nhiều nền văn hoá, ông ấy đo được độ nhạy cảm của thế giới. Ông ấy hiểu được những người không giống mình. Tuổi trẻ, sự nhạy cảm và thông minh sẽ cho ông ấy tất cả".

Tôi hỏi: "Khi gặp Obama, ông có cảm giác như thế nào?"

Bob Hiett nheo mắt: "Chưa bao giờ đứng gần một VIP như vậy, nên tôi hồi hộp ghê lắm. Thật kỳ lạ, tôi đã ở tuổi này, già hơn Obama gần hai chục tuổi, mà tôi thấy tim đập rộn ràng. Obama rất thân thiện. Tôi giơ tay ra và nói "Kemenangan", ông sững lại vài giây, bắt tay tôi và cười: "Terima kasih"! Đó là tôi nói bằng tiếng Indonesia. "Kemenangan" là chiến thắng, Obama đáp lại "Cảm ơn". Trước tôi đã có thời gian ở Malaysia, nên vẫn còn nhớ đôi ba từ Indonesia".

Bob Hiett khoe: "Anh biết không, các phóng viên ảnh đã chụp được khoảnh khắc đó và tấm ảnh Obama tươi cười bắt tay tôi được đăng trên trang Nhất của báo New York Times. Ngày hôm sau, cháu tôi gọi điện báo, tôi mừng khôn xiết. Tôi đã kiếm được một tờ và đó là kỷ niệm vô giá đối với tôi".

14/10/08

XA LẠ TRÊN MẶT ĐẤT (2)



Jean-Marie Gustave Le Clezio (Nobel Văn học 2008)

BÁNH MÌ

Tôi yêu bánh mì. Làm bánh – đó là một trong những hành động quan trọng nhất mà con người nghĩ ra. Xây nhà, dựng cầu, làm đường, đưa máy bay lên không trung hay điều khiển những đoàn tàu, phát kiến ra những hệ thống tính toán mới, viết, vẽ, chụp ảnh – tất cả đều không tồi. Sản xuất kim loại, kỹ thuật đúc, in sách, điện tín không dây, thu âm và thậm chí cả máy may – là những phát minh tuyệt vời, minh chứng cho khả năng đáng được ngưỡng vọng về phép suy diễn và tư duy sáng tạo. Thật khó mà hình dung được con người đã phải thử nghiệm bao nhiêu lần, chịu bao nhiêu thất bại và cần biết bao bền bỉ để tạo ra những tuyệt tác kỹ thuật.

Nhưng bánh mì!... Đó chính là nơi hội tụ của phép màu thứ thiệt. Thậm chí ta không thể gọi bánh mì là phát minh, bởi nó xuất hiện từ quá khứ thẳm sâu và gắn bó vô cùng mật thiết với đời sống của nhân loại, đến nỗi không thể hình dung được sự xuất hiện của nó. Bánh mì cũng là một phát minh như lửa, muối, quần áo, nấu thức ăn nóng. Như phát minh ra những chu trình của nghề nông, thuần dưỡng ngô hoang, ngũ cốc, lúa, chuối, chè, lạc. Tất thảy mọi loại cỏ cây đã từ lâu bước vào sinh hoạt của con người và có vị trí vững chãi đến nỗi biến chủng hoang của chúng hầu như đã biến mất hoàn toàn khỏi tự nhiên.

Phép màu trước hết của bánh mì là bột – thứ bụi nhẹ, thu được sau khi say giã hạt, thành quả của quá trình lao động lâu dài – nhưng lại không thể làm nên thức ăn nếu chỉ có một mình. Những thớt đá cối xay đã làm công việc trước công việc của hai hàm răng, cối xay phân chia nhỏ hạt ra biến chúng thành bột, thứ có thể đem quấy thành món ăn đầu tiên cho trẻ nhỏ. Thứ bụi đó, thứ bột không ăn được đó phải hòa với nước, khiến nó giống như ximăng. Đổ lên bàn thành hình núi giống như miệng hỏa diệm sơn, bột bánh mì giống như nguyên liệu xây dựng. Và khi đó phép màu – thứ phép cổ xưa nhất của thế giới – lại có hiệu lực. Đôi tay phụ nữ bắt đầu công việc của mình để biến thứ đó thành bột nhão.

Đôi tay to bản, khéo léo, với những ngón tay khỏe mạnh và lòng bàn tay rắn chắc lấy bột, trộn nó với nước, nhào, đánh, cán thành lớp dài. Đôi tay là công cụ thực tế của phép màu phi thực tế, mỗi cử động của chúng lại làm biến dạng bột nhão. Chúng sục sạo trong khối sền sệt ấy, thấm thêm nước, sau đó bóp chặt lại để nước thừa chảy ra. Lòng bàn tay đóng, mềm mại và tròn trịa bao quanh khối bột, biến nó thành trái bóng và nêm chặt nó lại. Những ngón tay và nắm đấm cán bẹp nó, rồi vò rồi xoa làm nó tơi ra. Sau đó nó lại được cầm vào trong lòng bàn tay, cuốn tròn lại thành cục, và thế là mỗi phần của bột nhão hết ở ngoài rồi lộn vào trong, đều kịp thẩm thấu không khí và nước.

Cả quá trình ấy có nhạc điệu riêng: hai bàn tay túm nắm bột nhão lớn, gõ nó xuống bàn, vò nhàu và xé thành từng mảnh. Những ngón tay đánh vào đống bột nhão đó, bàn tay vừa vỗ vừa giẫm đạp lên nó. Đó là nhạc điệu của những bàn tay, giống như nhạc điệu của những người thợ đẽo đá, hay nhạc điệu của những người thợ nề, một thứ nhạc điệu cụ thể, nhịp nhàng và khi ta nghe nó hòa lẫn với âm thanh của tiếng thở, ta sẽ nghe thấy nhạc điệu cổ xưa nhất của thế giới, thứ nhạc điệu xuất hiện trên trái đất cùng với những bộ lạc người đầu tiên.

Phép màu còn có cả trong một phát kiến kỳ diệu nữa - ủ chua. Làm thế nào mà vào một ngày đẹp trời, người ta lại có ý nghĩ đưa vào khối bột nhão thô kệch và nặng nề, trông giống ximăng hơn là thứ có thể ăn được, một chất khiến nó nở tung ra, hấp thụ đầy không khí và trở nên dễ tiêu hóa? Điều đã xảy ra là sự sơ xuất hay tình cờ? Một lần có ai đó đã đưa vào đống bộn nhão mới trộn, chỗ bột nhão từ ngày hôm qua đã kịp chua sau một đêm – do lơ đãng hay do tiếc của? Nhưng đó lại là thành tố thần diệu, chỉ một chút ít của nó cũng đủ để biến đổi toàn bộ số bột nhão và kết quả đạt được thật đáng kinh ngạc: đó chính là bánh mì.

Vào thời đó cái chất ấy là chất tự nhiên, bởi chưng hàm lượng toan dịch trong quá trình ủ chua cũng giống hệt như trong bộ máy tiêu hóa. Ủ chua – đấy là sự tiếp nối của nước bọt, nó sửa soạn cho hiện tượng hấp thụ. Đó cũng chính là điều kỳ diệu, mặc dù có phần phức tạp hơn, được sử dụng khi chưng cất một số loại rượu tự nấu: nước bọt rơi vào nồi làm lên men ngô và thế là có rượu.

Phép màu còn nằm cả ở trong trình tự hành động, được lặp đi lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, như một nghi lễ và truyền đến với chúng ta. Bánh mì, được nặn trên bàn, đó là một cục bột nhão khá lớn được lăn bột và phủ bằng khăn ẩm. Nó nằm đấy và định hình trong lúc chờ đợi được đem nướng. Có lẽ, trong số những phát minh của loài người không gì chân chính và hoàn hảo hơn bánh mì. Công việc của đôi bàn tay với đống bột nhão không khác gì công việc của đấng tạo hoá nặn ra cơ thể con người, còn ủ chua thì tương tự như chính quá trình lên men sự sống.

Sau đó đôi tay nặn lên chiếc lò nướng bằng đất sét trên bộ khung gồm những thanh kim loại. Đôi tay nhóm lửa trên đống than củi tưới dầu. Phép màu cuối cùng diễn ra khi bánh mì được nướng từ từ trên lá kim koại trong bầu không khí nóng rẫy của lò nướng. Vỏ bột cứng lên và có màu vàng óng thật đẹp. Ruột bánh được hình thành với đầy những bong bóng khí. Một mùi thơm dìu dịu, thứ mùi khiến ta yên tâm và vui sướng, hoà lẫn với khói lan toả trong không gian.

Sau đó, khi bánh mì đã được nướng chín và nằm trên bàn, cũng đôi tay khoẻ mạnh với lòng bàn tay rắn chắc đó chia nó ra thành những lát bằng nhau.

Dịch qua bản tiếng Nga của Irina Kuznetsova

XA LẠ TRÊN MẶT ĐẤT (1)

13/10/08

XA LẠ TRÊN MẶT ĐẤT (1)



Jean-Marie Gustave Le Clezio (Nobel Văn học 2008)

BUỔI SÁNG

Tôi yêu cuộc sống mỗi sớm mai. Khi mặt trời còn chưa chịu thức giấc, khi không khí còn sạch sẽ tinh khôi, mọi sự đều giản dị và nhẹ bỗng. Ta từ giấc mơ quay trở lại , giống như quay trở lại sau chuyến viễn du đến những miền đất xa xôi và chợt thấy tất cả xung quanh ta đều đã biến đổi.

Không gian lạnh, bầu trời cũng lạnh. Ánh sáng hãy còn rất rụt rè, chứa đựng một chút gì đó của màn đêm, vừa chậm rãi vừa xa vắng. Nhưng dù thế nào thì thế giới cũng không bao giờ mở cho ta một tầm mắt rõ ràng và rành mạch đến thế giống như vào buổi sáng sớm. Ta thấy rõ từng chiếc lá trên cây, từng ngọn cỏ và từng phiến đá trên vỉa hè. Ta thấy rõ những ngọn núi, những ngôi nhà, những con đường và cả ngọn khói. Tất cả đều hiển hiện rõ nét như vẽ. Ta thấy rõ từng ngọn sóng biển, và ở xa tít chân trời là bóng dáng của những con tầu biển khổng lồ.

Tất cả đều ẩn chứa niềm hân hoan, nhẹ tênh! Mặt đất sạch trơn, không còn ranh mãnh, giống như sau mỗi trận mưa, cơn gió. Ý nghĩ vẫn chưa đem khói đến bao phủ thành phố. Người ta rảo bước thật nhanh, rụt đầu trong lớp cổ áo khoác, trên môi họ thấp thoáng làn mây ẩm ướt. Người ta đi im lặng. Đi xe máy trên những con phố.

Những cánh cửa sổ các ngôi nhà vẫn còn đóng kín, các cửa hiệu buông hàng rèm sắt. Tất cả vẫn như trong đêm, mặc kệ ánh sáng ban ngày đang về.

Vào thời khắc đó, thế giới vẫn còn yên bình và tuyệt đẹp, khi mà vẫn chưa có gì đi làm. Vạn vật nghỉ ngơi, những tán cây, con sông, bầu trời và biển cả. Mặt trời phi nhanh lên cao, vội vã về phía thiên đỉnh. Chính tôi cũng không biết đang ở đâu vào thời khắc này. Tôi không có tên, không có công việc, tôi không chờ đợi gì và không mong muốn gì. Chỉ rảo bước và hít thở. Dường như tôi là người cô lữ, vừa xuống khỏi con tầu đã đi ngang qua cả lục địa sau một đêm: tôi đi trên những đường phố xa lạ nơi mà không một ai phát hiện ra tôi. Tôi nhìn những ngã tư, những vườn hoa nhỏ, đọc những cái tên mà tôi cảm thấy khá lạ lẫm, tôi đi hú họa. Không khí lạnh lẽo, trong trẻo và lặng lẽ, tôi đang tồn tại trong cái khối ấy. Ở đây vẫn chưa một ai có tên. Dường như không tồn tại ý nghĩ, tiếng nói, mà tất cả mới chỉ là những viên đá có hình dạng rõ ràng, những tán cây tỉa gọn, những đài phun nước, những con phố vắng tanh, những chiếc xe hơi ướt đẫm sương và cái chính là bầu trời rộng lớn xanh xao với những đám mây bất động được mặt trời hắt ánh sáng lên từ bên dưới.

Những gương mặt chưa có dấu hiệu mệt mỏi. Chúng vẫn còn ngái ngủ, đưa mắt nhìn ánh sáng sớm trong trẻo và cũng lấp lánh thứ ánh sáng huyền bí nào đó của mình còn sót lại từ đêm.

Người ta hầu như không trò chuyện. Chẳng qua thỉnh thoảng có trao đổi dăm ba câu chào hỏi.

“Xin chào!”

“Xin chào!”

“Thời tiết đẹp quá!”

“Vâng, quả là một ngày tuyệt diệu!”

Đó là tất cả những gì người ta nói với nhau, như những cái máy.

Họ không ăn, không hút. Họ sửa soạn, nhìn ra ngoài trời, hay nhìn ra biển. Họ vẫn còn chưa nhớ hết những gì đã xảy ra hôm qua, đối với họ dường như không thể có chuyện hai con đường hòa vào làm một.

Nhưng không có bất hòa. Mỗi người đều thống nhất trong nội tại của mình và sẵn sàng tham gia, sẵn sàng lắng nghe. Khi họ lần lượt bước ra khỏi nhà mình với dáng vẻ sững sờ, tôi nhìn họ không một chút hoài nghi, họ giống như những con chim biển lớn bay qua lượn lại trên những bãi tắm.

Tôi không cần biết gương mặt họ, nhận diện ra họ khi gặp gỡ. Không cần phải nói chuyện với họ. Tất cả đều giản đơn vào thời khắc này, mỗi thứ đều có vị trí của nó, mỗi người đều đi theo con đường của mình, không động chạm với ai. Tôi muốn kéo dài thời khắc này, cái thời khắc của không gian lạnh lẽo mà thanh bình và ánh sáng xanh xao.

Khởi đầu một ngày dường như mở ra những ranh giới của thời gian. Không điều gì phá vỡ sự tĩnh lặng, không điều gì lừa mị và không điều gì làm cho ta lóa mắt. Tôi những muốn giữ thật lâu cho mình sự trong trẻo, nhẹ tênh này, sống chẳng cần tên, chẳng cần cá tính, chẳng cần mục đích, hệt như tôi đến chỗ hẹn sớm và không có gì để làm ngoài việc phải đợi, kiên nhẫn và lâu, đến nỗi suýt nữa thì quên mình đang đợi cái gì. Tôi những muốn sống trong sự soi rọi này nhưng không phá vỡ sự gần gụi giữa trời và biển. Dường như tôi không bao giờ phải nghĩ lại, phải biết, dường như không còn gì nghiêm túc có thể xảy ra.

Sau một đêm người ta đã biết thành những con thú nhỏ, những con côn trùng, chúng lấp lánh và nhảy những bước nhỏ xíu. Xung quanh chúng chẳng có gì ngoài những cọng cỏ, bầu trời trong sáng và những hạt nước lóng lánh.

Sau đó sớm mai nhẹ gót rời bước, lướt đi và tan biến. Lại xuất hiện những cái tên, những nghề nghiệp, những gương mặt, những lời nói, những nghĩ suy, tất cả những cạm bẫy của chúng ta. Ánh sáng trở nên gay gắt, không khí nặng dần. Khói tích tụ trên đầu thành phố, bao phủ bầu trời. Tất cả chấm dứt. Chúng ta bị mất nhau. Không khí không còn trong trẻo nữa, biển già đi.

Trên trái đất này có chỗ nào mãi luôn là buổi sáng không?

(còn nữa)

Tranh: Sáng sớm đi dạo của Debbie Neil

 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết