Hiển thị các bài đăng có nhãn bao cấp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bao cấp. Hiển thị tất cả bài đăng

6/8/11

PHỤ NỮ THỰC RA RẤT ĐẸP



LINH EVIL

Sinh ra trong thời kỳ sau bao cấp, lớn lên trong thời kỳ đổi mới, kinh tế mở cửa… và trưởng thành giữa các bạn bè của một thế hệ đổ vỡ, mình đã quá quen chuyện bản thân cũng như lũ bạn bè là con của gia đình có bố mẹ ly hôn, chuyện ấy dần trở thành rất đỗi bình thường.

Có lẽ những năm 1990 của thế kỷ 20, chính là lúc người đàn ông và người đàn bà đứng lên bàn cân và cán cân cân bằng không nghiêng về phía nào một cách đặc biệt. Giá trị gia đình Việt đã hoàn toàn thay đổi, phụ nữ đã phải đợi cho đến tận thời điểm đó, mới thực sự dám giải quyết những khủng hoảng hậu hôn nhân với giải pháp “ly hôn”. Và vai trò của người đàn ông trong gia đình dần được “xét lại”.

20 năm sau, những đứa trẻ từ thế hệ đổ vỡ đến tuổi lấy vợ, lấy chồng, sinh con đẻ cái. Họ có thực sự được tự do hơn khi bước vào hôn nhân cũng như khi bước ra khỏi nó? Họ có giẫm vào những vết xe đổ của bố mẹ mình khi xét lại thế quân bình cũng như nghĩa vụ của người vợ người chồng? Câu trả lời có lẽ là có và không!
Hôm qua bạn bảo “Mày tin nổi không, sau một đêm nghiên cứu điều luật, tao chưa thể ly dị chồng. Vì luật pháp không cho phép vợ chồng có con dưới một tuổi ly hôn!”

Thế mà mình lại toét miệng cười. Mừng quá, vì mình nghĩ lần này pháp luật đã có một can thiệp có ích. Có lẽ luật pháp đã lường trước đến những khủng hoảng hậu hôn nhân, lường trước những cơn suy kiệt của phụ nữ sau khi sinh nở. Ngày nay giải pháp nhanh – gọn “ly hôn” dường như đang được lựa chọn khá quyết đoán, nhất là với phụ nữ… Vì đàn ông vẫn còn đang hoang mang không hiểu vì sao vợ lại bỏ mình?…

Nếu như ở thế giới phương Tây, đàn ông vô cùng thận trọng với hôn nhân. Không hiếm trường hợp chú rể quyết định rút lui ngay tại lễ cưới, hoặc rút lui khỏi cuộc hôn nhân trước khi có sự tham gia của đứa con vào cuộc đời hai người. Vì người đàn ông hiểu rằng, với gia đình cuộc đời họ sẽ hoàn toàn lộn nhào; sự tự do, tính cá nhân chủ nghĩa sẽ phải dẹp sang một bên cho một cuộc sum vầy lớn và lâu dài. Nhưng ở Việt Nam phần đông chú rể bước vào đám cưới với nụ cười lớn trên môi, một tối động phòng say và mệt nhoài, sáng hôm sau khi thức dậy họ sẽ tiếp tục sống cuộc đời của mình với không nhiều thay đổi.

Tất nhiên tôi không ghét đàn ông Việt, tôi yêu họ, thậm chí dũng cảm nhìn vào các thói xấu của họ rồi lấy họ làm chồng sinh con. Nhưng phải thú thực rằng, từ khi gắn bó cuộc đời mình với một người đàn ông, tôi luôn đi cả hai chân trên đất bằng, và tôi bắt đầu tiến sát về phe phụ nữ hơn. Tôi biết ngoại trừ những phụ nữ hạnh phúc hoặc tự thoả hiệp lấy hạnh phúc cho mình. Ngoài kia có rất nhiều phụ nữ đang lâm vào khủng hoảng sau hôn nhân, người cam chịu với số phận và người mong muốn được thoát ra, đi đường tắt “ly hôn” để bắt đầu một cuộc sống single mom không hoàn hảo nhưng hạnh phúc.

Lâu rồi, tôi viết khá nhiều tạp văn dành nhiều thiện cảm cho phụ nữ, nhưng thực ra trong thâm tâm tôi viết chúng cho đàn ông đọc. Tôi hy vọng viển vông rằng, ở ngoài kia, sẽ có những người đàn ông cởi mở… đọc nó và hiểu thêm về phụ nữ. Để không nói là yêu hơn mà chỉ cần thông cảm hơn với vợ mình.

Tôi biết những người đàn ông không lớn lên… Tôi cũng biết những người đàn ông không thay đổi… Và tôi biết những người đàn ông ích kỷ không bao giờ đón nhận tâm sự thẳng thắn từ phụ nữ.

Tôi cũng biết những người đàn ông tốt. Tốt với gia đình theo một ngữ nghĩa đơn giản và bình dị. Họ chỉ gần hơn một chút với người phụ nữ của cuộc đời mình, nắm giữ những trách nhiệm mặc định dành cho họ.

Phụ nữ không phải là một thế giới khác, không phải là những người hay than thở, lắm điều, ghen tuông, hờn giận vô lý và trở nên khó hiểu sau khi sinh con. Họ chỉ là giới tính có quá nhiều thương yêu và kỳ vọng. Hiểu họ không khó, yêu họ không khó và làm họ hạnh phúc cũng vô cùng đơn giản.

Tôi biết, có những người phụ nữ chỉ cần đàn ông vào bếp cùng, ngỏ ý giúp họ nhặt một mớ rau, chiên một quả trứng, là phụ nữ đã ửng hồng, gạt phăng tay chồng đi để nấu một bữa cơm ngon nhất từ trước giờ.

Tôi biết, có những người phụ nữ, chỉ cần chồng một lần đi làm về sớm, giúp cho con ăn một bữa bột, bế con đi chơi một vòng… là đêm ấy họ sẽ rạng ngời mặn nồng với chồng như chưa bao giờ lạnh nhạt sau sinh.

Tôi biết, có vô vàn những phụ nữ từ chối một bó hoa hồng bất ngờ từ chồng trong ngày lễ tình nhân với lý do “mua chi cho tốn kém”. Nhưng họ sẽ yêu bạn sâu đậm hơn tất thảy khi thấy chồng ở bậu cửa với nụ cười và một bó hoa.

Đàn ông không biết rằng, vợ của họ, sau khi từ giã đời sống độc thân, sau khi có con. Họ đã không có một cuộc đời của riêng mình nữa. Họ sẽ mãi mãi sống hai cuộc đời, sẽ dần dần lụi tàn bản ngã thực mà trở thành một ai đó như “vợ ông A” “mẹ cháu B”… Đàn ông không biết rằng phụ nữ dành thời gian nhiều gấp 15 lần chồng để chăm sóc con. Và nhiều hơn thế để lo vẹn toàn cho gia đình.

Tất nhiên tôi biết phụ nữ chưa thể vượt xa hơn cái vỏ bọc của mình, để sống thẳng thắn hơn, mạnh mẽ hơn và bất cần hơn trong quan hệ với chồng. Và sự thoả hiệp với sự thiếu trách nhiệm, sự vô ơn, sự không chung thuỷ cũng vẫn là một phần của cuộc đời họ. Tôi cũng biết với nhiều người phụ nữ thông minh mạnh mẽ và thành đạt, họ vẫn đang sống thoả hiệp từng bước một.

Nhưng ở một khía cạnh khác đàn ông nên biết rằng trong số các vụ ly hôn, tỷ lệ nguyên đơn là phụ nữ chiếm đa số. Vì chưa bao giờ, ly hôn, lại trở nên sòng phẳng đến như thế đối với họ.

Nếu đứng lên bàn cân ngày nay, có lẽ cán cân không còn thăng bằng như những năm 1990 nữa. Và người ta không định nghĩa về những thế hệ đổ vỡ tiếp theo…

Tôi chỉ mong rằng, khi cán cân thăng bằng. Nó không đồng nghĩa với việc thăng bằng về quyền lợi, mà nó thăng bằng dựa trên tình yêu họ dành cho nhau, và trách nhiệm họ chia sẻ.

Và khi đó, đàn ông ạ, bạn sẽ nhận ra phụ nữ thực ra rất đẹp.

Nguồn:
Phụ nữ thực ra rất đẹp



21/2/11

BÁNH CHƯNG QUA RẰM




Bánh chưng để qua Rằm tháng Giêng thì chắc chắn là thiu hết. Năm nay lạnh, bánh có thể không thiu, nhưng chắc chắn sẽ bị “lại gạo”.

Thật ra, nàng cũng không dám chắc điều đó. Nàng chỉ phỏng đoán khi nhìn thấy 8 cái bánh chưng dài vẫn để trong tủ lạnh. Bánh chưng dài thì gọi là “bánh tày”. Đấy là cách gọi của quê nàng, vùng bán sơn địa, bao năm vẫn chẳng thay đổi chút gì. Rõ nhất là cái bánh chưng ngày Tết bao năm vẫn... dài như thế, xắt ra thành những khoanh tròn, gắp vào bát, lấy đũa “gẩy” chút nhân ở giữa ra, là miếng bánh chưng bị thủng một lỗ hệt như đồng xu. Một “đồng xu” chán nhất thế giới.

Nàng chán cái bánh chưng dài quê nàng từ hồi nhỏ. Bà ngoại ngày xưa, cùng mẹ nàng và các dì là những người rất khéo léo. Nàng phải thừa nhận như thế. Bánh chưng được gói rất tròn, rất chặt, xắt ra đĩa rất đẹp, nhưng phải mỗi tội là rất ít nhân. Mỗi “đồng xu” bánh chưng ấy chỉ có một nhúm nhân đỗ ở giữa và một mẩu thịt tựa như một hòn bi. Từ hồi còn bé, mỗi lần chuẩn bị nấu bánh chưng là nàng lại “ì èo” với bà với mẹ về chuyện này.

Nhưng công thức 9 đấu gạo một đấu đỗ, 2 lạng thịt cho nồi bánh chưng Tết đã hằn vào trong óc bà ngoại nàng từ thời tản cư đói kém, rồi truyền cho mẹ nàng và các dì trong thời bao cấp khốn khổ. Mẹ nàng, kể cả khi con cái đã thành đạt, vẫn không chịu bỏ công thức đó. (Tết năm nọ, hồi nàng sắp lấy chồng, hai mẹ con suýt cãi nhau chỉ vì nàng xúc thêm mấy đấu đỗ nữa để ngâm thêm. Không can được con, mẹ nàng quay ra sụt sịt than nghèo kể khổ, vu cho nàng sắp về thành phố giàu có, ăn sung mặc sướng rồi, coi khinh mẹ và các dì ở quê. Đến nước đó thì nàng đành phải chấp nhận ăn một cái Tết cuối cùng ở quê với những “đồng xu” bánh chưng chán nhất thế giới).

Cũng như mẹ nàng, các dì của nàng kể từ khi lập gia đình riêng, cũng kế thừa công thức bánh chưng ấy một cách xuất sắc. Cho đến tận Tết này, khi nàng đưa gia đình về quê dự đám khao thọ của mẹ, giữa mâm cỗ ê hề, nàng vẫn thấy những “đồng xu” bánh chưng khốn khổ ngày nào: chỉ có một tí nhân ở giữa. Thằng cu nhà nàng, hệt như nàng ngày xưa, dùng đũa chọc thủng miếng nhân bằng hai ngón tay ở giữa, rồi xỏ miếng bánh chưng vào chiếc đũa chạy nhung nhăng khắp nhà. Chồng nào phì cười. Nàng cũng cười nhưng trong lòng thấy ngường ngượng.

Nỗi ám ảnh bánh chưng không buông tha nàng khi trở về thành phố, mẹ nàng, các dì nàng xúm xít chạy theo, mỗi người xách toòng teng theo một xâu hai cái bánh chưng buộc díu vào nhau. Phải vất vả lắm, nàng mới ngăn được cả một nong bánh chưng muốn đổ vào cốp xe ô tô. Dì Ba, dì Tư, dì Năm cùng bảo, bánh chưng biếu nàng đã được mẹ và các dì để dành suốt cả Tết, cháu không nhận thì các dì vứt bỏ ra ao đấy. Các con dì cũng xúm lại bảo, hai cái bánh chưng cho chị, mẹ chúng em đã buộc díu lạt vào nhau để đánh dấu từ khi gói. Cả Tết, mẹ chúng em cứ thấp thỏm chờ chị về, chị không nhận bọn em buồn lắm đấy.

Cuối cùng nàng phải nhận mỗi nhà một đôi bánh chưng, tổng cộng 8 cái, chắc phải ăn cả tuần mới hết.

Nói vậy thôi, chứ 8 cái bánh chưng ấy ăn hết thế nào được. Cứ nghĩ đến việc xắt ra thành những “đồng xu” bánh chưng, nàng đã thấy phát ớn. Đã thế mẹ nàng, các dì nàng mấy lần điện xuống để hỏi thăm công việc đầu Xuân, vẫn không quên hỏi bánh chưng có ngon không, đã ăn hết chưa? Suýt nữa nàng phì cười thành tiếng.

Và bây giờ, đã qua Rằm tháng Giêng, nàng tin rằng tất cả chúng đã thiu hoặc chí ít là “lại gạo”, không ăn được nữa.

Nàng yên tâm vứt chúng ra thùng rác trước cửa, cả thảy 8 cái bánh. Sáng hôm sau, nàng hơi ân hận khi thùng rác bị chuột bới lung tung, mấy cái bánh chưng bị chúng kéo ra khắp cổng, cắn xé vương vãi. Trong khi dọn dẹp, nàng bỗng thấy đỗ xanh và thịt rất nhiều, bị chuột tha đi khắp nơi. Nàng nhặt một đôi bánh chưng mới bị chuột cắn một góc lên lên. Bên trong là cả một khối toàn nhân đỗ với thịt, chỉ có một lớp bánh bao bên ngoài, mỏng như vỏ vải.

Lũ chuột dù cắn xé tả tơi, vẫn không cắn đứt được những chiếc lạt mà mẹ nàng và các dì đã cố ý buộc từng đôi bánh lại với nhau để đánh dấu. Nàng chợt hiểu ra rằng đó là những cặp bánh chưng đặc biệt mà quê ngoại đã vượt qua “công thức chán nhất thế giới” để gói dành riêng cho nàng.

Thiếu Phương


Nguồn:
Bánh chưng qua rằm



29/9/10

LAYƠN TRẮNG



Layơn là tên theo tiếng Pháp (Glaïeul) của một loài hoa có thân dài như một cây kiếm với những bông hoa (hoặc đỏ, hồng, hoặc trắng) nở dọc thân cây. Thời nay người mua layơn thường là các bà nội trợ. Họ cắm layơn vào những chiếc bình sâu và đặt lên bàn thờ vào mỗi dịp giỗ chạp, ngày rằm hoặc mồng một.

Nhưng layơn, đặc biệt là layơn trắng có một quá khứ huy hoàng hơn thế. Thời bao cấp ở miền Bắc, nó được coi là nữ hoàng của các loại hoa, đẹp đẽ và sang trọng thường dùng trong dịp Tết hoặc cưới hỏi.

Tôi nhớ hồi học lớp 3 lớp 4 gì đó, gia đình hàng xóm gả chồng cho con gái. Chị Hạnh xinh đẹp, gương mặt tròn vành vạnh, tốt nghiệp trường sư phạm 7+3 về dạy cấp hai ở một trường cách thị xã gần hai chục cây số. Chả hiểu thế nào chị phải lòng anh Tiến, bộ đội nghĩa vụ, đóng quân gần nhà. Anh Tiến đen, gầy nhẳng, mặt lưỡi cày, mắt trắng môi thâm. Hai người đứng cạnh nhau chẳng đẹp đôi tẹo nào.

Bố mẹ chị Hạnh không thích anh Tiến. Bố chị Hạnh là thẩm phán tòa án nhân dân thị xã, trong khi bố mẹ anh Tiến là nông dân. Họ không khinh anh Tiến, nhưng tin rằng chị Hạnh với vẻ ngoài xinh đẹp, có công ăn việc làm đàng hoàng, lại thuộc gia đình cán bộ, thì kiếm đâu chẳng được một chàng rể khá hơn.

Chẳng rõ ăn bùa mê thuốc lú thế nào mà chị Hạnh nhất định chỉ chịu cưới anh Tiến. Chị bảo, nếu bố mẹ không đồng ý, chị sẽ ở vậy suốt đời... Xinh đẹp thế kia mà định ở giá sao? Nghe thế, mẹ chị phát hoảng. Năm đó chị cũng đã 23-24 tuổi, tức là ngấp nghé tuổi ế rồi. Bỏ đám này, thì bao giờ mới có đám khác? Thôi, đất không chịu trời thì trời đành chịu đất.

Chị Hạnh thấy mẹ có vẻ xiêu xiêu thì dấn thêm một bước: Con sẽ không đòi hỏi gì cả. Không cần chăn bông con công, phích nước Rạng Đông gì hết; cũng không cần áo dài khăn voan, hoa cô dâu. Chỉ cần bố mẹ đồng ý, chi đoàn con làm đám cưới đời sống mới, bánh kẹo nước trà thuốc lá, con mặc quần lụa đen áo trắng, chú rể mặc quân phục là xong.

Mẹ chị nghe thế mà ứa nước mắt. Thời bao cấp khó khăn, nhưng làm gì khó đến mức gả chồng cho cô con gái duy nhất mà như đuổi ra khỏi nhà như thế?

Hai bác tính: Đám cưới đời sống mới thì đúng rồi; ông thẩm phán tòa án nhân dân thị xã mà tổ chức đám cưới dềnh dàng cho con gái vừa tốn tiền lại vừa dễ bị phê bình là lãng phí (thời đó chưa có tục mừng tiền như bây giờ, nên đám cưới càng bày vẽ càng lỗ); nhưng những thứ đồ dùng cho gia đình của con gái, nếu mình không lo thì ai lo? Gia đình nhà trai thì nghèo, chú rể là lính nghĩa vụ làm gì có tiền? Nhà mình dẫu sao cũng đỡ hơn, mình phải lo thôi.

Thế là bán lợn, bán gà, vay mượn để sắm cho con gái cái chăn bông vỏ hoa, cái phích Rạng Đông, bát đĩa, nồi niêu xoong chảo và một số vật dụng thiết yếu khác. Cô dâu kiên quyết không mặc áo dài khăn voan, nhưng khi thấy mẹ hỏi về bó hoa layơn trắng ôm suốt đoạn đường để chú rể đèo trên xe đạp về nhà chồng, thì chị ngập ngừng: "Cái đó thì tùy mẹ".

Nhưng hoa layơn trắng không thể mua được ở thị xã phố núi lúc bấy giờ. Mẹ chị phải xin giấy giới thiệu của cơ quan đi công tác để mua vé ôtô về Hà Nội mua hoa cưới cho con gái. Bà đi trước lễ cưới 2 hôm, nhưng đến ngày cưới 2 giờ trước khi nhà trai đến đón dâu bà vẫn chưa về.

Cả nhà chị Hạnh như ngồi trên đống lửa. Mọi người lo cô dâu không có hoa ôm thì ít, lo cho bác gái có chuyện gì trên đường đi thì nhiều. Cậu em trai chị Hạnh hơn tôi 2 tuổi được phái đạp xe ra bến ôtô cách nhà 3km để đón mẹ.

Nhà trai đến, pháo nổ rộn ràng, mà vẫn chưa thấy tăm hơi mẹ cô dâu đâu. Cô dâu ngồi trong buồng, mắt đã hoe hoe đỏ, lòng dạ ngổn ngang, tai để tận ngoài ngõ.

Thế rồi có tiếng reo: "Mẹ về, mẹ về rồi"... Chị Hạnh không giữ ý tứ, vén riđô ở cửa buồng nhìn ra. Mẹ chị mặt mày đen nhẻm vì bụi đường, ôm bó hoa được bọc kỹ trong giấy báo, lao thẳng từ cổng vào nhà. Bà thở hổn hển: "May quá, may quá, suýt nữa thì lỡ hết việc của con".

Bà vội vã tháo lớp giấy báo ra khỏi bó hoa, để lộ ra những bông layơn trắng muốt, không một chút dập nát.

Cô dâu ôm bó layơn trắng như ôm một báu vật, bẽn lẽn ngồi lên sau xe đạp của chồng.

Chờ nhà trai đưa con gái đi khuất, bà mới mệt mỏi kể: Chuyến xe ôtô từ Hà Nội khởi hành lúc 6 giờ sáng, theo dự kiến sẽ đến thị xã của chúng tôi lúc 12 giờ trưa - 4 giờ trước khi nhà trai đến đón dâu. Nhưng chiếc xe ôtô hỏng khi còn cách thị xã hơn 50 km. Chờ một lúc, xe vẫn không được sửa xong, bà tìm đủ mọi cách, vẫy mọi loại xe để kịp thời về đúng giờ con gái về nhà chồng.

Hôm sau, vợ chồng về lại mặt, hay chuyện, chị Hạnh khóc hu hu. Chị hối hận, giá đừng lưỡng lự "tùy mẹ" về vụ hoa cưới, thì chắc mẹ chị đã chẳng bị một phen vất vả như thế...

...Tôi vẫn hay trở lại thị xã tuổi thơ. Mỗi lần đi qua khu phố nơi đã từng ở xưa kia, tôi lại đưa mắt tìm những ngôi nhà cũ. Thị xã mỗi năm một mới, ngôi nhà lá nơi mẹ con tôi ở đã bị phá đi từ lâu. Nhà của bác hàng xóm cũng thế. Chẳng biết họ còn ở đó hay đã chuyển đi đâu rồi.

Chị Hạnh giờ cũng đã gần 60, chắc đã là bà già về hưu rồi. Không rõ số phận của chị với người chồng mặt lưỡi cày, mắt trắng môi thâm từ đó đến nay thế nào.

Ghi chú: Ảnh không liên quan đến bài viết.

Entries liên quan:
TRUNG THU THỜI BAO CẤP
THÈM BÁNH NƯỚNG MẬU DỊCH
TỪ NGỮ THỜI BAO CẤP
12 ƯU VIỆT SO VỚI THỜI BAO CẤP



5/8/10

12 ƯU VIỆT SO VỚI THỜI BAO CẤP



1. Thời bao cấp không ai có điện thoại di động, giờ hầu như ai cũng có, thậm chí có người có đến vài ba chiếc.

2. Thời bao cấp người ta nghe nhạc từ những chiếc máy quay đĩa, radico cassette, máy AKAI băng cối, giờ chúng ta nghe CD, DVD và MP3.


3. Thời bao cấp không tải được phim từ mạng, bây giờ cứ có Internet là tải được phim.


4. Thời bao cấp thậm chí đến lãnh đạo cũng không được xem Avatar bằng công nghệ 3D, giờ cứ chỗ nào có multiplex là xem được Avatar 3D.


5. Thời bao cấp không có truyền hình vệ tinh, giờ có truyền hình vệ tinh.


6. Thời bao cấp chắc máy vi tính (to như cái tủ) chỉ có ở Viện khoa học, nay máy vi tính có khắp mọi nơi.


7. Thời bao cấp mỗi người chỉ có 4 mét vải một năm, nay có cô may chỉ may một cái váy đã dùng hết 4 mét vải.


8. Thời bao cấp chẳng ai có ô tô mà đi. Các bác lãnh đạo được đi Volga, Lada. Nay khối người có xe hơi, nhưng Volga, Lada chỉ những tay chơi xe mới có.


9. Thời bao cấp lương kỹ sư bèo bọt: thập niên 1970 thì vài chúc đồng, sang thập niên 1980 tăng lên vài trăm đồng, nay kỹ sư mới ra trường lương tháng 2 triệu đồng.


10. Thời bao cấp người ta không có quyền lựa chọn, vì chỉ có đúng một loại nước mắm mậu dịch. Nay vào siêu thị thấy hàng trăm loại nước mắm khác nhau: loại nào cũng thơm ngon tới giọt cuối cùng.


11. Thời bao cấp chỉ có phở vỉa hè, nay có thêm phở 24, phở Vuông, phở Cali...


12. Thời bao cấp toàn phải nghe tường thuật bóng đá qua radio, nay thì xem truyền hình trực tiếp thả cửa từ La Liga, Premier League, Serie A cho đến Euro, Copa America, World Cup...


Ảnh: Căn hộ thời bao cấp trong Bảo tàng Dân tộc học.

(Chế tác từ "12 ưu việt so với thời Liên Xô)

Entries liên quan:
THÈM BÁNH NƯỚNG MẬU DỊCH
LỘN CỔ TẦNG 2
TỪ NGỮ THỜI BAO CẤP
TRUNG THU THỜI BAO CẤP

4/10/09

THÈM BÁNH NƯỚNG MẬU DỊCH



Trên trang Face Book của mình, Mailan Moore - một cô gái Hà Nội định cư tại Mỹ, đúng vào ngày Trung thu đã viết thế này: "Thèm bánh nướng mậu dịch".

Đọc câu ấy, tôi không chỉ thấy ở đó một nỗi buồn tha hương. Đối với tôi, thì nó là tiếng thở dài của những người đã trải qua tuổi thơ trong thời bao cấp thập niên 1970 - 1980.

Thú thực, tôi không còn nhớ rõ mùi vị cái bánh Trung thu thời bao cấp như thế nào. Chỉ biết rằng đó có lẽ là món bánh ngon nhất đối với những đứa trẻ thời ấy. Bánh bao giờ cũng được phân phối qua cơ quan mẹ. Mẹ nào có hai đứa con trở lên thì may ra mới được nguyên một chiếc. Thời đó tôi là con một, nên chỉ được nửa chiếc.

Nhưng nửa chiếc bánh nướng mậu dịch đủ làm cho một đứa trẻ hạnh phúc, được thấy mình đúng là "búp trên cành". Mẹ tôi thường gói nửa chiếc bánh vào một cái đơn thuốc bằng giấy pơ-luy, mang về đưa cho tôi với lời tuyên bố rất thân thương mà cũng rất trịnh trọng: "Các bác các cô các chú trong ban chấp hành công đoàn gửi quà Trung thu cho con. Con là "cháu ngoan Bác Hồ" nên được nhiều hơn các bạn khác".

Tôi sung sướng lắm. Mãi sau mới biết rằng, cái vế đằng sau là mẹ tôi thêm vào. Mọi đứa trẻ đều bình đẳng được 1/2 cái bánh nướng, 1/2 cái bánh dẻo, không dựa trên thành tích học tập và danh hiệu mà nó đạt được ở trường.

Mẹ thường trìu mến nhìn tôi ăn món quà tuyệt diệu của trẻ con và nói: "Con ăn đi, ăn hết đi. Mẹ đã ăn lúc chia bánh rồi". Nhưng thực ra, bánh được phân phối bao giờ cũng vừa khít với số trẻ con là con cái thành viên trong mỗi tổ công đoàn. Lấy đâu ra bánh thừa mà các mẹ được ăn khi chia bánh?

Mẹ tôi làm ở bệnh viện, là cán bộ công nhân viên nhà nước, nên có bánh Trung thu mang về cho con. Khi đó còn quá bé, nên tôi không bao giờ đặt ra câu hỏi: Vậy con cái của những người không làm trong nhà nước thì lấy đâu ra bánh Trung thu để ăn? Có lẽ, bố mẹ chúng đã phải bỏ ra những đồng tiền tằn tiện để mua cho chúng một miếng bánh.

Bánh Trung thu bây giờ thì ê hề. Chúng khác xa những chiếc bánh dẻo, bánh nướng mậu dịch. Ngon hơn rất nhiều, vị cũng khác xưa rất nhiều. Những chiếc bánh nướng có nhân đủ loại và rất đắt tiền như nhân sâm, vây cá mập, thậm chí cả vàng...

Nhưng tôi thề là chúng thua xa những chiếc bánh nướng, bánh dẻo mậu dịch mà thế hệ 6x, 7x chúng tôi đã ăn khi xưa...

Thế nên, tôi đã viết trả lời Mailan Moore một câu như thế này: "Lấy đâu ra thứ đồ xa xỉ đó bây giờ?"


THAM KHẢO:
Entry viết cách đây 3 năm:TRUNG THU THỜI BAO CẤP



19/12/06

LỘN CỔ TẦNG 2



Sau khi tham khảo ý kiến mọi người, tôi xin giải thích các cụm từ của thời bao cấp nêu trong entry trước.

- LỘN CỔ TẦNG 2. Áo sơ mi thường được mặc đến khi sờn hết cả cổ áo. Nhưng đến lúc đó nó cũng chưa được vứt đi. Chiếc cổ được đem lộn mặt sờn vào trong, đưa mặt trong ra ngoài. Dịch vụ "lộn cổ" có thể được thực hiện ở tiệm may, tiệm sửa quần áo, hoặc ở một gia đình. Trong trường hợp này, nhà làm dịch vụ "lộn cổ" ngự ở tầng 2 của ngôi nhà.

- BÍCH (TÍCH) KÊ GỐI MÔNG: Quần dùng lâu dễ bị sờn hoặc rách ở mông, đầu gối. Người thợ may sẽ dùng một miếng vải đồng màu, đặt vào phía trong rồi may chỉ theo hình xoáy trôn ốc. Chiếc quần trở nên lành lặn và được sử dụng tiếp.

- GIẶT LÀ NHUỘM. Câu này chủ yếu gây khó hiểu đối với người miền Nam. Nó quảng cáo 3 dịch vụ khác nhau gồm giặt, là (ủi) và nhuộm. Là trong trường hợp này không phải là là, mà là là (ủi). Phức tạp quá (he he).

- GIA CÔNG QUY GAI QUY XỐP. Gia công nói theo ngôn ngữ hiện đại là "outsource". Còn quy gai quy xốp là hai loại bánh (sang trọng) mà thời bao cấp chỉ được ăn vào dịp lễ Tết hoặc cưới xin. Nhưng không phải nơi nào cũng bán các loại bánh này. Thế là nảy sinh ra những lò nướng bánh. Người nào có đủ các nguyên vật liệu như bột mỳ, trứng, bơ, đường, sữa, vanilla... thì mang đến cơ sở nướng bánh, họ sẽ gia công cho quy gai, quy xốp.

- XAY BỘT TRẺ EM. Câu này thì không khó hiểu lắm.

Bổ sung một số cụm từ hay mà mọi người đề xuất:
- THU MUA NÔNG (LÔNG) SẢN PHỤ: Khuê đề xuất
- VÁ 9 XĂM LỐP: Metalari đề xuất
- CỬA HÀNG CHẤT ĐỐT THANH NIÊN: Quỳnh Vy đề xuất
- ĐỔI BÚN: Viettory đề xuất
- HỢP TÁC XÃ SẢN XUẤT THƯƠNG BINH: Myselfvn đề xuất

18/12/06

TỪ NGỮ THỜI BAO CẤP



Hàng chục triệu trai thanh gái lịch chẳng bao giờ biết đến những nối khổ thời bao cấp. Chẳng biết chuyện xếp hàng mua gạo (ảnh), mua dầu, mua rau muống. Chẳng biết chuyện lội hồ hái rau, vớt bèo, nấu cám nuôi lợn...

Thôi ôn nghèo kể khổ làm gì? Thời bao cấp có khối chuyện vui. Ít nhất là từ ngữ. Xin kể ra đây mọi người cùng cười cho vui...

Thời bao cấp, đi ra đường ta sẽ gặp những tấm biển quảng cáo dịch vụ như thế này... Đố mọi người biết là gì?

- LỘN CỔ TẦNG 2. Có phải là từ tầng hai ngã lộn cổ xuống đất?

- BÍCH KÊ GỐI MÔNG. Cái gì? Sao lại kê gối và mông? Thế còn bích là gì?

- GIẶT LÀ NHUỘM. Sao giặt lại có thể là nhuộm được nhỉ?

- GIA CÔNG QUY GAI QUY XỐP. Gia công thì rõ rồi. Nhưng quy gai, quy xốp là gì?

- XAY BỘT TRẺ EM. Oái, cho trẻ em vào cối xay ra thành bột à?

Đố mọi người biết những cụm từ trên có nghĩa như thế nào?

Ai biết thêm những cụm từ nào đặc trưng của thời bao cấp thì viết vào comment nhá.

5/10/06

TRUNG THU THỜI BAO CẤP



Theo lời mẹ tôi kể thì tôi sinh trước Trung thu đúng một tuần. Khi mẹ đưa tôi từ bệnh viện về thì cũng đúng vào lúc các anh chị con cái các nhà hàng xóm đang tíu tít làm đèn ông sao để chuẩn bị đón rằm. Tết Trung thu ở trong rừng, lại thời chiến tranh, chắc là một trời một vực so với bây giờ. Nhưng mà vui. Vì thời ấy có ít dịp để vui lắm.

Thế là mới chỉ tròn một tuần tuổi, tôi đã được "ăn" cái Tết Trung thu đầu tiên trong đời. Công đoàn bệnh viện của mẹ cũng kịp dành cho cậu bé sơ sinh một phần quà giống các anh các chị khác. Nhưng cậu chẳng ăn được, chỉ bú tí mẹ thôi.

Lớn lên một chút tôi mới biết thưởng thức cái không khí đặc biệt của ngày tết trẻ con. Cái thú lớn nhất của bọn trẻ ở thị xã miền núi là làm đèn. Đứa nào không khéo tay thì làm đèn ông sao. Đứa nào khéo tay thì làm đèn con thỏ, con vịt, xe tăng, máy bay... Tuyệt đối không có chuyện bố mẹ mua đèn cho con. Thời buổi khó khăn, lấy đâu ra tiền?

Bọn trẻ con chúng tôi chuẩn bị làm đèn từ trước cả nửa năm. Xem ở đâu có giấy pôluya hồng pôluya xanh thì xin. Những cuốn sổ hoá đơn bao giờ cũng là mục tiêu bị nhòm ngó của bọn trẻ. Kế đến là giấy bạc lấy từ bao thuốc lá Điện Biên của các chú. Những mảnh giấy mầu gói oản mẹ mua cho ăn cũng được ép phẳng và cất giữ cẩn thận.

Trước Trung thu khoảng hai tuần, những đứa thân nhau thường ngồi lại đem "gia tài" ra kiểm kê. Sau đó đứa này chia sẻ cho đứa kia thứ mà mình có nhiều hơn, rốt cục là đứa nào cũng có đều vài ba món đủ để làm một cái đèn đẹp.

Đèn ông sao thì dễ làm, được bố mẹ hay anh chị dạy cho một lần thì đứa trẻ nào cũng làm được. Nứa ở Tuyên Quang thì sẵn, làm một cái khung đèn chẳng khó khăn gì. Bọn trẻ háo hức trang hoàng đèn, cắt đủ các loại hoa văn dán lên từng cánh, rồi làm tua để treo vào bốn đầu mút của mỗi cánh sao. Đèn có đẹp hay không chính là nhờ công đoạn trang trí mang đậm dấu ấn cá nhân này.

Tôi không khéo tay, nên không bao giờ làm được các loại đèn như xe tăng, máy bay, hay con thỏ. Nhà bác Hân bên hàng xóm có hai anh con trai là Đức (hơn tôi 4 tuổi) và Minh (hơn tôi 2 tuổi). Anh Đức ít nói, làm đèn xe tăng máy bay cực đẹp. Nhưng anh lại ích kỷ chẳng làm hộ ai bao giờ. Anh Minh ngược lại luôn cởi mở, làm đèn không đẹp bằng anh Đức, nhưng bao giờ cũng cho tôi chơi chung. Tôi thân với anh Minh.

Vấn nạn đau đầu của lũ trẻ là tìm ra thứ thắp sáng cho đèn. Đứa nào "ăn chơi" lắm thì mới kiếm được nến, còn không thì lấy lọ pênixêlin đổ dầu vào trong, cắm một mảnh giẻ nhỏ làm bấc, đèn cũng sáng lắm, tuy phải cầm cẩn thận kẻo dầu đổ cháy đèn. Có đứa lại xâu những hạt bưởi khô thành dây và đốt. Khói bốc mù mịt, nhưng chẳng đứa nào quan tâm đến chuyện bị hít khói.

Một vài đứa có bố mẹ đi công tác Hà Nội, tiện thể mua cho cái đèn ông sư, cái trống màu đỏ bé xíu, hay một cái đầu sư tử Đó thực là những món quà xa xỉ mà đứa trẻ con nào có đều cảm thấy hãnh diện.

Đêm rằm trẻ con khu phố tập trung thành đám rước đèn ngoài đường. Cả lũ đi thành một hàng dài, một hai đứa con trai gõ trống và lắc lư đầu sư tử. Những năm 70 của thế kỷ trước đường phố chỉ có xe đạp. Thảng hoặc mới có một chiếc xe ôtô, nên trẻ con đi ngoài đường cũng yên tâm. Thị xã bé bằng bàn tay đi một loáng đã hết. Trở về đến nhà mồ hôi mồ kê nhễ nhại, nhưng đứa nào cũng vui. Kỳ lạ là hầu như không có bố mẹ nào đi cùng, nhưng chẳng có đứa nào bị tai nạn, chẳng có đứa nào bị lạc, chẳng có đứa nào bị bắt cóc.

Những cái Tết Trung thu của thế hệ 6X-7X dưới thời bao cấp là như thế. Chẳng đủ đầy như ngày hôm nay, nhưng mà vui. Vui vì được tự tay làm nên cái Tết của mình. Còn giờ đây, trẻ con muốn đèn gì thì bố mẹ chạy đi mua, quà bánh trung thu thì ê hề. Cái sự háo hức hầu như không còn nữa.

Nghĩ mà thương cho bọn trẻ. Chúng có hết, nhưng hình như chúng cũng bị mất nhiều thứ.
 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết