Hiển thị các bài đăng có nhãn ẩm thực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ẩm thực. Hiển thị tất cả bài đăng

22/8/11

MỘT CÁCH NHÌN KHÁC VỀ "BÚN MẮNG", "CHÁO CHỬI"


Bà chủ quán "bún mắng" - Ảnh: Dân trí'

1. Không biết bao nhiêu bài báo đã viết về “bún mắng, cháo chửi” ở Hà Nội, thậm chí còn bổ sung thêm các món như “phở quát”, “phở xếp hàng”.

Xin được giải thích ngay rằng đây không phải là những món đặc sản “nên biết trước khi chết”, hay “lúc sống nên thưởng thức” như một số trang web về ẩm thực nước ngoài phong tặng. Đó chỉ là cách gọi tắt về một số hàng ăn có cách phục vụ “không giống ai” (thường la mắng, quát lác với nhân viên hoặc thậm chí là cả thực khách). Điều ngạc nhiên nhất đối với mọi người là mặc dù thái độ phục vụ “củ chuối” như vậy, nhưng hàng ăn vẫn đông khách, thậm chí người ta chen nhau vào ăn bất chấp bị “mắng, chửi, quát, xếp hàng”.

Chính sự vô lý này mà nhiều người cố gắng giải thích cái “văn hóa ẩm thực” giàu nhẫn nhịn đến lạ kỳ của người Hà Nội. Trong bài phân tích gần đây nhất trên báo chí: “Bún mắng, cháo chửi” và CEO làm bảo vệ”, người viết đưa ra lý giải từ góc độ xã hội: “Việc trải qua một thời kỳ dài bao cấp, nơi những mậu dịch viên có quyền ban phát ân huệ đã tạo cho người Hà Nội một sự chấp nhận một cách vô thức và đáng tiếc về thân phận chiếu dưới của mình”. “Tâm lý “nó chửi cả làng Vũ Đại” đã tự ve vuốt tính sĩ diện vốn rất cao của mỗi người Hà Nội”.

2. Thật ra trước một hiện tượng như vậy có rất nhiều cách giải thích. Thứ nhất hiện tượng đó có phần được phóng đại lên, bởi ít nhất tôi đã đến một lần quán “cháo chửi” ở Lý Quốc Sư. Tất nhiên tôi không nghe thấy lời chửi nào (có thể do tôi may mắn). Tôi cũng từng đi ăn phở xếp hàng, hay phở tự phục vụ (tức là khách phải tự chạy đến quầy phở để bưng bát phở về bàn của mình). Tôi cũng từng ăn phở trả tiền trước (nếu không trả, chủ phở gọi giật lại bằng một giọng rất chi là khó chịu, xấc xược).

Tất nhiên, ban đầu ai cũng khó chịu về cung cách phục vụ “tinh tướng” ấy. Nhưng sau khi khó chịu mà được ăn ngon, người ta cũng tươi tỉnh lại phần nào. Tôi cũng vậy. Và tôi bắt đầu quan sát. Tôi nghiệm ra rằng, hầu hết thực khách đến các cửa hàng này đều là người quen (cá biệt có những người khách xa đến vì tò mò, nhưng ít thôi). Và vì là người quen, nên họ quá hiểu quy luật bất thành văn trong cách phục vụ ở những quán này. Và khi họ hiểu rồi thì họ cứ lạnh lùng “tuân thủ” theo các quy tắc này thì mọi việc hết sức dễ chịu: chẳng hạn với phở trả tiền trước, bạn cứ bước vào, xỉa ra 30 ngàn (nếu cả quẩy hình như giờ đã là 35 ngàn) chẳng cần phải nói gì cũng được, và cầm một bát quẩy đi vào bàn, là nhanh như cắt, đã có một người bưng bát phở nóng hổi đặt xuống trước mặt bàn của bạn. Trên mặt bàn đã có đầy đủ những gia vị cần thiết, không bao giờ thiếu thứ gì.

Tôi nghiệm ra rằng, tất cả những khách quen của cửa hàng đều hài lòng với cách phục vụ tự động như cái máy vậy (chẳng bao giờ được chào hỏi, mời mọc, còn khách thì không bao giờ phải nhiều lời, phải gọi phục vụ cả).

Chỉ có những khách mới, lớ ngớ, không hiểu “luật bất thành văn” của quán mới chịu “quát, mắng, chửi” (nếu có) mà thôi.

Ở đây nếu nói chủ hàng cố tình quát mắng khách hay nhân viên để tạo “thương hiệu” thì nhầm to. Chẳng qua vì đồ ăn ngon, khách đông, phục vụ quá tải, cho nên họ đành phải đặt ra quy định bất thành văn như vậy để đơn giản hóa quy trình phục vụ.

3. Đó chính là cái lý do mà các hàng ăn có cách phục vụ thiếu “xởi lởi” vẫn cứ tồn tại, đông khách. Trong sự phi lý của nó có cái hợp lý. Trong sự khó chịu của cung cách phục vụ ấy có sự dễ chịu của nó (nếu anh hiểu).

Hà Nội vẫn là như vậy đấy.

NGÔ KHỞI

Nguồn:
Một cách nhìn khác về “bún mắng”, “cháo chửi”




15/7/11

"DÂN LẤY ĂN LÀM ĐẦU"



1. Khi cuộc sống khá giả, thì chuyện vui chơi đặt lên hàng đầu. Còn trong tình hình giá cả leo lên, thu nhập tụt xuống hiện nay, người ta chủ yếu là lo đến cái ăn. Cái câu của cổ nhân “dân lấy ăn làm đầu” (dĩ thực vi tiên) hóa ra trúng phóc trong thời điểm này.

Bởi thế cũng dễ hiểu khi họp HĐND ở 2 thành phố lớn ở hai đầu đất nước đều bàn chủ yếu đến cái ăn. Tại Hà Nội, Phó Chủ tịch UBND thành phố có cách ví von đáng nhớ: “Giá thịt lợn tăng mạnh hơn vàng”. Dẫn chứng: giá thịt lợn tăng gấp đôi so với cùng kỳ, trong khi vàng chỉ tăng có 30%. Nghe mà rùng mình, cảm thấy như đĩa thịt trên mâm vừa bị “con mèo” lạm phát ăn vụng mất một nửa.

Ông Phó Chủ tịch UBND TP.HCM có câu phát biểu cũng ấn tượng không kém: “Hầu như những gì chúng ta ăn đều nhiễm độc cả”. Nghe lại rùng mình cái nữa, cảm giác như đĩa thịt, đĩa rau trên đường đến bàn ăn nhà mình đã bị những kẻ thù giấu mặt rắc chất độc vào như rắc hạt tiêu.

Cộng hai câu phát biểu nói trên, thì cả người nghèo, lẫn người trung lưu đều lâm nguy cả.

2. Ngẫm kĩ, phát biểu của ông Phó Chủ tịch UBND TP.HCM không có gì là “cường điệu”. Không chỉ riêng gì TP.HCM, người dân cả nước hầu hết đều mua lương thực, thực phẩm ngoài chợ quê, chợ cóc... Hầu hết những thứ được bày bán đều không được minh định về nguồn gốc xuất xứ (đăng ký thương hiệu, đăng ký tiêu chuẩn chất lượng, hay được kiểm định về mặt an toàn thực phẩm)... Trăm người bán, vạn người mua, ai cũng bảo “rau của nhà trồng”, “thịt của nhà nuôi”... Nhưng chữ tín ở chốn chợ búa giá trị như thế nào chúng ta đều biết. Thỉnh thoảng ngoài chợ xuất hiện “gạo lạ”, “cam lạ”, “quýt lạ”... chẳng ai biết từ đâu, nhưng vẫn ăn.

Xã hội từ chỗ tự cung tự cấp, hàng đổi hàng, chuyển sang thời kỳ văn minh hiện đại, hàng hóa tất nhiên phải theo các tiêu chuẩn chất lượng chung, có “dấu má” xác nhận đàng hoàng. Về nguyên tắc, mọi thứ hàng hóa chưa đăng ký và chưa được kiểm định đều không được phép bày bán dưới bất kỳ hình thức nào. Điều bình thường đó ở bên Tây hóa ra lại là điều xa xỉ ở ta.

Vì thế, chúng ta không thể nào “dựng nên được một hàng rào” để ngăn “tất cả những gì độc hại sẽ không vào được thành phố của chúng ta” như mong muốn của ông Phó Chủ tịch UBND TP.HCM mà vấn đề cơ bản là phải thay đổi từ cách thức sản xuất đến thói quen mua bán, để từng bước, mọi thứ thực phẩm đều là những thương hiệu được đăng ký, kiểm định, đóng gói, đóng chai trước khi đưa ra thị trường.

Còn nếu không, có dựng lên cả một “hàng rào” thanh tra an toàn thực phẩm, đến gác ở các chợ cũng không thể nào “test” được hết những gánh rau, những phản thịt ven đường... Mà khi cái gì cũng độc cả thì người ta biết mua và ăn cái gì bây giờ khi giá cả leo thang như thế?

NGÔ KHỞI

Nguồn:
“Dân lấy ăn làm đầu”



20/12/10

TRÀ ĐẠO NHẬT BẢN


Xung quanh sự xuất hiện của trà bao phủ nhiều huyền thoại. Có vẻ hợp lý và đáng tin hơn cả là sự phát hiện tình cờ thứ nước uống huyền diệu này dưới thời Thần Nông, vị quân vương trị vì miền nam Trung Hoa từ 2737 đến 2697 trước công nguyên. Thời đó, người Hoa đã có thói quen đun sôi nước trước khi uống. Một lần Thần Nông ra lệnh đặt bếp đun nước cho ông dưới một gốc cây. Gió thổi, khiến lá từ trên cây rơi vào nồi nước. Thần Nông vô cùng ngạc nhiên, khi thấy nước có mùi vị rất dễ chịu. Từ đó ông thường xuyên uống nước pha chế với thứ lá này và không những thế còn ra lệnh cho toàn dân sử dụng.

Lịch sử Trung Hoa cho thấy thời Tam Quốc (220-280) trà đã trở thành một yếu tố không thể thiếu trong đời sống của người dân. Đến thời Tấn (265-420) xuất hiện những quán trà và người ta thưởng ngoạn trà tập thể. Người Hoa cổ đại coi trà là thứ uống chữa bệnh, giảm mệt mỏi, tăng cường sinh lực và thị lực, chống phong thấp. Nhờ công dụng tuyệt vời như vậy mà trà phát triển rộng sang các nước lân bang, mà Nhật Bản và Mông Cổ là những nước đầu tiên chịu sự ảnh hưởng này.

Từ thế kỷ thứ VI, Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn đến quần đảo Nhật Bản, đặc biệt là Phật giáo, văn hóa và triết học Khổng Tử. Quan hệ giữa hai nước đạt đến đỉnh cao trong thời đại nhà Đường (618 – 907). Thời này hạt cây chè được chuyển sang Nhật và nhà sư Saikho ươm trồng trên đất Nhật. Đến thời Nara (Bình an thời đại) ở Nhật Bản, nhiều ngôi chùa đã cho trồng chè, các nhà sư thu hoạch chè, tìm cách chế biến và đặt nền móng cho văn hóa sử dụng trà của Nhật Bản. Vào thế kỷ thứ VIII, các nhà sư đã sáng tạo ra nghi thức uống trà như một nghi lễ tôn giáo. Dần dần thói quen uống trà lan đến hoàng cung và nhà vua cho tổ chức những buổi lễ thưởng trà với sự tham gia của nhiều quan đại thần.

Nhưng phải đến cuối thời Kamakura (Liêm thương thời đại – 1185-1333), trà mới trở thành thứ nước uống bình dân, được dùng rộng rãi trong dân chúng. Đây cũng là thời mà quan hệ giữa Trung Hoa và Nhật Bản phát triển mạnh mẽ. Năm 1187, vị thiền sư nổi tiếng Nhật Bản Minh Am Vinh Tây (Myon Eisai – 1141-1215) đến Trung Hoa và lưu lại đó trong 4 năm. Khi trở về nước, ông cho thành lập giáo phái thiền tông và một trong những điểm quan trọng trong phép tắc của giáo phái chính là việc sử dụng trà.

Chính Minh Am Vinh Tây là người dạy dân Nhật cách chế biến và pha chế trà: lá trà được sao khô, tán thành bột mịn và hãm trong nước sôi. Nhưng những chỉ bảo của Vinh Am Minh Tây cũng vấp phải sự phản ứng dữ dội từ những người theo tôn giáo cũ của Nhật Bản là thần giáo. Tuy nhiên, công lao to lớn của ông trong việc phổ biến trà chính là việc ông đã biên soạn ra bản khái luận đầu tiên về trà có tên gọi Khiết trà dưỡng sinh kí, dày khoảng 20 trang. Minh Am Vinh Tây chỉ rõ rằng trà là phương thuốc chữa nhiều căn bệnh như tê liệt, rối loạn tiêu hóa, suy nhược cơ thể, biếng ăn. Các nhà sư Nhật Bản còn coi trà là một phương thức thiền và phương thuốc, khiến trà ngày một phổ biến rộng hơn. Cây chè được trồng ở hầu hết các địa phương của Nhật Bản. Từ thế kỷ XVI trà đã trở thành thức uống hàng ngày, đặc biệt là trong giới quý tộc samurai.

Giai đoạn của những cuộc nồi da xáo thịt liên miên từ thế kỷ XII đến XVI đã khiến giới samurai trở thành một thế lực mạnh trong xã hội Nhật Bản. Một trong những tục lệ của giới này là tổ chức những buổi uống trà với sự tham dự đông đảo của bạn bè, người thân, ở đó họ thường cùng chơi một trò chơi xuất hiện ở Trung Quốc dưới thời nhà Tống và du nhập vào Nhật Bản cuối thời mạc phủ Kamakura: Samurai và bạn bè của họ thi phân biệt các loại trà qua mùi vị, thi kiến thức về các vùng trồng chè, cách thức canh tác và chế biến... Người thắng cuộc nhận được những phần thưởng có giá trị.

Đến nửa đầu thế kỷ XIV, tại Nhật Bản đã hình thành một phong cách uống trà mới, được coi là hình thức sơ khai của Chanoyu – nghi lễ uống trà cổ truyền của người Nhật bao gồm 4 bước (hoài thạch, trung lập, ngự tòa nhập, trà loãng), thường kéo dài khoảng 3-4 giờ đồng hồ. Đây cũng là giai đoạn mà trà trở nên phổ biến đối với dân chúng. Trong các cộng đồng dân cư bình thường cũng bắt đầu thịnh hành trò chơi thi đố về trà nêu ở trên. Còn giới quý tộc thì xuất hiện hình thức vừa uống trà vừa tắm.

Từ nửa cuối thế kỷ XV thú uống trà trở nên ngày một thịnh hành trong tầng lớp trên của xã hội Nhật Bản. Những người giàu có tự xây cất cho mình trà thất – đó là những ngôi nhà nhỏ nằm trên phần đất nhà mình. Đến cuối thế kỷ này, người ta lại ưa thích uống trà trong những căn phòng nhỏ có diện tích khoảng 7 mét vuông, trang trí không cầu kỳ. Những phòng trà kiểu này đem lại cảm giác ấm cúng thích hợp với tinh thần thiền của Phật giáo.

Ý tưởng xây dựng trà thất thuộc về Murata Shuko (1422-1502) – người được dân Nhật coi là cha đẻ nghi thức uống trà vì ông chính là người đầu tiên đề ra những yếu tố chủ chốt của nghi thức này. Tuy nhiên, ông lại là người phản đối dữ dội hình thức vừa uống trà vừa tắm, vì cho rằng nó không phù hợp với quan điểm của thiền. Ông đã rất nỗ lực trong việc cổ súy để nghi thức uống trà giản tiện đến mức tối đa, đưa các dụng cụ của Nhật thay thế đồ Trung Quốc và phổ biến quan niệm người chủ nghi lễ uống trà phải phục vụ khách của mình.


Chanoyu

Sang thế kỷ XVI, nghi thức uống trà được phát triển hoàn chỉnh thành Chanoyu – nghi thức được mọi tầng lớp trong xã hội thừa nhận. Giới samurai coi đó là cách thức để thoát khỏi những ẩn ức tích tụ trong những trận huyết chiến diễn ra như cơm bữa trong cuộc sống của họ. Đó là những giây phút họ được thư dãn và tận hưởng những khoảnh khắc yên bình hiếm hoi.

Sau khi Shuko mất, sự nghiệp của ông được Takeno Jyoo (1502-1555) tiếp nối. Ông là một nhà thơ trác tuyệt, đồng thời cũng là một nhà thuyết giảng thiền đạo. Buông đao kiếm, ông đi tu và trở thành nghệ nhân hàng đầu về trà. Một trong những đam mê của ông là sưu tập các dụng cụ cổ dùng để pha trà và thưởng ngoạn trà. Ông quan niệm rằng, theo tinh thần thiền, không nhất thiết phải dùng những dụng cụ đắt tiền, mà nghi thức dùng trà phải phản ánh “sự rối loạn một cách tự nhiên” và “vẻ đẹp của sự bình dị”.Tư tưởng của Jyoo lan rộng tới tận kinh thành Kyoto và thu hút được một số lượng lớn người đi theo.

Người sáng lập ra nghi thức trà còn tồn tại cho đến ngày hôm nay là Senno Rikyu (1521-1591). Ông được tôn vinh là bậc thầy của trà đạo Nhật vì đã đưa ra những quy định chủ yếu về thẩm mỹ và đạo đức của trà đạo. Trà – thứ uống bắt nguồn từ Trung Hoa, thâm nhập vào Nhật Bản đã trở thành một nét đẹp văn hóa truyền thống riêng kết hợp những giá trị tinh thần của người Nhật với thiền của Phật giáo có sức sống mãnh liệt đến tận ngày hôm nay.





26/5/10

CHỮA CHỨNG MẤT NGỦ



Hôm qua, một người bạn than bắt đầu thấy tuổi già sồng sộc chạy sau lưng rồi. Dạo này khó ngủ quá. Ngày xưa thức đến 2-3 giờ sáng không thấy sao. Bây giờ mất ngủ một tí là hôm sau biết tay liền. Mặt mũi hốc hác, cả ngày người cứ liêu xiêu.

Cách đây 20 năm, tôi biết một nữ nhà văn cũng bằng tuổi chúng tôi bây giờ. Chị nói mỗi khi mất ngủ toàn phải uống thuốc ngủ. Tôi hỏi chị không sợ bị nghiện à, chị nói rằng thà bị phụ thuộc vào thuốc, còn hơn sáng sau ra đường với khuôn mặt khó coi.

Bạn tôi chưa dám dùng thuốc ngủ. Ra đường mà trông phờ phạc thì đeo kính vào. May mà gương mặt của bạn lại rất hợp với kính. Đeo kính trông lại rất được. Nhưng bạn phải thú nhận đó không phải là giải pháp. Trời nắng đeo còn được, những hôm trời mưa thì sao?


Tôi dạo này cũng hay mất ngủ. Nhưng không dám than với ai. Ừ thì bắt đầu có tuổi rồi, ngủ ngắn lại là chuyện đương nhiên. Phải chịu thôi.


Nhưng tôi vẫn thèm ngủ. Nghe một người bạn khác khuyên, mua bịch rượu vang về, tối nào thấy khó ngủ thì làm một ly. Dễ ngủ ngay.


Tôi làm theo và thấy khá hiệu nghiệm.


Hôm nay là một ngày mệt mỏi. Thời tiếng nắng nắng mưa mưa. Đã thế lại một đống việc, việc nào cũng cần xem xét quyết định trong vài phút đồng hồ. Buổi chiều lại phải chịu một đợt tấn công tổng lực, ép toàn sân. Mười mấy ngày nữa mới đến World Cup, thế mà bây giờ đã bị tấn công sớm rồi.


Hôm nay rất mệt, làm hai ly rượu vang cho dễ ngủ hơn.


May quá, trời mưa. Mát. Dễ chịu.


À, mai sẽ phải phổ biến kinh nghiệm này cho bạn. Để bạn không bị phụ thuộc vào thuốc ngủ.


Entry trước
MẤT NGỦ



26/1/10

CÀPHÊ VÀ TUYẾT



Tự nhiên muốn nhìn thấy tuyết bay. Vẫn còn nhớ buổi tối mùa đông đầu tiên ở Minsk cuối năm 1985. Ra khỏi rạp chiếu phim sau khi xem phim "Anh đào mùa đông" thì thấy tuyết rơi. Tuyết đầu mùa trắng tinh, xoay tròn trong gió. Ngửa cổ thích thú ngắm nhìn những bông tuyết nhỏ xíu lung linh trong ánh đèn đường, rơi nhẹ xuống tóc. Giơ tay hứng tuyết, thấy nó đậu nhè nhẹ lên tay và khe khẽ cựa mình tan chảy.

Tự nhiên muốn uống cà phê ở quán càphê của Gare de Lyon ở Paris. Quán nhỏ sực nức mùi càphê thơm nồng và quyến rũ, không hiểu những người đàn ông Thổ rang say và pha ra sao mà ly càphê lại thơm ngon đến như vậy. Ly càphê ở Paris chỉ bằng một phần ba ly càphê ở Việt Nam, tợp một miếng là hết. Muốn ngồi lâu phải gọi hai - ba ly.

Cái quán đó lúc nào cũng đông. Đủ loại người ngồi ở đây: da trắng, da đen, da nâu, da vàng, thuộc các nền văn hóa khác nhau với các đức tin khác nhau, nhưng cùng chung một niềm đam mê với càphê. Những bản nhạc Pháp lúc dạt dào lúc lơi lả làm cho cái không khí uống càphê rất vào.

Người sắp đi xa ngồi uống cà phê trước khi lên tầu. Người đi tiễn buồn rầu, lưu luyến. Người đến đón bồn chồn. Người vừa xuống tầu, muốn đôi chút thư thái để dọn mình bước vào thành phố đông đúc kia. Người vừa đón được ai đó cũng vào đây để uống mừng gặp mặt.

Đủ mọi tâm trạng.

Ly càphê là chất xúc tác đẩy họ đến tận cùng tâm trạng, có thể vui hơn, có thể buồn hơn. Càphê làm dung môi cho tất cả các cảm xúc.

Bỏ nỗi buồn vào đó khoắng cho nó tan ra.

Bỏ niềm vui vào đó nghe nó trào lên trong mùi hương.

Bỏ cô đơn vào đó để nhấm nháp vị đắng.

Bỏ tình yêu vào đó để thấy tim đập mạnh.

Bỏ tuyệt vọng vào đó để thấy nó tan chảy và hòa quyện trong một thứ dung dịch mà người ta khó chối từ...

Tôi đã ngồi đó chờ đợi chuyến tầu khởi hành từ Paris về miền đông nam nước Pháp. Ngoài kia tuyết rơi. Tuyết cuối mùa. Nó đã ngừng rơi từ cả tháng nay để nhường chỗ cho những bước chân rón rén của mùa xuân, nhưng rồi đột ngột quay trở lại để nói lời giã từ cuối cùng. Những chiếc áo khoác to sụ tối màu không còn nhiều, thay vào đó là những màu sắc mùa xuân rộn rã.

Đi qua ga tầu này có người bước hối hả, có người bước ung dung, có người chạy. Nhìn bước chân của họ, dáng vẻ của họ, gương mặt của họ có thể đoán được cuộc đời và số phận của mỗi người. Thật thú vị khi bỏ ra vài đồng franc ta có được quyền công khai theo dõi những con người đi qua mà không khiến ai phải khó chịu.

Tuyết và càphê. Một thứ trắng, một thứ đen.

Nào hãy gọi một ly càphê. Thả vào đó một chút đường. Giống như những bông tuyết nhẹ rơi xuống làn nước tối sẫm bốc khói nghi ngút. Hít một hơi thật mạnh mùi thơm quyến rũ tỏa ra từ ly càphê nóng hổi. Và nhấm nháp cuộc đời với dư vị tinh khôi mà trời đất thả vào qua những giọt tuyết.

Càphê và tuyết. Một thứ đen, một thứ trắng.

Ước gì có hai thứ ấy.

Ở quán càphê thơm nồng trên Gare de Lyon.



29/11/09

ĂN MÌ GÓI MƠ NGÔI VÔ ĐỊCH



Xem trang Nhất báo Thanh Niên hôm nay, hẳn sẽ có người bảo: "Báo này công khai quảng cáo cho mì gói Omachi ngay trên trang Nhất. Đố ông nào dám phạt!"

Hai tuyển thủ U23 Việt Nam mặc đồng phục của đoàn thể thao Việt Nam tham dự SEAGames tại Vientiane (Lào) đẩy xe chở hành lý ra khỏi sân bay. Trên hành lý là thùng mì gói với nhãn hiệu Omachi rất bắt mắt. Pháp lệnh quảng cáo của Việt Nam cấm báo chí (in) đăng quảng cáo trên trang Nhất. Nhưng khó ai có thể bắt giò được Thanh Niên trong vụ này.

Nhìn các cầu thủ mang theo mì tôm (hay mì gói theo cách gọi của người miền nam), thậm chí một cầu thủ còn hý hoáy ký vào thùng mì vì sợ thất lạc mới thấy thương cho các cầu thủ. Họ đi thi đấu vì mầu cờ sắc áo của quốc gia, mà vẫn e ngại không ăn được đồ ăn của nước bạn. Trong trường hợp đó thì mì gói là thứ khả dĩ nhất có thể thay thế được.


Tôi cũng hay phải đi công tác nước ngoài, nhưng hầu như không bao giờ mang mì gói theo, vì luôn ép mình phải ăn tất cả những thức ăn có thể tìm thấy.

Năm 1998 trước khi đi hội thảo ở Agra - Ấn Độ, tôi nhận được lời khuyên của một người am hiểu Ấn Độ rằng cần mang mì gói theo vì đồ ăn ở nước này rất cay. Tôi mua 10 gói mì cho 5 ngày hội thảo. Nhưng tại KS Agra nơi hội thảo diễn ra họ cung cấp các món ăn continental (đồ ăn Âu), nên tôi không gặp khó khăn gì. 10 gói mì còn nguyên cho đến tận ngày cuối cùng. Tôi tặng chúng cho người phụ nữ dọn phòng. Chị vui mừng cứ cảm ơn tôi mãi. Đó là lần duy nhất tôi mang mì gói theo.

Có mấy lần đi công tác cùng đồng nghiệp, tuy không mang theo lương thực, nhưng tôi vẫn được chiêu đãi món mì gói. Đúng là chẳng có gì ngon hơn trong bối cảnh đồ ăn không hợp khẩu vị.

Tháng 7 năm ngoái, đi Vietnam Airlines từ Franfurt (Đức) về Hà Nội, gặp đúng cuộc đình công của công nhân hàng không Đức, các tiếp viên chiêu đãi hành khách mì tôm không hạn chế. Tôi phải ăn đến 3 gói mới dằn được cái đói.

Đến tháng 10 qua Mỹ tường thuật bầu cử tổng thống, bữa ăn sáng ở khách sạn quá dở, khiến tôi phải đi tìm mì gói. Nhưng chỉ mua được mì của mấy anh ba Tầu sản xuất, giá 1USD một gói, nhưng mùi vị không thể ngon bằng mì Việt Nam.

Quay lại chuyện các tuyển thủ mang theo mì gói. Điều này chắc hẳn khiến các cổ động viên phải chạnh lòng. Tại sao Liên đoàn Bóng đá Việt Nam, hay rộng hơn là Tổng cục Thể dục Thể thao không làm một điều gì đó để giúp các cầu thủ nói riêng và các vận động viên dự thi tại SEA Games nói chung tránh phải ăn mì gói. Sức trai như thế ăn bao nhiêu gói mới đủ no? Và chẳng nhẽ phải ăn mì gói để bảo vệ màu cờ sắc áo.

Bà con Việt kiều ở Lào khá nhiều. Có ai tổ chức nấu ăn cho các vận động viên thì tốt quá!



4/10/09

THÈM BÁNH NƯỚNG MẬU DỊCH



Trên trang Face Book của mình, Mailan Moore - một cô gái Hà Nội định cư tại Mỹ, đúng vào ngày Trung thu đã viết thế này: "Thèm bánh nướng mậu dịch".

Đọc câu ấy, tôi không chỉ thấy ở đó một nỗi buồn tha hương. Đối với tôi, thì nó là tiếng thở dài của những người đã trải qua tuổi thơ trong thời bao cấp thập niên 1970 - 1980.

Thú thực, tôi không còn nhớ rõ mùi vị cái bánh Trung thu thời bao cấp như thế nào. Chỉ biết rằng đó có lẽ là món bánh ngon nhất đối với những đứa trẻ thời ấy. Bánh bao giờ cũng được phân phối qua cơ quan mẹ. Mẹ nào có hai đứa con trở lên thì may ra mới được nguyên một chiếc. Thời đó tôi là con một, nên chỉ được nửa chiếc.

Nhưng nửa chiếc bánh nướng mậu dịch đủ làm cho một đứa trẻ hạnh phúc, được thấy mình đúng là "búp trên cành". Mẹ tôi thường gói nửa chiếc bánh vào một cái đơn thuốc bằng giấy pơ-luy, mang về đưa cho tôi với lời tuyên bố rất thân thương mà cũng rất trịnh trọng: "Các bác các cô các chú trong ban chấp hành công đoàn gửi quà Trung thu cho con. Con là "cháu ngoan Bác Hồ" nên được nhiều hơn các bạn khác".

Tôi sung sướng lắm. Mãi sau mới biết rằng, cái vế đằng sau là mẹ tôi thêm vào. Mọi đứa trẻ đều bình đẳng được 1/2 cái bánh nướng, 1/2 cái bánh dẻo, không dựa trên thành tích học tập và danh hiệu mà nó đạt được ở trường.

Mẹ thường trìu mến nhìn tôi ăn món quà tuyệt diệu của trẻ con và nói: "Con ăn đi, ăn hết đi. Mẹ đã ăn lúc chia bánh rồi". Nhưng thực ra, bánh được phân phối bao giờ cũng vừa khít với số trẻ con là con cái thành viên trong mỗi tổ công đoàn. Lấy đâu ra bánh thừa mà các mẹ được ăn khi chia bánh?

Mẹ tôi làm ở bệnh viện, là cán bộ công nhân viên nhà nước, nên có bánh Trung thu mang về cho con. Khi đó còn quá bé, nên tôi không bao giờ đặt ra câu hỏi: Vậy con cái của những người không làm trong nhà nước thì lấy đâu ra bánh Trung thu để ăn? Có lẽ, bố mẹ chúng đã phải bỏ ra những đồng tiền tằn tiện để mua cho chúng một miếng bánh.

Bánh Trung thu bây giờ thì ê hề. Chúng khác xa những chiếc bánh dẻo, bánh nướng mậu dịch. Ngon hơn rất nhiều, vị cũng khác xưa rất nhiều. Những chiếc bánh nướng có nhân đủ loại và rất đắt tiền như nhân sâm, vây cá mập, thậm chí cả vàng...

Nhưng tôi thề là chúng thua xa những chiếc bánh nướng, bánh dẻo mậu dịch mà thế hệ 6x, 7x chúng tôi đã ăn khi xưa...

Thế nên, tôi đã viết trả lời Mailan Moore một câu như thế này: "Lấy đâu ra thứ đồ xa xỉ đó bây giờ?"


THAM KHẢO:
Entry viết cách đây 3 năm:TRUNG THU THỜI BAO CẤP



9/6/09

PHỞ VIỆT XA XỨ (2)



Post tiếp các tâm sự về phở của những người Việt sống ở nước ngoài

4. Bi lùn!!!

Hi anh,

Em là người rất thích ăn phở, có thể nói là nghiện... Thật là vô lý nếu em đi so sánh phở ở trong nước và phở ở nước ngoài phải không anh? Hehehe.Vậy em có vài nhận xét như sau:

Em rất thích ăn phở ở Châu Âu, ở Paris... vì ở đó có nguyên quận bán phở nên ăn ngon, từ nước dùng đến rau sống đều hợp khẩu vị. Mỗi lần có dịp lên Paris chơi là em nhất định phải ăn phở ở đó.

Em đang sống ở Hamburg (Đức) và ăn thử vài quán phở ở đây, em không thích lắm, mặc dù người ta quảng cáo là phở Hà Nội do người Hà Nội nấu, nhưng nước dùng không đậm đà cho lắm.

Em chưa có dịp thưởng thức phở ở Berlin, nhưng em đi đâu mà nghe có phở ngon là em phải thưởng thức ngay.

Không biết là em có nêu được vài cảm xúc giống như anh cần không nữa.

4. cunbe

Chào bác, hôm nay mẹ cháu mới vào và đọc được blast của bác về món phở. Món này là món sở trường của bố mẹ cháu (bố thì mê ăn và mẹ thì mê nấu), mỗi tháng ít nhất trong nhà ngoài bếp nhà cháu cũng vài ba lần thơm lừng mùi phở. Mẹ cháu xin gửi bác đôi ba cảm nhận (cá nhân) về phở (ngoài hàng) ạ.

Phở Paris (quận 13): Bát phở to, nước trong, bánh mềm, phải đúng hàng chuyên phở chứ không sẽ phải ăn bánh phở khô. Phở bò thịt chín thái mỏng, thịt tái mềm, thơm; Phở gà miếng thịt cũng thơm và giòn. Yêu cầu chung về chất lượng bát phở tại đây là rất đạt. Ngoài ra, kèm theo bát phở luôn có đĩa thơm, mùi, giá đỗ.

Về chất lượng vệ sinh thì chắc chắn là đảm bảo hơn phở VN, ít nhất là chất lượng thịt, nước, rau cho dù không phải hoàn toàn BIO như thuở xa xưa, nên khi ăn tư tưởng khá thoải mái. Tuy vậy, mẹ cháu cũng không phủ nhận bánh phở ở đây có mềm nhưng không được mỏng như ở Hà Nội, dù là bánh phở và nước dùng vẫn hơi thiêu thiếu chút hương vị đậm đà rất riêng của Phở Hà Nội, hay cũng chỉ là cảm giác thôi không biết ạ...

Địa chỉ phở ngon tại PARIS: Phở Mùi (đậm vị phở Bắc), Phở 14 (vị phở Nam, nước hơi ngọt hơn). Hai quán này đều nằm ở quận 13, đoạn Rue de TOBIAC, gần khu Tang Fere.

Phở Prague (CH Czech): Mới ăn phở ở đây có 2 lần nên nhận xét của mẹ cháu có thể chưa chính xác. Tuy đậm hương vị Bắc nhưng chất lượng bát phở có lẽ hơi kém hơn một chút xíu, đặc biệt là nước dùng. Ở đây, người Việt mình cũng rất ưa cho bột ngọt (mì chính) nên mẹ cháu không khoái lắm... Địa chỉ ăn phở ở đây ngon nhất vẫn là tại chợ Sapa.

Mẹ cháu ăn nhiều phở nhưng hầu hết là tự nấu nên chỉ có đôi lời nhận xét như vậy. Xin hết ạ.

5. Valence Bond

Em ở Nhật, phở gà hoặc bò tái, 900Y (10$), nước phở có hương vị gần như ở nhà, riêng bánh phở thì không bao giờ bằng vì ở đây người ta dùng bánh phở khô ngâm nước ấm rồi trụng. Bánh phở một đằng, nước phở một nẻo.Cơ mà 1 đến 2 tháng lại cứ phải ăn quán Việt Nam ít nhất 1 lần mới được.

Ảnh: Trong tiệm phở An ở Sydney, Australia

Nguồn:Blog Heo và Gà

8/6/09

PHỞ VIỆT XA XỨ (1)



Hồi trước Tết, có người bạn ở nước ngoài về, chưa đặt vali xuống đã đòi đi ăn phở Hà Nội. Tôi mới hỏi: "Ở bên đó cũng có phở, mà phở đâu có tệ, sao chưa về tới nơi đã đòi đi ăn phở?". Người bạn trả lời: "Không phở ở đâu ngon bằng phở Hà Nội hết".

Tôi bèn treo lên blast một câu hờ hững: "Các bạn ở nước ngoài, phở ở chỗ bạn ra sao? Hãy chia sẻ đôi dòng cảm xúc". Tưởng chơi, mà khá nhiều người hồi âm. Nhân Yahoo!360 sắp đóng cửa, copy lại một vài câu chuyện về phở mà bạn mạng gửi về.

1. Thư của Hana

Chào anh VMC,

Thật tình không nhớ làm sao biết được blog của anh :). Cũng không hay nói năng nhiều trên blog, nhưng thấy blast của anh hỏi về phở ở nước ngoài, vậy nên cũng xin nhiều chuyện chút xíu về phở ở Boulder, Colorado (Mỹ).

Boulder không có tiệm chỉ chuyên bán phở mà nhà hàng Việt ở đây bán đồ ăn Việt và bán kèm luôn phở. Biết tả phở ở đây sao ha? Chỉ biết nói rằng nếu con cún nhà anh mà có biết ăn phở chắc nó cũng chê... hehehe. Phở ở đây được gọi là phở vì nó là cọng phở có cho nước soup vô, vậy thôi.

Ở đây muốn ăn phở Việt Nam ngon chỉ có về ăn phở 79 ở Denver, cách Boulder 45 phút lái xe. Có lần một người bạn Hà Nội qua đây đi ăn phở 79 xong nhận xét rằng ăn cho đỡ thèm đồ ăn Việt chứ khó nuốt quá. Đối với bọn em ở đây vậy là ngon rồi. Và cũng quen nữa. Có khi người Sài Gòn ăn phở Sài Gòn quen cho rau, tương, giá... đủ thứ vào, vậy mới gọi là ngon, nhưng người Hà Nội thì không.

Cũng phải nói thêm là phở ở đây (Denver + Boulder) như phở Sài Gòn, nghĩa là có rau, giá, tương...

Chỉ biết tả bao nhiêu đó thôi. Xin hết ạ.

2. Thư của Q Diddy

Chào anh,

Lâu rồi ko gặp, anh khỏe không? Trả lời câu hỏi: Atlanta là thành phố cũng có khá nhiều người Việt sinh sống (hình như số lượng là thứ 4-5 trên toàn nước Mỹ), nên cũng có khá nhiều quán phở. Mặc dù vậy, trong suốt thời gian ở đấy, em và mấy thằng bạn hầu như chỉ ăn ở một quán gọi là Little Saigon.

Ở đây thức ăn nói chung là ngon, quán rộng, sạch sẽ, phục vụ cực nhanh, và giá cả rất bình dân nên lúc nào cũng đông khách, đặc biệt cuối tuần thì còn không có đủ chỗ đậu xe. Phở ở đây cũng như mọi chỗ khác ở Mỹ có loại tô medium (vừa) và tô xe lửa to đùng ngã ngửa mà người từ Việt Nam mới sang không quen thì không thể ăn hết được (nhưng cũng chỉ $6.5).

Phở nấu và ăn theo kiểu miền Nam (cũng dễ hiểu), với nước phở ngọt hơn phở Bắc, khi ăn bao giờ cũng có đĩa rau thơm+giá kèm theo. Trên bàn cũng không thiếu chai tương ớt và một chai tương đen mà ở Hà Nội cũng không bao giờ thấy.

Tuy ngoài bàn đã có sẵn rau/giá, nhưng tùy theo sở thích, người ta còn gọi thêm giá chụng, hành trần (hành xanh), hoặc một món mà ở Việt Nam em rất ít gặp (thậm chí chưa thấy bao giờ, đến khi sang Mỹ mới biết) là hành tây cắt khoanh mỏng để bát riêng vắt chanh hoặc trộn dấm rồi cho tương ớt thật cay vào. Cũng không biết món thêm đó gọi là gì hay có tên riêng không nhưng chanh chua loại bỏ được mùi hành tươi, ăn vài miếng hành lạnh, có vị tương ớt thật cay rồi húp 1 thìa nước phở nóng cảm giác thật là khó diễn tả, haha.

Quên nói về bánh phở: bánh phở ở đây là loại nhỏ và dài, không to bản và ngắn như bánh phở ở Hà Nội. Nói chung chỉ nhớ được thế thôi, em cũng không phải là người sành ăn lắm, nhưng quán phở đấy thì đúng là rất vừa miệng, và còn có nhiều kỷ niệm nữa. Cả tuần đi làm bận rộn ăn uống vớ vẩn, nên hầu như cuối tuần nào cả bọn cũng nhịn đói buổi sáng, trưa chịu khó chạy xe cả 30-40 phút để được ăn bát phở nóng hương vị quê hương rất sảng khoái.

Ảnh: Một quán phở ở Mỹ (mượn trên Internet)

27/4/09

VĨNH BIỆT MÓN TIẾT CANH



Tiết canh là món khoái khẩu của không ít người Việt Nam. Cứ tưởng chỉ đàn ông mới thích tiết canh, nhưng thử đi qua những quán ngan vịt, lòng lợn tiết canh... sẽ thấy không ít chị em hớn hở xì xụp món ăn này.

Máu của nhiều con vật có thể chế biến thành tiết canh. Phổ biến nhất là lợn, kế đến là chó, dê, ngan, vịt, chim, baba, rắn... Nghe nói còn có cả tiết canh cua, tiết canh tôm nữa.

Có lần tôi được mời đi ăn thịt thú rừng, mấy anh bạn ngỏ ý muốn ăn một con dúi và đương nhiên, muốn được thưởng thức món đặc sản "tiết canh dúi". Khi nhân viên nhà hàng cầm cái gọi là con dúi ra thì tôi thật kinh hoàng khi thấy đó là một con chuột khổng lồ (ảnh).


Lấy cớ bận việc đột xuất, tôi biến thật nhanh khỏi quán ăn.

Nói như thế không có nghĩa là tôi không ăn tiết canh. Tôi đã ăn tiết canh lợn, vịt, dê... và thấy đó là món ăn khá ngon.

Máu là thứ không thể thiếu trong các cơ thể sống. Nhưng máu cũng là nơi chứa vô số vi khuẩn, vi trùng sinh bệnh. Tiết canh là món không nấu, máu được hãm đông, nên các vi khuẩn, vi trùng vẫn sống và hoàn toàn có khả năng tấn công khi đã ở trong cơ thể người.

Một số người mê món tiết canh lợn đã bị sán "ăn" não.

Không ít người tử vong vì virus cúm gà H5N1 là do ăn tiết canh ngan, vịt nhiễm bệnh.

Dịch viêm phổi cấp SARS bùng nổ ở Quảng Đông và Hồng Kông là do món ăn chế biến từ huyết của con cầy hương.

Điều gì sẽ xảy ra nếu ăn tiết canh của con vật trông bẩn thỉu và gớm ghiếc như con dúi, từ những con lợn mắc bệnh tai xanh, hoặc cúm lợn H1N1 như hiện nay?

Tốt nhất là hãy vĩnh biệt món tiết canh. Đó là cách giúp mình loại trừ một khả năng nhiễm bệnh.

16/3/09

ĐI ĂN CÁ NÓC


Đi trên đường phố Tokyo, tôi nhìn thấy mô hình một con cá hình thù kì dị dưới mõm có nhiều gai đắp nổi trên nóc một ngôi nhà. Tò mò hỏi, thì được một thổ công Tokyo đáp: "Cá nóc đấy. Đây là nhà hàng bán các món chế biến từ cá nóc".

Ai cũng biết cá nóc có độc tố nguy hiểm, ở nước ta khá nhiều người ở khu vực miền Trung đã thiệt mạng sau khi ăn loại cá này. Chính vì thế nên Việt Nam cấm dân ăn cá nóc.

Nhưng ở Nhật Bản thì cá nóc lại là món ăn khoái khẩu, rất phổ biến và đắt tiền (50 đô/suất). Đương nhiên, món ăn từ cá nóc ở đây tuyệt đối an toàn đối với thực khách.

Thế rồi tôi cũng có cơ hội đi ăn cá nóc ở Đông Kinh. Không phải trong cái nhà hàng có hình con cá nóc tròn ung ủng nhìn thấy khi đi qua, mà trong một nhà hàng khác ở quận Akasaka (Dốc Đỏ)

Nhà hàng sạch sẽ, trang trí giản dị theo đúng phong cách Nhật. Thực khách phải bỏ giày ngay sau khi bước vào và được dẫn đến phòng ăn có kê chiếc bài dài ở chính giữa và những chiếc ghế không cao lắm.

Tiếp viên đều là những phụ nữ trung niên tầm 50 tuổi, diện kimono, trang điểm nhẹ nhàng, nói năng nhỏ nhẹ. Dường như hiểu băn khoăn của tôi về tuổi tác của các tiếp viên, thổ công Tokyo giải thích: "Nhà hàng càng sang thì tiếp viên càng già. Các bà này không phải là nhân viên của nhà hàng, mà làm cho một công ty chuyên cung ứng tiếp viên. Thù lao của họ có thể lên đến vài trăm đô một giờ".



Các tiếp viên trung niên bưng ra cho mỗi thực khách đĩa thức ăn trên xếp một lớp cá mỏng tang, có thể nhìn qua thớ thịt hồng như nilon của nó thấy hoa văn của chiếc đĩa bên dưới. Thổ công Tokyo giới thiệu đây chính là món cá sống danh bất hư truyền từ cá nóc. Hãy thưởng thức và đừng sợ gì cả!

Rồi anh hướng dẫn vắt chanh lên lớp cá mỏng tang xếp trên đĩa, chế biến đồ chấm từ tương đậu nành và mù tạc wasabi.

Nhận chìm cá trong nước chấm rồi gắp bỏ vào miệng. Vị ngọt đặc biệt khó mô tả của cá nóc, vị chua thanh thanh của chanh, vị cay gắt của wasabi hoà quyện với nhau, tác động mạnh vào các tua lưỡi và xông mạnh lên óc tạo ra một cảm giác ngây ngất.

Nói thế để đủ thấy ăn hết lớp cá mỏng tang trên chiếc đĩa đẹp đẽ kia đem lại khoái cảm như thế nào và cũng cực nhọc như thế nào.


Không phải nhà hàng nào cũng được phép bán cá nóc và đầu bếp nào cũng được chế biến món ăn từ cá nóc.

Cá nóc, tiếng Nhật là "Fugu", là món ăn truyền thống của người Nhật. Xương cá nóc tìm thấy trong các di chỉ khảo cổ ở Nhật có niên đại 2.300 năm. Fugu được đánh bắt và ăn nhiều ở khu vực miền tây Nhật Bản.

Người Nhật ăn cá nóc chủ yếu vào mùa lạnh. Họ có thể mua cá đã chế biến sẵn ở các cửa hiệu và mang về nhà ăn. Tất nhiên, khi mua họ phải nhìn thấy giấy chứng nhận cá được chế biến an toàn.

Theo Wikipedia, từ năm 1958 Nhật Bản bắt buộc các đầu bếp chế biến cá nóc và bán cho khách phải có giấy phép đặc biệt. Để được tham gia dự thi lấy giấy chứng nhận, đầu bếp phải có ít nhất 2-3 năm thử việc. Họ phải trải qua ba vòng thi: thi viết, thi nhận dạng cá và thi chế biến rồi ăn sản phẩm do mình tạo ra.

Kết quả là chỉ có 30% số thí sinh thi đỗ và được cấp bằng. Điều đó không có nghĩa là 70% số thí sinh còn lại bị chết sau khi ăn món cá nóc do mình tự chế biến. Họ trượt vì mắc những sơ suất nhỏ trong quá trình chế biến dài và phức tạp món cá nóc. Nhờ quy trình thi tuyển ngặt nghèo như vậy, nên cá nóc bán ở các cửa hàng cũng như nhà hàng đều rất an toàn.

Nếu có dịp đến Nhật, hãy ăn thử một lần món ăn bị cấm này.

Hãy nhắm mắt tận hưởng thứ mà ngay cả Nhật Hoàng cũng không được phép. Bạn có tin không? Toàn dân Nhật và khách nước ngoài đến Phù Tang đều được ăn cá nóc, miễn là có tiền, nhưng luật pháp Nhật cấm dâng món cao lương mỹ vị này cho Nhật Hoàng.

29/11/08

BÁNH MÌ (2)



... Trở về Việt Nam vào cuối thập niên 1980, bao cấp không còn, chẳng những bánh mì, mà gạo, thịt và nhiều thứ khác đều ê hề. Bánh mì không còn là đồ ăn xa xỉ nữa. Có thể ăn bánh mì ở bất cứ đâu, thành phố hay thôn quê, vào bữa sáng, bữa trưa, bữa tối, hay đơn giản là vào bất cứ lúc nào muốn ăn.

Bánh mì được Việt hoá, giống như nhiều món ăn Âu, Tầu, Ấn trở nên dễ ăn hơn, ngon hơn với thành phần và gia vị Việt Nam. Đầu thập niên 1990, tôi quen một nhóm sinh viên người Nga của Đại học Tổng hợp Vladivostok sang Việt Nam học tiếng Việt. Slava - một chàng trai gốc Ukraina, quả quyết với tôi rằng bánh mì Việt Nam có vị đặc biệt vì nó được làm từ bột gạo. Cho đến giờ tôi vẫn không biết trong thành phần của bánh mì có bột gạo hay không.

Bánh mì - cái món ăn bình dân ấy nuôi được rất nhiều người. Đa phần người bán bánh mì ở các thành phố là những người lao động nghèo. Nhưng cũng có những người chỉ bán bánh mì mà đổi đời. Đó là trường hợp chị Dậu (chị Nguyễn Thị Dậu, chứ không phải chị Dậu trong "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố) từ người bán bánh mì ở vỉa hè, chỉ bằng nghề này đã làm nên cả một gia tài. Cửa hiệu bánh ba số nhà ở đường Hàm Nghi ngay quận Nhất TP HCM với biển hiệu Như Lan được cả nước biết đến. Chị còn là một mạnh thường quân trong nhiều hoạt động từ thiện.

Người Việt bán bán mì còn thành công cả ở nước ngoài. Chuỗi nhà hàng ăn nhanh "Lee's Sandwiches" chuyên bán bánh mì kiểu Việt Nam, càphê pha kiểu Việt Nam và những món ăn thuần Việt khác xuất hiện ở nhiều tiểu bang của nước Mỹ và đang trở thành một thương hiệu được nhượng quyền kinh doanh có tiếng.

Các cửa hàng của Lee's Sandwiches lúc nào cũng tấp nập khách hàng, không chỉ người Việt mà có đủ cả Mỹ trắng, Mỹ đen, Mễ tây cơ và Mỹ gốc Á. Ông chủ Lê Văn Chiêu khi mới sang Mỹ chỉ là người có xe thức ăn chở cho các sinh viên, nhân viên các hãng. Ba năm trước Lee's Sandwiches của ông đã được xếp vào Top 50 chuỗi cửa hàng thực phẩm của Mỹ.

Hồi Hội nghị thượng đỉnh APEC diễn ra tại Hà Nội, một đồng nghiệp Malaysia nhờ tôi dẫn đến một cửa hàng bánh mì để mua mang về nhà. Tôi hỏi: "Ở Kuala Lumpur không có bánh mì à?". Anh đáp: "Có, nhưng mà không ngon. Bánh mì ngon nhất ngoài Châu Âu chỉ có thể tìm thấy ở Việt Nam".

Tôi chở anh đi mua 5 chiếc bánh mì dài (baguette). Hôm sau, nhận được email của anh: "Vợ chồng tôi và ba đứa con ăn hết 5 chiếc bánh chỉ ít phút sau khi tôi về đến nhà. Mỗi người ăn một cái. Ai cũng khen ngon!".

Bánh mì baguette đang là mốt ẩm thực mới của người Hà Nội. Trước chỉ có siêu thị Big C mới có món đặc sản này, nay thì có thể tìm được nó ở nhiều siêu thị khác. Cách đây không lâu, siêu thị FiviMart trên đường Hoàng Quốc Việt lắp đặt hẳn một lò làm bánh mì baguette, cung cấp cho khách hàng những chiếc bánh nóng hổi.

Từ khi FiviMart có món baguette, tôi năng đến siêu thị này, vì nó ở gần nhà tôi và nằm ngay trên đường về nhà. Lò nướng bánh là nơi cuối cùng tôi rẽ đến sau khi đã nhặt nhạnh đủ các thứ cần thiết. Chỗ đó là nơi duy nhất (ngoài quầy thu ngân) có nhân viên túc trực: lúc thì là một cô gái, lúc là một chàng trai, khi là ông chủ lò bánh người Pháp béo phục phịch, mặc đồng phục màu trắng, rút những chiếc bánh nóng hổi từ vỉ nướng cho vào chiếc túi nilon dài có hai quai, tươi cười đưa bánh cho khách.

Chiếc bánh mì dài màu nâu lớp da nâu bóng chỗ đậm chỗ nhạt với lớp thừng xoắn vạm vỡ trên vỏ đẹp như một tác phẩm nghệ thuật. Mùi bánh thơm đủ làm tiết dịch vị đối với bất cứ ai có khứu giác bình thường.

Khi cô thu ngân bận rộn tính tiền, thì tôi nhón tay, véo một miếng bánh bỏ vào miệng. Vỏ bánh ròn tan trong miệng đem lại cảm giác thật tuyệt. Tin tôi đi, không gì đơn giản, rẻ tiền mà lại đem đến cho bạn cái cảm giác phê như thế!

Khệ nệ xách đống đồ ra xe, bao giờ tôi cũng để túi bánh lên ghế trên. Và vừa lái xe về nhà, tôi vừa bẻ bánh ăn. Bánh không! Không kèm bất cứ thứ gì!

Đó thực sự là khoảnh khắc tuyệt diệu mà người ta có thể sống chỉ bằng bánh mì.

Một lần đem xe đi rửa, người rửa xe nói với tôi vẻ ái ngại: "Hình như trong xe anh có loài gặm nhấm nào đó?"

Tôi giật mình: "Thật à?"

Anh hóm hỉnh: "Đây này, vụn bánh đầy dưới thảm!"

Tôi cười: "Loài gặm nhấm đang đứng trước mặt anh đấy".

26/11/08

BÁNH MÌ (1)



Hiển nhiên, tôi thích bánh mì.

Thời bé, tức là hồi đầu thập niên 1970, tôi coi bánh mì như là một món quà xa xỉ. Sáng chủ nhật được mẹ dẫn đi chợ, tôi thích đứng ngoài cổng chợ. Nơi ấy có xưởng bánh mì nhỏ.

Háo hức xem người ta ngào bột, nặn thành những cục bột dài, xếp chúng lên khay, lấy lưỡi dao khía nhẹ dọc theo cục bột (khi bánh chín khía ấy sẽ thành bụng bánh), hồi hộp ngó theo chú công nhân mặc áo may ô, mặt lấp lánh mồ hôi, đẩy từng khay bánh thô vào lò nướng và rút những mẻ bánh chín vàng ruộm ra khỏi lò; phấn khởi hà hít mùi bánh chín thơm ngát.

Thời đấy, bánh mì bán bán qua sổ gạo, trừ vào khẩu phần gạo. Mỗi cân gạo mua được 5 chiếc bánh. Cân gạo thời đó rất quý, nên không ai dám ăn lạm vào khẩu phần thiết yếu hàng ngày. Vì vậy, bánh mì chỉ là món quà.

18 tuổi, sang Liên Xô, thấy ê hề bánh mì. Tôi còn nhớ cái buổi sáng chủ nhật đầu tiên đặt chân đến Minsk, tôi và Dũng (anh bạn cùng phòng người Hải Phòng) chạy loanh quanh khu vực gần ký túc xá đến nửa tiếng đồng hồ mới tìm được một cửa hàng thực phẩm mở cửa vào ngày nghỉ.

Tôi lấy đồng 10 rúp duy nhất (ông chồng bà dì dúi cho trước khi lên máy bay) để mua thức ăn. Hai đứa chọn hết cái nọ đến cái kia, bỏ ra gần 3 rúp mua thức ăn trong đó có cả bánh mì, khệ nệ bê về ký túc xá. Cái bụng lép kẹp của hai cậu sinh viên đói ăn từ một đất nước đói kém mới sang chỉ ăn hết 1/5 số đồ mua được.

Ăn no, nhìn đống đồ ăn mang về, Dũng bảo: "Chúng mình giống người thủy thủ trong chuyện "Khát vọng sống" của Jack London". Cả hai cười chảy nước mắt.

Ở Liên Xô, tôi học được cách ăn bánh mì. Các nhà ăn đều phát không bánh mì, ăn kèm với thức ăn bán ở đó. Nhưng tại những vị trí dễ nhìn thấy nhất trong nhà ăn, người ta cho treo những tấm poster với hình vẽ rất ấn tượng kêu gọi mọi người tiết kiệm bánh mì. Những mảnh vụn từ chiếc bánh mì chảy xuống ngưng tụ thành đống tiền ở bên dưới.

Người Liên Xô thường chỉ lấy 2 lát bánh mì, nếu ăn hết, họ đứng dậy đi lấy thêm một lát nữa. Không hoang phí bánh mì, không hoang phí điện trở thành thói quen và cách hành xử có đạo đức của một công dân văn minh.

Tôi cũng yêu bánh mì đen từ thời đó.

Bánh mì đen của Nga làm từ bột lúa mạch đen có mùi thơm dịu ngọt và ngai ngái của đất đai xứ sở Bạch Dương. Có những người không thích vị hơi chua của bánh mì đen, song những ai chịu được vị đó thì rất dễ bị nghiện.

Cô giáo người Nga của tôi kể một câu chuyện thế này: Trong thời gian chiến tranh Nga - Thổ trong thập niên 40 của thế kỷ 18, đạo quân Nga 54 nghìn người tiến vào lãnh thổ đối phương ở Krym. Những chuyến xe chở lương thảo (bột lúa mạch đen) bị lạc trên thảo nguyên Ukraina. Các "anh nuôi" buộc phải nướng bánh mì từ bột lúa mạch bình thường mua tại chỗ.

Quân Nga ăn bánh mì trắng và bắt đầu bị bệnh. Những người có sức đề kháng tốt hơn thì tuy không ngã bệnh nhưng đều cảm thấy uể oải, mệt mỏi. Hoá ra họ đã quen với bánh mì đen, thứ đồ ăn tuy kém hợp nhãn, nhưng lại giàu vitamin và khoáng chất, có thể đem lại cho họ sức mạnh cần thiết chống chọi với thời tiết và gian khổ trên đường hành quân.

Nhà ăn ở ký túc xá sinh viên ít khi có bánh mì đen. Đơn giản vì bánh mì đen đắt hơn bánh mì trắng.

(còn nữa)

15/11/08

CÓ NÊN TIẾC KEM TRÀNG TIỀN?



Hơi ngạc nhiên khi thấy Thời sự VTV1 dành hẳn mấy phút để bày tỏ nỗi day dứt khi kem Tràng Tiền đang bị tranh chấp và đặt hẳn câu hỏi "Khi nào thì kem Tràng Tiền trở lại?".

Sống ở thủ đô đã hơn 1/4 thế kỷ, song thú thực là tôi mới chỉ ăn kem Tràng Tiền vài ba lần. Từ hồi còn bao cấp. Thời đó cái gì mà chẳng ngon.

Sau này đi qua Tràng Tiền, cũng có ý định rẽ vào mua một que ăn thử xem kem Tràng Tiền dạo này ra sao, nhưng lần nào cũng thấy dân tình xúm đông xúm đỏ, nên ngại.

Thực ra thì kem Tràng Tiền có ngon không? Bạn bè, người quen của tôi người thì bảo nó cũng bình thường, người thì bảo nó cũng tương đối ngon, nhưng chắc chắn không thể ngon hơn những loại kem khác.

Có chăng là giá của nó phải chăng, phù hợp với nhiều người dân.

Bản thân sản phẩm kem thì tương đối OK, nhưng nói "kem Tràng Tiền" (cái sự ăn sản phẩm ấy) là nét đẹp văn hoá của người thủ đô, thì e hèm, nên xem lại.

Ai có dịp đi qua khu vực này, nhất là trước cửa rạp Công Nhân, có thể thấy que kem vứt la liệt dưới lòng đường hè phố, kèm theo đó những chiếc khăn lau miệng cũng bị vứt toẹt xuống đất. Những chiếc kem ăn không hết rơi xuống đường ruồi đậu từng đàn.

Người mua kem, ăn kem nhiều khi làm huyên náo, thậm chí tắc cả một đoạn đường.

Mua kem thì khỏi phải bàn, lộn xộn, chẳng hàng lối gì hết, mạnh ai nấy mua. Các cô bán hàng thì mặt lạnh như tiền.

Mua được que kem, người ta phải ăn ngay trên phố Tràng Tiên, nên nói chung là cái đường phố thuộc loại đẹp nhất Thủ đô, có ngay cái đoạn lộn xộn mất trật tự ở chỗ cửa hàng kem Tràng Tiền.

Nếu có ai khen kem Tràng Tiền ngon, thì có lẽ là khen cái dư vị ngọt ngào hiếm hoi của thời bao cấp còn đọng lại trong một rãnh nào đó của trí nhớ.

Tôi thì thấy rằng không nên delete cái rãnh ấy, nhưng cũng chẳng nhất thiết phải duy trì kem Tràng Tiền.

Ảnh: Otosaigon

7/6/08

CƠM, CANH CUA, CÀ, CÁ



Lúc gần trưa, ngồi uống càphê, nghe được câu chuyện sau đây ở bàn bên cạnh giữa hai người đàn ông, một anh khoảng ngoài 30, anh kia khoảng 50. Biết nghe lỏm là không hay, nhưng bởi vì họ nói khá to, nên...

- Gần trưa rồi, để em đưa bác đi ăn nhé. Bác thích ăn gì?
- Ăn gì mà chẳng được.
- Đi ăn đồ Nhật nhé?
- Thôi thôi. Hôm qua vừa đi ăn đồ Nhật ở Bà Triệu, có 6 người mà hết hơn 10 triệu bạc. Đắt quá thể.
- Vầng, bây giờ đang có mốt ăn đồ Nhật. Toàn thức ăn nhập, nên nó mới đắt.
- Toàn bọn trưởng giả học làm sang.
- Chỗ em đưa anh đến là nhà hàng có set menu 10 đô một xuất thôi.
- Anh là chúa ghét ăn susi.
- À, nếu thế thì thôi vậy. Vậy bác muốn ăn gì?
- Thì đồ Việt Nam thôi. Chú biết tính anh còn gì! Cứ cơm Việt Nam nấu giản dị là được.
- Ví dụ?
- Đậu phụ rán, ốc nấu chuối đậu, rau muống luộc thật xanh với nước dầm sấu, canh cua mồng tơi, cá kho, có thêm vài quả cà nữa là tuyệt vời.
- Thế anh vào quán bình dân có được không?
- Quán bình dân à? Trời nóng thế này vào đấy không có máy lạnh chắc hơi khó nhỉ? Với lại anh sợ vệ sinh an toàn thực phẩm không bảo đảm, bụng dạ anh quen với thức ăn sạch bên kia rồi.
- Em biết ngay là anh không vào quán bình dân được. Phải vào nhà hàng thôi. Mà nếu thế thì những món anh nêu không hề giản dị tẹo nào.
- Sao lại thế?
- Thực phẩm chế biến mấy món đó có thể tương đối rẻ, nhưng công chế biến các món thì như nhau. Họ lấy rẻ quá cũng không được, còn tiền chất đốt, tiền quản lý, tiền máy lạnh... cái gì cũng tăng cả. Vào nhà hàng thì những món ấy giá cũng same same như những món khác.
- Thế à? Lâu quá không về anh đâu có biết.
- Tóm lại bác thích đi đâu?
- Thôi đi đâu thì tuỳ chú. Ăn cơm Việt Nam, nhưng bây giờ đành ưu tiên chọn chỗ thoáng mát, ít khách, view đẹp. Có thêm các em chân dài lượn qua lượn lại thì càng tốt.
- Úi giời. Thế thì tiền cũng chẳng kém so với ăn đồ Nhật là bao nhiêu!

2/8/06

Rau của ngày



Nhà hàng “Hòn Đá Nóng” thật xa lạ với khung cảnh của khu phố Tàu ở thành phố Châu Âu nơi tôi đến công tác mùa hè năm ấy. Sự thẳng thớm, vuông vức của nó cứ bung biêng bên cạnh những đường nét uốn lượn rực rỡ ở xung quanh. Đã nghĩ là được đi ăn cơm Tàu, nhưng chúng tôi lại được Hân đưa vào đó. Pierre đang mê Hân như điếu đổ, nên cứ được đi theo nàng là hắn thích rồi. Còn tôi, người đã ba hôm nay phải nhá đồ Tây, vừa tức vì trượt bữa cơm chắc sẽ ngon đến mức phải mút ngón tay, vừa thấy ngứa mắt vì những cái siết tay, những nụ hôn phớt má mà Pierre dành cho nàng.

Nàng dành quyền chọn món ăn cho tôi. Cũng là cách có thời gian để rúc rích với Pierre. “Tất cả đều được đun trên những phiến đá lấy từ miền Tây nước Mỹ, thưa ông” - người hầu bàn trông lịch sự như một vị giáo sư đi làm thêm trong kỳ nghỉ hè nói nhã nhặn. Đang vui vẻ gì đó với Pierre, Hân bỗng kêu á á như bị thọc lét. Thì ra nàng suýt quên một điều quan trọng. “Này, nhớ cho tôi món “Vegetable of the Day”. Người hầu bàn gật đầu: “Tôi đã ghi từ trước rồi, thưa cô”. Hân quay sang nhìn tôi. Mắt nàng đầy ngụ ý.

Với tinh thần ai trả tiền phần người ấy, nên tôi cũng chẳng tiết kiệm cho cái lũ đang yêu làm gì: Trứng cá hồi đen của Nga, thịt bê Australia (“Bò Anh bị điên” - người hầu bàn đã nói trước), rượu vang Bordeaux… Cả ba vui vẻ chạm cốc. Hân nói, mắt lấp lánh: “Pierre, may cho anh đấy. Nếu hồi ấy không phải vì vài chuyện đỏng đảnh trẻ con mà em bỏ Hùng, thì còn lâu anh mới lý giải được tại sao bà Marguerite Duras (*) lại mê Việt Nam nhé”. Rồi bất chấp tay vịn của ghế, nàng dịu dàng ngả đầu vào vầng ngực rộng của anh chàng ngoại quốc.

Người bồi bàn thật tận tình. Những phiến đá nóng hổi được ông ta đặt lên bàn rất điệu nghệ. Mỡ sôi tanh tách, nhưng không hề bắn vào thực khách. “Ông ta bày bàn cứ như tiến hành một nghi lễ vậy” – tôi nghĩ thầm. Ba miếng beefsteak đỏ hồng đặt ở ba đỉnh của tam giác đều. Trung điểm các cạnh là những chấm đen trứng cá hồi. Đĩa salat rực rỡ ở giữa. Bên ngoài tam giác phía Hân là đĩa rau bắp cải màu tím chế biến theo kiểu gì đó mà tôi không biết.

Pierre vờ quên Hân, quay sang nói những câu chuyện đàn ông với tôi. Làn hơi nghi ngút từ những phiến đá nóng tàn dần, thay vào đó là khói thuốc lá của hai cái ống bễ. Nhưng Hân thì chẳng quên hộ cho. Nàng vung tay xua khói: “Này, hút vừa thôi nhé. Ở nhà mà cũng ngạt thở thế này là tôi bỏ đấy”. Rồi Hân xúc một ít bắp cải tím (hình như luộc thì phải) vào đĩa Pierre. “Ăn đi”. Pierre nhai nhồm nhoàm, cười toe toét: “Ngôn nắm”. Hắn nói thứ tiếng Việt “nhà quê” mà Hân dạy cho. Tôi cười vờ vẫn. Ừ, còn cái món rau nghe rất sang Vegetable of the Day (Rau của ngày) chắc là Hân gọi riêng cho tôi nữa kia mà.

Ba phiến đá trống trơn. Chai Bordeaux cũng chỉ còn màu xanh của vỏ chai. Pierre lấy nốt điếu thuốc cuối cùng rồi bóp bẹp bao Marlboro rỗng trong bàn tay hộ pháp. Người hầu bàn nhẹ nhàng tiến đến gần: “Quý vị tráng miệng món gì ạ?”. Tôi bật kêu: “Thế còn món rau của ngày?” Người hầu bàn ngơ ngác. Hân cười khanh khách: “Mới xa nhà 10 hôm mà đã đòi ăn rau à? Em với Pierre ăn hết rồi còn gì!” Đến lượt tôi ngạc nhiên: “Món bắp cải tây luộc mà được gọi là rau của ngày ư?” Hân cười còn to hơn: “Thế anh bảo phải gọi nó như thế nào? Eo ôi, sang đến đây rồi mà còn nhà quê thế!” Pierre chỉ hiểu được hai tiếng “nhà quê”, hắn cười khùng khục. Cục yết hầu đỏ chót chuyển động theo nhịp cười trông phát ghét.

Pierre cúi xuống, phả khói thuốc vào mặt tôi: “Người Âu chúng tôi không ăn rau tràn lan như các vị. Chúng tôi ngày chỉ ăn một món rau thôi, để thưởng thức cho bằng hết hương vị của nó, ông “nhà quê” ạ”. Mắt hắn bỗng sáng lên những tia sáng xanh lè lạnh lẽo. “Nhưng tôi cũng rất thích những thứ “nhà quê”… Rồi hắn lại ngửa cổ cười.

Noel, tôi nhận được bưu thiếp của Hân: “Em ở lại đây thôi, anh ơi. Xa Việt Nam 7-8 năm rồi, không tưởng tượng được về nhà sẽ thế nào. May quá, Pierre đã cầu hôn với em. Chúc Giáng sinh vui vẻ”. Bên dưới có chân dung tự hoạ nguệch ngoạc của Pierre với dòng chữ: “I’m Vetetable of the Day” (Tôi là rau của ngày). Chữ ở đấy viết thoắng, nhưng tuồng chữ lại không giống kiểu tây lắm, nên cho đến bây giờ tôi vẫn chưa xác định được dòng chữ ấy là của Pierre hay của Hân. 3.1997

___

(*) Marguerite Duras: Nhà văn Pháp nổi tiếng, tác giả tiểu thuyết “Người tình”

(đăng trên báo Lao Động số 51/97, Chủ nhật, ngày 30.3.1997)

 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết