Hiển thị các bài đăng có nhãn giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng

29/8/11

KHUYẾN MẠI TUYỂN SINH, "GIẢM GIÁ" ĐẠI HỌC



1. Người ta phải ngậm cười trước “thảm cảnh” của nền giáo dục trong thời buổi cơ chế thị trường khi nghe tin các trường ĐH, CĐ tư thục dồn dập tung ra các “chiêu” khuyến mại tuyển sinh nhằm lôi kéo các thí sinh NV2 đăng ký nhập học. Khuyến mại bằng vật chất thôi chưa đủ, có trường còn tung chiêu tặng 0,5 điểm cho những thí sinh đăng ký sớm.

Báo chí bắt đầu vào cuộc về vấn đề này, Bộ GD&ĐT đã ra công văn yêu cầu các trường không được áp dụng các biện pháp tuyển sinh bằng mọi giá, dưới mọi hình thức thiếu lành mạnh gây phản cảm.

Nhưng xét cho cùng, công văn ấy chẳng qua cũng chỉ là một biện pháp hành chính. Nó tựa như việc đưa ra các mệnh lệnh nhằm “chống bán phá giá” hoặc “chống khuyến mại” trong thời buổi kinh tế khó khăn, người khôn, của khó, và người bán hàng (ở đây là các trường ĐH,CĐ) đang ế ẩm trầm trọng, muốn thu hút người mua (ở đây là các thí sinh) bằng mọi cách. Bởi các trường đều hiểu rằng - cũng như chuyến xe khách đường dài - nếu khách không ngồi kín chỗ thì chạy kiểu gì cũng lỗ. Nếu trường thiếu sinh viên thì trường sẽ lỗ to, thậm chí phải đóng cửa.

2. Theo tôi, các hình thức cấm “khuyến mãi” này sẽ không giải quyết được tận gốc. Tôi chưa thấy ai đặt lại vấn đề một cách rốt ráo: Vì sao mấy năm nay các trường liên tục thiếu thí sinh? Vì sao Hiệp hội các trường Đại học, CĐ ngoài công lập phải kiến nghị Bộ GD&ĐT bỏ điểm sàn hoặc xác định điểm sàn thấp? Xin nói ngay rằng, đó không hẳn là vì các lý do mà họ đưa ra như: kết quả điểm của kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm nay nhìn chung thấp hơn năm trước, một vài môn thi có kết quả rất kém, cá biệt điểm thi môn Lịch sử thấp một cách “không bình thường”...

Thực chất, đó là hậu quả tất yếu của tình trạng bùng nổ các trường đại học ngoài công lập mà báo chí đã nêu cách đây 2-3 năm. Tôi nhớ năm 2009, GS Trần Thanh Vân phải kêu lên: “Tôi không hiểu tại sao ở Việt Nam mình lại có nhiều trường đại học, cao đẳng đến thế, gần 400 trường. Do vậy, từ Đại học không còn có ý nghĩa... Ở Pháp, người dân rất giàu nhưng họ không thể mở được đại học tư nhân vì Chính phủ quản lý rất chặt. Bên cạnh đó, tôi nhận thấy 90% đại học của mình là đại học... doanh nghiệp”.

Ngay từ lúc đó, ông đã đề xuất “Trước hết Chính phủ bỏ một số đông trường đại học không đủ điều kiện là trường đại học chuyển thành trường dạy nghề”.

Và giờ đây, ế ẩm ở các trường tư thục là hậu quả tất yếu của sự bùng nổ các trường ĐH, CĐ trong thời gian qua, khi không thiếu ngôi trường mang danh “Đại học” to đùng nhưng được mở ra bằng tiền và bằng ý chí của các “ông chủ”, chứ không hề dựa vào nhu cầu của người học hay dựa vào dự báo nguồn nhân lực của đất nước.

3. Không có lý do gì để xót thương cho trường ĐH, CĐ tư thục không tuyển được thí sinh, bởi một khi họ đã coi giáo dục là kinh doanh, thì họ phải chấp nhận quy luật của thị trường. Khi họ không tạo dựng được uy tín, chất lượng, không có chiến lược đào tạo lâu dài, thì có khoác lên mình cái danh “đại học” với tầm vóc tự xưng như rất kêu như “quốc tế”, “châu Á”, hoặc “liên hành tinh”... thì cũng sớm bộc lộ ra là “cửa hàng dịch vụ giáo dục” cấp... huyện.

Vì thế, Bộ GD&ĐT cần quyết liệt hơn trong việc giữ vững điểm sàn, chống mọi hình thức thỏa hiệp để cứu các trường tư thục. Hy vọng rằng qua thời gian đào thải khắc nghiệt và cũng rất đau đớn, rất lãng phí, chúng ta sẽ bớt được một số lượng lớn trường mà GS Trần Thanh Vân đã cảnh báo cần đóng cửa hoặc chuyển đổi từ 2 năm trước.

NGÔ KHỞI

Nguồn:
Khuyến mại tuyển sinh, “giảm giá” Đại học




11/7/11

PHONG HÀM "NHỤC" LẮM AI ƠI...



NHẬT NGUYỆT

Việc để những nhà giáo, nhà khoa học xứng đáng được được tưởng thưởng, được ghi nhận phải chạy chọt, luồn cúi để đạt được một chức danh mà hiển nhiên họ phải được trịnh trọng trao tặng là đi ngược truyền thống tôn sư trọng đạo mà chúng ta vẫn luôn ra rả dạy con trẻ.


Đúng lúc xã hội đang tranh luận nóng bỏng về con số 70.000 tỷ đồng sắp sửa được rót ra hầu mong thay đổi cục diện ngành giáo dục, người viết bài này lại dở khóc dở cười khi được giao một công việc quan trọng: Tham gia vào nhóm chuẩn bị hồ sơ đề nghị công nhận chức danh Phó Giáo sư (PGS) cho… sếp.

Tưởng vậy mà không phải vậy!

Khoan hãy đặt câu hỏi tại sao chuyện đó khiến tôi dở khóc, dở cười. Tôi phải khẳng định ngay từ đầu rằng, trong con mắt cá nhân tôi và đồng nghiệp, sếp của chúng tôi thực sự xứng đáng được phong PGS. Là lãnh đạo một khoa đào tạo lớn của một trường đại học danh tiếng, sếp tôi có bằng tiến sĩ nước ngoài và quan trọng nhất là tinh thần làm việc không biết mệt mỏi. Ông còn sắp xếp chu toàn mọi công việc trong và ngoài khoa, tham gia các đề tài nghiên cứu, viết giáo trình, hướng dẫn sinh viên, học viên cao học...

Tình trạng thiếu giáo viên khiến sếp, dù là giảng viên kiêm chức, cũng phải lên lớp nhiều không kém gì các giảng viên bình thường khác. Sếp luôn phải đánh vật với hàng núi công việc chồng chất, mới xong việc này lại phát sinh việc khác trong guồng quay không bao giờ ngừng nghỉ của một năm học. Tôi thường trộm nghĩ, sếp làm việc với cường độ ấy mà không được phong PGS, thì cỡ như tôi có lẽ cả đời cũng chẳng dám mơ cái chức danh ấy.

Tưởng vậy mà không phải vậy. Hóa ra để đạt được cái chức danh PGS khó hơn tôi tưởng. Chẳng thế mà một đồng nghiệp khác của tôi đã phải chối đây đẩy khi có người gợi ý nộp hồ sơ vì mấy từ giản dị thế này: “Nhục lắm em ạ!”

Nhà báo Hồ Bất Khuất từng nói về chuyện này qua bài báo “Einstein xin phong GS ở Việt Nam cũng trượt!” cách đây không lâu, nhưng đó là câu chuyện ở hậu trường ít người biết đến. Còn những gì tôi đang chứng kiến nó lồ lộ ra trước mắt: Giảng viên nào trong giai đoạn chạy hồ sơ nước rút cũng lao đao cả.
Nào là những bài báo viết đã từ bao lâu, giờ phải bới tung lên để đưa vào hồ sơ. Nếu chẳng may lưu trữ không tốt (vì có phải ai viết bài cũng để chuẩn bị xin phong PGS?) thì phải chạy tới từng tòa soạn xin lại số báo đó, hoặc lần mò trên mạng để tìm lại từng trang mục lục. Vốn đã quá tải với công việc giảng dạy, nghiên cứu... lại còn thêm công tác quản lý, thế nên tất yếu những người như sếp tôi phải có một ban lo chạy hồ sơ, giấy tờ.

Nên có những lúc văn phòng của khoa cứ như tiệm photocopy với đủ thứ giấy tờ, tài liệu ngổn ngang. Hỏi một đồng nghiệp có kinh nghiệm tham gia vào những ban như thế này mới biết, đây mới chỉ là giai đoạn đầu, coi như bước sơ khởi, về sau sẽ còn hàng chục lần chỉnh sửa, bổ sung, chạy đôn chạy đáo ngược xuôi...

Chưa kể để kịp thời hạn, có nhiều thứ phải đẩy lên cho xong. Nào là in ấn giáo trình, nào là xét duyệt đề tài NCKH các cấp, tổ chức hội thảo...để có thêm điểm công trình. Cũng lạ cho cách tính điểm của nước ta. Vì tạo ra một cơ chế tưởng như chặt chẽ nhưng vô cùng bất hợp lý nên đã bao lần tôi nhìn vào lý lịch khoa học của các vị GS, PGS thì đều thấy chung một đặc điểm: Trước thời điểm được phong chức danh thì dồn dập công trình nọ kia; sau khi “xong việc” thì thưa thớt hẳn, thậm chí chẳng có thêm bài báo khoa học hay đề tài nghiên cứu nào!

Nếu Việt Nam cứ mãi khác người…


Theo lẽ thường tình, bất cứ một người với trí tuệ bình thường nào cũng hiểu học hàm GS hay PGS được phong cho những nhà giáo uyên thâm, nhiều năm kinh nghiệm và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp khoa học và giáo dục.

Vì thế, lẽ ra, Ủy ban chức danh lập ra là để theo dõi, để xem xét và chủ động phong tặng học hàm này cho những người xứng đáng. Việc để những nhà giáo, nhà khoa học xứng đáng được được tưởng thưởng, được ghi nhận phải chạy chọt, luồn cúi để đạt được một chức danh mà hiển nhiên họ phải được trịnh trọng trao tặng là đi ngược truyền thống tôn sư trọng đạo mà chúng ta vẫn luôn ra rả dạy con trẻ.
Có một chuyện mà ai cũng biết nhưng khi nói ra trên mặt báo, nhiều người lại nhăn mặt tỏ ra khó chịu. Số là, tôi có người thân trong đoàn giảng viên một tỉnh phía Bắc kéo về Hà Nội hồi đầu năm, để thi nâng ngạch giảng viên chính.

Trong tin tức hàng ngày tôi được cập nhật, không khi nào không có chuyện đoàn đã “đi” những cửa nào, tốn bao nhiêu tiền. Đó là chuyện chua chát hệt như nỗi đau khổ của những người muốn được phong GS, PGS. Thử hỏi nếu những người thầy khốn khổ theo một nghĩa nào đó, không phải là giảng viên chính thì ai mới là giảng viên chính? Tại sao họ lại phải đi “xin” được công nhận- một điều hiển nhiên- từ những người “leng keng” những học hàm học vị nhưng có khi cả đời chưa từng biết rát cổ vì giảng bài 12 tiết một ngày?

Tôi cũng muốn nói thêm rằng, đều đặn chúng tôi vẫn nhận được thư từ nước ngoài gửi về khoa, dù không rõ học hàm, học vị của giảng viên Việt Nam chúng ta ra sao, ngoài phong bì thư họ đều nhã nhặn gọi tất cả những người thầy đang đứng trên giảng đường đại học bằng danh xưng “Professor”.

Nói chuyện này ra không phải tôi không hiểu cuộc tranh luận dài hơi về sự khác nhau giữa chức danh giáo sư ở nước ta và giáo sư ở nước ngoài. Nhưng thế mới biết, nếu chúng ta cứ mãi khác người, thì đến bao giờ nền giáo dục mới đi được đúng hướng? Nếu những vấn đề ngang trái còn diễn ra và được chấp nhận một cách phổ quát như thể đó là nguyên tắc bất thành văn của nền giáo dục; nếu những giá trị thật phải ngoi ngóp vật lộn mới được công nhận thì dù có bỏ ra cả trăm ngàn tỉ đi chăng nữa cũng sẽ chẳng thể nào thay đổi được nền giáo dục nước nhà.

Nguồn:
Chuyện phong học hàm: “Nhục lắm, em ạ!”



28/4/11

QUÝ VỊ ĐANG HẠI CON MÌNH



“Tôi chỉ có một số suy nghĩ như sau, cần "Tôn sư - Trọng đạo", đó là quan điểm của bạn đọc N.K.C sau khi đọc bài "Chép phạt: đòn roi vô hình”đăng trên SGTT. Dưới đây là ý kiến của bạn đọc N.K.C.

Tôi không cho rằng cổ xúy cho việc phạt roi, bắt chép phạt là đúng. Nhưng quý vị hãy suy nghĩ việc phạt roi, hay chép phạt cũng chưa hẳn hoàn toàn là phản giáo dục, không mang tính sư phạm.

Quan trọng là người dạy bảo rầy la các em như thế nào, hành động rầy la các em có thái quá, hay hiềm khích cá nhân với các em hay không? Hay chỉ là một chủ tâm tốt cho các em.

Thầy cô cũng là cha mẹ, cũng mong muốn học trò mình nên người. Tôi không phủ nhân có những giáo viên biến chất, có thể có suy nghĩ chèn ép học trò vì lý do nào đó. Nhưng quý vị hãy suy nghĩ xưa kia quý vị học như thế nào, cư xử với thầy cô mình ra sao? Tại sao ông bà ta lại có câu “nghề gõ đầu trẻ”?

Thời buổi hiện nay, cuộc sống vật chất đầy đủ, gia đình ai cũng chỉ có một hoặc hai con, nên việc thương yêu chăm sóc con cái đầy đủ là đúng. Nhưng có một số gia đình chiều chuộng con thái quá, quên đi trách nhiệm giáo dục tư cách đạo đức cho con mình.

Có những phụ huynh luôn cho rằng con mình đúng, luôn bảo vệ cả những thói hư tật xấu của con mình, cuối cùng chính quý vị đang hại con mình. Chính bản thân quý vị, không tôn trọng nhà trường, giáo viên. Quý vị không đồng tình, cảm thấy xốn mắt khi hình ảnh một người thầy, người cô cầm roi phạt học sinh, vậy là sẵn sàng chửi rủa, kiện tụng, thậm chí hăm dọa và đánh cả giáo viên, người mang cái chữ đến cho con mình.

Thậm chí có những bậc phụ huynh thấy con nói chuyện với mình trống không, chửi tục… nhưng cũng không nhắc nhở giáo dục, còn coi đó là niềm hãnh diện. Có những phụ huynh vỗ tay, khi trẻ bập bẹ nói chưa rành, nhưng chửi thề thì quá sỏi. Trong khi nếu thầy cô phạt roi, phạt chép bài thì lên án, cho rằng đó là phản giáo dục.

Ở trong gia đình chính quý vị, để giải quyết mâu thuẫn gia đình, có khi chồng vợ chửi đánh nhau, hay đánh con mình, chửi thề khi giao tiếp... Qua hình ảnh đó, quý vị đã giáo dục gì được cho con quý vị? Quý vị đã làm gương, sống tốt để con mình noi theo được chưa?

Tất cả mọi thứ đều đổ lên đầu giáo viên, nhà trường. Quý vị có khi nào suy nghĩ lại trách nhiệm của mình vứt ở đâu trong việc giáo dục, hình thành nhân cách cho trẻ? Tại sao chúng ta lại quan tâm đến bạo lực học đường, nguyên do xuất phát từ đâu? Vai trò của người lớn, gia đình ở đâu trong vấn nạn đó? Tại sao theo thống kê tội phạm, an ninh trật tự xã hội, đối tượng vi phạm pháp luật ngày càng trẻ hóa? …

Tôn trọng quyền của trẻ em là đúng, áp dụng phương pháp đổi mới trong giáo dục hoàn toàn chính xác. Nhưng quyền của trẻ em không phải chỉ riêng bản thân của thầy cô, nhà trường tôn trọng mà là toàn xã hội bắt buộc phải tôn trọng. Tiếc là có rất nhiều gia đình không cần biết, vứt luôn vai trò trách nhiệm trong khi bắt người khác phải tôn trọng mình, con mình. Đó là một trong lý do trẻ dần mất nhân cách, đánh lộn, bạo lực với bạn bè, vô lễ với thầy cô...

Có ý kiến còn nói, phạt vạ trong giáo dục là không thể chấp nhận? Tôi cho rằng trong xã hội nào cũng vậy, để quản lý một xã hội tốt thì đôi lúc phải có phạt vạ để giữ kỹ cương. Khó có thể giáo dục một đứa trẻ hư bằng cách năn nỉ.

Xin thưa quý vị, ý của tôi nhiều, nhưng có lẽ cách trình bày chưa trôi chảy, mong quý vị đọc kỹ và bỏ qua những sai sót.

N. K. C (Email: mien_la_ta_yeu_nhau@yahoo.com)

Nguồn:
Đừng đổ lỗi hết cho giáo viên!



20/4/11

TẢN MẠN VỀ LỀU CHÕNG



LÂM VIỆT

Người học ngày nay vẫn nơm nớp với những gì không thật sự giá trị như nhớ đúng, thuộc đủ những công thức, những ý tứ máy móc để quên mất điều quan trọng hơn là sự chủ động trong tư duy và hứng thú sáng tạo. Sự thiếu hụt, bỡ ngỡ bị xem là tối dạ; cách sao chép, mô phỏng được cho là cứng cáp, là tiềm năng.

Thú thực, xem xong bộ phim Lều chõng của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân (Hãng phim TFS sản xuất) dễ đến cả tuần lễ sau tôi vẫn bị ám ảnh. Bộ phim dựa trên một truyện dài cùng tên của nhà văn Ngô Tất Tố xoay quanh câu chuyện về anh học trò tài năng Đoàn Vân Hạc bị hỏng thi hết lần này lần khác vì nhiều lí do khác nhau. Có điều, tất cả những lần thi hỏng ấy đều từ những lí do khách quan như ốm đau, hay quy phạm ngặt nghèo của trường thi mà tài năng kiệt xuất ấy đã không được trân trọng và lựa chọn. Không chấp nhận những rủi ro liên tiếp như định mệnh, Đoàn Vân Hạc vẫn bản lĩnh vượt qua tất cả trong lần dự thi cuối cùng. Tưởng như đã chạm được một tay vào danh vị thủ khoa năm ấy thì bỗng dưng anh biến thành kẻ trắng tay trong phút chốc.

Giấc mộng công danh biến mất, màn ảnh nhỏ khép lại, người xem thấy tiếc cho một tài năng, thấy bức bối với quy định nghiệt ngã của xã hội cũ và có thêm một suy cảm mới mẻ: Nhìn lại chuyện bút nghiên ngày nay, vẫn còn quá nhiều rào cản và thử thách không đáng có ngăn trở bước tiến của những tài năng trong cuộc sống hiện đại.

Trong suốt gần một ngàn năm tồn tại, các kì thi này đã tuyển chọn, cất nhắc được nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng mà không câu nệ vào tuổi tác như trạng Nguyễn Hiền 13 tuổi hay tướng mạo xấu xí, quái dị như Mạc Đĩnh Chi. Tuy nhiên, ở giai đoạn thoái trào của các tập đoàn phong kiến, đã xuất hiện những quy định phiền hà, oái oăm đánh trượt nhiều tài năng. Trước sự vận động của thời cuộc, đòi hỏi tìm kiếm những người có tài năng, cá tính mạnh mẽ. Có tư duy linh hoạt bứt phá thì những chuẩn mực lạc lõng kia thực sự là những rào cản nghiệt ngã. Sự tồn tại của nó xuất phát từ quan niệm ấu trĩ về cách đánh giá và lựa chọn hiền tài dựa trên những tiêu chí máy móc. Nó buộc người ta phải vượt qua những may rủi của con đường thiên lý đến những sự tránh né, kiêng kị trong câu cú, gò mình trong khẩu khí.

Chuyện lều chõng tưởng cũng đã xưa. Vậy mà bất giác lại khiến tôi nghĩ đến một kỷ niệm. Nhớ lại cái ngày còn bé, gia đình tôi còn ở một bản miền núi. Tôi hiểu vào đời lập nghiệp thiêng liêng thế nào khi chứng kiến anh trai mình dậy từ gà gáy khăn gói về Hà Nội thi đại học. Hai giờ sáng xe chạy, mất gần hai ngày rong ruổi đủ cả ngủ trọ, cơm nắm, cơm đùm, qua bao đèo dốc quanh co… Đêm trước ngày thi, Hà Nội lại có cơn giông lớn, cây đổ gây ách tắc nhiều ngả đường, phố xá ngập lụt. Đường đến cổng trường đại học của những thí sinh năm đó lại đằng đẵng thêm một quãng nữa. Có phải số anh tôi vất vả hay cái nghiệp thi cử thời nào cũng gian nan thế ư? Sau này lớn lên tôi hiểu, điều ấy được đổi lại bằng sự công tâm của những kì thi mà nếu đưa về các địa phương hay lồng ghép "2 trong 1" thì thật là khó…

Vài năm sau gia đình tôi chuyển về gần Hà Nội. So với anh cả, tôi và các em tôi được làm “người phố xá” nên thấy cái gì cũng lợi, cũng tiện, hơn hẳn những học trò vùng xa xôi. Quá khứ thi cử nhọc nhằn của anh giờ chỉ còn là chuyện kể vui tai trong bữa cơm của đại gia đình. Có lẽ, những con đường mòn lầy lội kia đã vĩnh viễn nằm dưới lớp bê tông, chiếc xe khách cà tàng ba ngày chạy về Hà Nội một chuyến đã vào một bãi sắt vụn nào đó. Nhưng hoá ra không phải, những phương tiện hiện đại đã giúp người học bớt đi một phần sức lực nhưng vẫn còn đó quá nhiều những rào cản không đáng có bởi những quan niệm cũ kĩ.

Thời phổ thông, học trò căng sức với các môn thi đại học. Kiến thức đa phần nằm trong quyển vở ghi lời lẽ của thầy. Thế mà vào đại học chúng tôi cứ vấp hết thứ này đến thứ khác. Những thứ khó vì lạ chứ không phải vì đòi hỏi trình độ tư duy. Nào là: cách đọc sách, cách lập dàn ý, cách viết tiểu luận, làm việc theo nhóm, seminar… mà lần đầu tiên đã là lần đánh giá trình độ.

Có phải vì đã là sinh viên (được coi là có học) là phải biết rồi chứ! Phải sẵn từ trước đó. Người phương Tây cho rằng, để chuẩn bị cho toàn cầu hoá nền giáo dục, họ sẽ bắt đầu xây dựng từ cấp phổ thông. Bởi lẽ, họ muốn trang bị cho học trò những kĩ năng trước khi vào cuộc đua tri nhận kiến thức và tư duy ở các cấp học cao hơn. Nói cách khác, mọi học sinh đều ngang tầm nhau về trang bị và hồ hởi đua sức. Khi đó việc đánh giá, phân loại sẽ dễ dàng và chính xác biết bao. Thế mà học trò của ta lắm khi cứ bị “bé đi”, bị “trầy xước” bởi việc làm quen với những thao tác kia trước khi nhập cuộc đua tri thức.

Ngẫm lại mới thấy sự ám ảnh với chiếc lều chõng là có lí thật. Dẫu rằng, ngót trăm năm qua những thứ gianh tre kia đã mục nát lâu rồi. Đó là một gánh nặng khác. Gánh nặng của những quy tắc đã lỗi thời mà ở những nền giáo dục tiên tiến không còn tồn tại. Đó là người học vẫn nơp nớm với những gì không thật sự giá trị như nhớ đúng, thuộc đủ những công thức, những ý tứ máy móc để quên mất điều quan trọng hơn là sự chủ động trong tư duy và hứng thú sáng tao. Sự thiếu hụt, bỡ ngỡ bị xem là tối dạ, cách sao chép, mô phỏng được cho là cứng cáp, là tiềm năng. Như thể ta mãi chú ý cái tầm cao của tên lửa mà quên nhìn lại cái mấp mô, lổn nhổn của từng bệ phóng cho tri thức.

Cũng như muôn vàn bình diện khác của cuộc sống, giáo dục đang tự làm mới mình bằng những thay đổi đáng kể trong những năm gần đây. Công bằng mà nói chuyện thi cử của chúng ta ngày nay cũng rất nghiêm túc. Nhưng cớ sao chuyện tìm kiếm và đào tạo nhân tài vẫn còn nhiều điều bất cập. Có lẽ chỉ khi nào chúng ta dũng cảm từ bỏ được những quan niệm cũ thì nỗi ám ảnh ấy không còn nữa. Như thế con đường lập nghiệp bằng chữ nghĩa mới thật sự rộng mở với mọi người.

Ảnh: Các cảnh trong phim "Lều chõng"

Nguồn:
Tản mạn về lều chõng



29/3/11

SINH VIÊN HÀN QUỐC KIỂU MỚI (2)


Tại một phòng thi đại học ở Hàn Quốc

Một nghề chuyên môn mới ra đời: làm công tác tuyển sinh

Đại học Quốc gia Seoul, trường đại học công lập trọng điểm của đất nước, là một trong những trường đầu tiên bắt đầu áp dụng cơ chế tuyển sinh mới. "Khi mới bắt đầu, chúng tôi thậm chí còn không có chức danh thích hợp. Chúng tôi được gọi là chuyên gia nghiên cứu," theo lời Lee Seung Yeon, một viên chức của văn phòng tuyển sinh bắt đầu làm việc tại Đại học Quốc gia Seoul từ năm 2001. Trong vòng một thập kỷ trở lại đây, nhờ sự giúp đỡ của các nhà tư vấn từ ĐH California - Berkeley và ĐH Cornel, các nhà tuyển sinh cùng nhau xây dựng một phương pháp để xem xét tuyển sinh không chỉ dựa trên điểm số hoặc trình độ giáo dục mà còn dựa trên chất lượng chuẩn bị hồ sơ của các thí sinh.

Ngày nay đại học có 24 nhà tuyển sinh và một toà nhà độc lập. Phác thảo về các thiết bị hiện đại trong tương lai được treo tại văn phòng trưởng khoa. Văn phòng điều phối một hệ thống thông tin phức tạp theo ba định hướng tiêu chí trong việc tuyển chọn 3.000 sinh viên hàng năm.

Định hướng tiêu chí chủ đạo cho phép sinh viên thể hiện sức mạnh của mình hơn là yêu cầu họ đạt điểm cao nhất trong mọi môn học. Hầu hết các thí sinh vẫn tham gia làm bài thi vào cao đẳng, nhưng họ được đánh giá dựa vào trình độ, bài giới thiệu tiến cử, các bài luận, và các tài liệu để thể hiện tài năng hoặc mối quan tâm về các lĩnh vực của họ.

Định hướng thứ hai nhằm đa dạng vùng miền bằng việc xem xét các sinh viên với điểm cao nhất ở mỗi trường trung học của Hàn Quốc, và nhà nước khẳng định các sinh viên này sẽ sớm được áp dụng các tiêu chí tuyển sinh mới khác nữa. Và định hướng thứ ba cân nhắc về điểm trung bình theo truyền thống và qua cuộc thi đầu vào của trường đại học. Vậy nên, trong khi một số sinh viên đang tìm kiếm sự xem xét trên những tiêu chí đặc biệt thì những sinh viên khác vẫn đang cặm cụi học suốt ngày đêm để làm sao đạt điểm kiểm tra cao nhất có thể.

Thông qua quá trình mở rộng tiêu chí tuyển sinh, các nhà tuyển sinh nói, họ đã nhận tuyển vào các trường đại học hàng đầu của đất nước những sinh viên vốn không thể được chấp nhận nếu căn cứ theo cơ chế tuyển sinh trước đây. Một số sinh viên gặp khó khăn trong những năm đầu nhưng sau đó lại trở nên thành công, hay một số là những học sinh đầu tiên của một tỉnh trong vòng 30 năm nay vào được nhóm các trường đại học hàng đầu, họ đến từ các trường trung học các tỉnh vùng nông thôn nơi có ít cơ hội tiếp cận với hình thức học phụ đạo tư nhân phổ biến như ở Seoul.

Các trường đại học đã phải giới thiệu hệ thống giảng dạy và các lớp học ở trình độ vừa phải hơn và hệ thống phụ đạo cho những em không theo kịp. Nhưng các nhà tuyển sinh tin rằng họ đang nhận vào nhiều hơn những sinh viên thực sự quan tâm về lĩnh vực của mình thay vì chạy đua theo uy tín bằng cấp. Nuôi trồng phẩm chất tò mò trí tuệ cũng là một ưu tiên hàng đầu mới của các trường đại học, với mong muốn thu hút được các nhà lãnh đạo tiềm năng của tương lai.

Hàn Quốc đang nỗ lực giải quyết điều nghịch lý được thể hiện qua các kỳ thi tầm quốc tế: trong khi kỹ năng của các sinh viên Hàn Quốc được xếp vào hạng cao nhất trên thế giới, các kết quả khảo sát lại chỉ ra rằng, sự hứng thú hay lòng tự tin của họ trong toán học hoặc khoa học là thấp hơn hẳn so với mức trung bình.

"20 hoặc 30 năm trước đây, chúng tôi cần những sinh viên có thể học được một số thứ và bám theo được lối mòn mà các nước tiên tiến tạo ra. Nhưng bây giờ Hàn Quốc đã trưởng thành, và chúng ta không nên chỉ đơn giản đi theo sau những gì người khác đã làm. Chúng ta cần những con người mới với óc sáng tạo mới," nhận định từ Seon Moon Suk, một cán bộ tuyển sinh tại Viện Khoa học Công nghệ Tiên tiến Hàn quốc, hay còn gọi là Kaist, tại trường đại học nghiên cứu khoa học công nghệ đầu ngành của quốc gia. Kaist đã sớm mở rộng cơ chế tuyển sinh. Bài kiểm tra đầu vào của trường đã trở thành không bắt buộc từ cách đây hơn một thập niên trước, và các sinh viên được đánh giá dựa trên các cuộc phỏng vấn, điểm số, và các nhận xét đề cử.

Nhiều sinh viên đến từ các trường trung học chuyên, nơi mà họ tập trung vào nghiên cứu và có thể tốt nghiệp sớm một năm và được nhận thẳng vào đại học mà không cần thi đại học.Vào năm 2008, Kaist bắt đầu thuê các chuyên gia tuyển sinh để xây dựng hệ thống mô hình để đánh giá hồ sơ cho các thí sinh từ các trường trung học đại chúng.

Mỗi trường đại học đang thực hiện theo một hệ thống riêng. Một số yêu cầu thi tuyển qua hệ thống thi của quốc gia hay các bài kiểm tra chuẩn hoá khác, như là Toefl; một số trường khác thì không.

Hầu hết các chuyên gia tuyển sinh cho biết họ đang tìm kiếm những sinh viên có thể suy nghĩ độc lập và không phụ thuộc nhiều vào gia sư riêng. Nhiều người tin rằng việc học thêm quá nhiều theo sự hướng dẫn của gia sư gây ra lối học thụ động và chỉ tập trung đối phó với thi cử.

"Chúng tôi muốn gửi một thông điệp mới rằng nếu bạn học hành chăm chỉ ở trường và biết tận dụng lợi thế tại trường của bạn, bạn có thể thành công," khẳng định từ Jung Hee An, một nhà tuyển sinh tại trường Đại học Ewha Womans, nơi mà một phần tư lớp sinh viên năm thứ nhất được lựa chọn căn cứ theo một đợt kiểm tra bao quát toàn diện hơn.

Trong khi các thí sinh đại học làm bài, mẹ của họ sẽ đến chùa cầu cho họ thi tốt.

Tư duy học thuật kiểu cũ vẫn giữ vai trò chủ đạo

Các trường đại học đang yêu cầu các trường trung học công lập cải cách để chuẩn bị cho học sinh một hành trang toàn diện hơn, tạo ra những con người tự lập hơn. Nhưng đây là một đòi hỏi thay đổi quá lớn cho một hệ thống tuyển sinh được xây dựng quanh một kỳ thi sinh tử, trong đó có vai trò tham gia ngày càng tăng của các trường tư. Tại nhiều trường học ở Seoul, các sân thể thao và lớp học vắng tanh sau tiếng chuông cuối cùng, vì tất cả sinh viên vội vã đến với các gia sư riêng hoặc các trường luyện thi, nơi họ chuẩn bị cho kỳ thi vào trường đại học.

Chính phủ đang đẩy mạnh viện trợ cho các trường để thu hút học sinh đến với các hoạt động ngoài giờ. Nhưng trong nỗ lực nhằm cạnh tranh với trường luyện thi và cạnh tranh lẫn nhau (điểm chuẩn các bài thi của từng trường được công bố công khai), nhiều trường công lập đang tập trung nguồn hỗ trợ này vào các môn học chủ đạo như tiếng Hàn Quốc, tiếng Anh, và toán học, và chấp nhận hi sinh các môn thể thao và mỹ thuật.

Yu Hwa Young, người sẽ bắt đầu học tại trường ĐH Sogang vào tháng ba, nói, cậu ta đã tham gia vào tờ báo ở trường trung học Posung, nhưng ở trường cũng có câu lạc bộ khác để tham gia. Cậu ta cũng tham dự nhiều hoạt động ở các nơi khác. Cậu đăng ký tham gia tại một học viện đặc biệt được thiết kế cho các sinh đăng ký theo các chương trình nghiên cứu về quốc tế. Trong suốt khoá học hai buổi mỗi tuần, cậu ta được nghe bài giảng về các vấn đề quốc tế và kinh tế, và được cho đọc sách giáo trình của Thomas L. Friedman và Noam Chomsky. Khoá đào tạo đã giúp cậu ta hình thành các quan điểm về các vấn đề quốc tế then chốt, và cung cấp cho cậu sự chuẩn bị quý báu cho cuộc phỏng vấn vào trường đại học.

Yu sống ở nước ngoài trong suốt ngững năm học trung học để học tiếng Anh, và cha mẹ của cậu ta cũng thuê gia sư để giúp cậu cải thiện điểm thi Toefl nhiều tháng trước kì thi. Yu cho biết: "Các trường cao đẳng thì nói họ không muốn điểm số cao, nhưng điểm cao vẫn luôn tốt hơn."
Trong khi các trường trung học công lập đang từ từ thay đổi, các trường tư lại nhanh chóng thích nghi với tư duy "chính thống" mới. Một danh mục các dịch vụ tư vấn và các học viện chào mời học sinh các cơ hội tình nguyện miễn phí, các khóa đào tạo chuẩn bị cho các cuộc thi quốc gia được tổ chức nhằm cải thiện hồ sơ đăng ký đại học của học sinh, và cung cấp lời khuyên học sinh nên xây dựng một hồ sơ cá nhân gồm điểm trung bình học kỳ, điểm bài thi, và tham gia các hoạt động như thế nào thì sẽ mang đến thành công.

Sự bùng nổ mới nhất này ở khu vực giáo dục tư nhân đang thổi bùng lời chỉ trích rằng, sự can thiệp của các nhà tuyển sinh đang làm tăng sự bất bình đẳng giàu nghèo thay vì giảm đi, vì những học sinh giàu có sẽ có được sự chuẩn bị đặc biệt hơn.

Tuy nhiên, Yang Hee Neyong, sinh viên trong nhóm dẫn đầu của một trường trung học danh tiếng mức trung bình ở miền trung Hàn Quốc nghĩ rằng hệ thống mới là cơ hội tốt nhất cho một sinh viên như cô để trở nên nổi bật khi đăng lý tai trường đại học Ewha Womans vào năm tới.
Đến từ một gia đình trung lưu ở một thành phố công nghiệp, cách ba tiếng đi từ thủ đô, cô ấy không có cơ hội để học ở nước ngoài hoặc để tham dự một trong những "học viện nổi tiếng của Seoul," như cô nói. Thay vào đó, cô ấy cố gắng đứng đầu lớp học tiếng Anh của mình bằng cách luyện tập ở nhà, với sự giúp đỡ thỉnh thoảng từ gia sư, và bằng cách lắng nghe các bài học trên băng và tự ghi lại giọng nói để thực hành phát âm.

Cô hy vọng sẽ gây ấn tượng với các nhà tuyển sinh nhờ sự đam mê học tiếng Anh, ước mơ trở thành người phiên dịch, và khả năng rèn luyện độc lập của mình. "Tôi nghĩ việc tôi tự học lấy đã thể hiện được tiềm năng của tôi," cô nói.

Để chuẩn bị cho việc vào trường đại học, cô ở lại ở trường cho đến 11h đêm mỗi ngày. Cô nghiên cứu bài thi nhưng cũng viết thơ và các đoạn văn bằng tiếng Anh để chuẩn bị cho các cuộc thi đấu. Ở nhà, cô duy trì một trang blog với các bài học ngữ pháp tiếng Anh hài hước, và cô cũng dịch sách của trẻ em bằng tiếng Anh sang tiếng Triều Tiên. Vào những buổi cuối tuần, khi nhiều bạn bè của cô đi học thêm tại các học viện tư nhân, thì cô làm tình nguyện ở viện dưỡng lão hoặc tự học lấy. Giáo viên của cô duy trì danh mục hồ sơ những thành tích đa dạng của cô và đưa ra những lời góp ý và động viên. Nhưng việc tránh các trường luyện thi trong một hệ thống nơi thứ hạng có vai trò quan trọng làm cho cô cảm thấy lo lắng, "lo lắng rất nhiều," cô nói.

Một buổi tối tháng mười một, cô bé nhìn lướt qua cuốn sách giới thiệu về trường Ewha, về hồ sơ của những sinh viên được tuyển chọn bởi các cán bộ tuyển sinh mới.

Cô bé đọc to những mô tả về các cô gái đã là chủ tịch lớp của họ, có người đã đi những nơi xa xôi trên Thế giới để làm tình nguyện, hoặc có người sáng lập ra câu lạc bộ hoạt động xã hội của riêng họ, và ở lớp học điểm số của những cô gái đó vẫn được duy trì ở mức gần như đứng đầu vì họ đã chăm chỉ đến sớm về muộn học bài hơn mọi học sinh khác. Sau vài phút, vẻ tự tin tươi tắn của Yang biến mất:

"Ôi trời ơi, sao tôi có thể làm được như vậy?"

Tác giả: Michael Alison Chandler
Bài đăng trên tạp chí "The Chronicle of Higher Education"
Người dịch: Phạm Trần Lê

Nguồn:
Hàn Quốc đi tìm một hình mẫu sinh viên kiểu mới



28/3/11

SINH VIÊN HÀN QUỐC KIỂU MỚI (1)


Sinh viên năm trên khích lệ thí sinh làm bài tốt trước khi bước vào phòng thi

“20 hoặc 30 năm trước đây, chúng tôi cần những sinh viên có thể học hỏi được một số thứ và bám theo được lối mòn mà các nước tiên tiến đã tạo ra. Nhưng bây giờ Hàn Quốc đã trưởng thành, và chúng tôi không nên chỉ đơn giản đi theo sau những gì người khác đã làm... Chúng ta cần những con người mới với óc sáng tạo mới.”

Trong khi gần 700.000 sinh viên trường cao đẳng ở Hàn Quốc đang miệt mài gắng sức cho kỳ thi vào đại học vào tháng mười một, thì Yu Hwa Young lại dành cả ngày đi tàu lượn siêu tốc và chụp hình tại Everland, một khu vui chơi giải trí.

"Mọi người đều ghen tị," một sinh viên sắp tốt nghiệp 19 tuổi của trường trung học Posung nói, Yu được miễn kỳ kiểm tra vì đã được nhận vào chương trình nghiên cứu quốc tế tại trường ĐH Sogang, dựa trên bảng điểm với điểm gần như tuyết đối trong bài thi tếng Anh, bài phỏng vấn, và các hoạt động ngoại khoá, ví dụ như tham gia làm báo ở trường và tham gia hội Mô hình Liên Hợp Quốc.

Các bài thi vượt rào then chốt được chuẩn hoá vốn từ lâu là cánh cửa dẫn đến đào tạo giáo dục cấp cao ở Hàn Quốc, nay đã không còn là con đường duy nhất để vào được các trường đại học. Hơn 10% sinh viên mới bắt đầu học vào tháng Ba sắp tới được chọn lựa bởi những cán bộ tuyển sinh kiểu mới, những người đã trải qua khóa đào tạo nhằm đánh giá những phẩm chất khó định lượng, như khả năng lãnh đạo và tư duy độc lập. Thay đổi trong các kỳ tuyển sinh là vấn đề trọng tâm của một loạt các cải cách về chính sách nhằm thúc đẩy sự sáng tạo của các sinh viên trước đây được đào tạo để ghi nhớ, và triệt để xử lý vấn đề về khối trường tư thục đang làm cho con đường tới các trường đại học ngày càng đắt đỏ.

Lee Ju Ho, Bộ trưởng Giáo dục, Khoa học, và Công nghệ, nói rằng, tuyển sinh đại học phải cải cách trước khi cải cách mọi lĩnh vực khác. "Mọi bậc cha mẹ thường muốn con của mình được học ở trường tốt nhất có thể. Đó là nguyên nhân dẫn tới hệ quả là văn hóa thi cử của chúng ta," ông nói. "Tất cả các nỗ lực bỏ ra chỉ để nâng cao điểm các bài thi, không phải nhằm phát triển óc sáng tạo hay bất kì khía cạnh tự nhiên nào khác của con người... Đó là thách thức lớn nhất của chúng tôi."

Bộ đã đầu tư 31 triệu đô-la Mỹ, hay 35 - tỉ won, vào năm 2010, tăng gần 2 triệu đô-la Mỹ so với năm 2007, để chi trả tiền lương và chi phí đào tạo cho các nhà tuyển dụng kiểu mới. Hệ thống đã mở rộng đến hơn 100 trường đại học, bao gồm cả một số trường không nhận ngân quỹ của chính phủ.

Các trường đại học ở những quốc gia khác, vốn từ lâu sử dụng cơ chế tuyển dụng dựa nhiều vào thi cử, nay cũng đang nỗ lực cải cách nhằm cải thiện chỗ đứng trên toàn cầu và thu hút các sinh viên ngoại quốc. Các trường đại học đứng đầu của Hồng Kông và đại lục Trung Hoa đang mở rộng các tiêu chí tuyển sinh để khích lệ những phẩm chất như khả năng sáng tạo và tham gia hoạt động cộng đồng. Hiệp hội Quốc gia Tư vấn Tuyến sinh Đại học của Mỹ đã và đang chào đón các du khách đến từ Romania, Ukraina cũng như Hàn Quốc, những người thực sự quan tâm với hệ thống giáo dục linh động hơn này.

Nhưng thay đổi hoàn toàn một nền văn hóa thi cử có hàng thế kỷ ở Hàn Quốc cũng khó khăn không kém nơi nào khác. Các trường học và các gia đình cần thời gian để theo kịp với tư duy mới, trong bối cảnh xã hội vẫn quan niệm rằng chương trình giảng dạy ngoại khóa nghĩa là các lớp toán và tiếng Anh nâng cao, và sự cạnh tranh vào các trường đại học hàng đầu là vô cùng khốc liệt, khiến việc phụ đạo thêm là khó tránh khỏi và sinh viên không có thời gian để làm bất cứ việc gì khác ngoài việc học. Nhiều bậc cha mẹ hoài nghi rằng cải cách định hướng này sẽ chẳng tồn tại nổi sau cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo vào năm 2013.

Tuy thế, các nhà quan sát nói thay đổi mới hình thành đang thúc đẩy những cuộc đối thoại quan trọng ở Hàn Quốc trong một bối cảnh mang tính bản lề. Sinh viên trường trung học cơ sở đang bắt đầu nghĩ về những gì họ có thể làm ngoài việc học. Và các trường cao đẳng đang bắt đầu hỏi, "chúng ta đang cần những hình mẫu thanh niên tài năng gì, và chúng ta sẽ làm cách nào để tìm ra họ?" nhận định từ Chung Kwang Hee nhà nghiên cứu các chính sách tuyển sinh ở Viện Phát triển Kinh tế Hàn Quốc.

Cảnh sát Seoul giúp các thí sinh đại học lạc đường đến điểm thi đúng giờ.

Gốc rễ của việc cải cách

Hệ thống giáo dục của Hàn Quốc được sự ngưỡng mộ rộng rãi với nỗ lực thành công cứu quốc gia này ra khỏi cảnh nghèo đói sau cuộc chiến tranh Triều Tiên và mang lại sức mạnh cho nền kinh tế lớn thứ 13 của Thế giới chỉ trong sáu thập niên ngắn ngủi. 78% dân số Hàn Quốc mù chữ vào năm 1948 và một phần nhỏ của 1% đạt trình độ giáo dục sau trung học. Ngày nay, Hàn Quốc là một trong số những nước có tỷ lệ mù chữ thấp nhất trên thế giới (2 %) và tỉ lệ hoàn thành các chương trình học hệ cao đẳng khá cao: 58 % người trưởng thành trong độ tuổi từ 25 đến 34 có bằng đào tạo 2 hoặc 4 năm.


Người Hàn Quốc ca tụng những cổ tích về "những con rồng" "nổi lên từ mương rãnh," hoặc những người đạt được thành tựu vĩ đại từ những bước khởi đầu khiêm tốn, thường là nhờ giáo dục. Lee Myung Bak được sinh ra trong một gia đình nghèo và phải làm việc kiếm sống trong suốt thời kỳ học trung học và đại học, trước khi trở thành giám đốc điều hành tại Hyundai và cuối cùng trở thành Tổng thống.


Nhưng nhu cầu quá tải đối với giáo dục đại học cũng đã gây ra cuộc cạnh tranh dữ dội để dành những cơ hội được đào tạo giáo dục tốt nhất. Văn hoá cạnh tranh này đang hình thành nên nền công nghiệp giáo dục tư nhân với ước tính là 19 tỷ đô-la Mỹ, hoặc 21,6 nghìn tỷ won vào năm 2009. Ngày nay, hệ thống giáo dục nổi tiếng của quốc gia này bị đổ lỗi cho hiện tượng sụt giảm tỉ lệ sinh nở, những số liệu về tình trạng tự tử, và hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng sâu hơn.

Nhiều sinh viên có đủ nguồn tài chính đã rời khỏi Hàn Quốc để theo đuổi nền giáo dục cao hơn. Số lượng sinh viên học ở nước ngoài tăng từ 24.000 trong 1985 lên 218.000 vào năm 2007, theo số liệu thống kê của chính phủ, với một phần ba số sinh viên trên đang học tại Bắc Mỹ. Ngày càng nhiều sinh viên còn lại đang rời các trường trung học hoặc trường trung học cơ sở để học tiếng Anh và để dành thời gian chuẩn bị cho việc vào các trường đại học Phương Tây.

"Ngày nay nếu bạn muốn hóa rồng, bạn phải có tiền," Kwon Heok Seung, Phó Trưởng phòng tuyển sinh tại Đại học Quốc gia Seoul nói.


(còn tiếp)


Tác giả: Michael Alison Chandler
Bài đăng trên tạp chí "The Chronicle of Higher Education"
Người dịch: Phạm Trần Lê

Nguồn:
Hàn Quốc đi tìm một hình mẫu sinh viên kiểu mới


22/2/11

MẸ HỔ DẠY CON



Người châu Á có câu “Yêu cho roi vọt, ghét cho ngon ngọt”. Kỷ luật “sắt” và yêu cầu cao đối với lũ trẻ là nguyên tắc của giáo dục phương Đông. Trẻ em phải học cực nhiều, hết học ở trường lại học ở nhà, học thêm ở ngoài. Chúng bị buộc phải bỏ mất tuổi thơ để đổi lấy tương lai ổn định. Nhiều người hy sinh tất cả vì con, thậm chí bỏ việc của mình để kèm con học suốt ngày.Không ít người cho rằng tài năng được rèn rũa trong roi vọt.

Đầu năm nay, câu chuyện một bà mẹ dạy con quá nghiêm khắc đã gây ra một cuộc tranh luận ồn ào chưa từng thấy tại nước Mỹ. Nhân vật chính ở đây là bà Amy Chua – tự xưng Mẹ Hổ – có lẽ vì bà sinh năm Hổ (1962), hoặc vì bà cho là mình đã dạy con nghiêm như Hổ mẹ.

Amy Chua có cha mẹ là người Hoa từ Phillippines di cư sang Mỹ đã lâu. Hiện nay bà là giáo sư trường Luật thuộc Đại học Yale, chồng bà là ông Jed Rubenfeld người Mỹ gốc Do Thái, giáo sư cùng trường. Họ có hai cô con gái là Sophia và Louisa, năm nay 18 và 15 tuổi. Chúng được Mẹ Hổ dạy dỗ kèm cặp từ nhỏ, theo bà nói nay đã “thành tài”: 4 tuổi đọc sách của văn hào Jean Paul Sartre; tất cả các môn học đều đạt thành tích cao nhất; Sophia 14 tuổi độc tấu dương cầm tại Phòng Hòa nhạc thành phố; Louisa là cây vĩ cầm chủ lực của dàn nhạc giao hưởng thiếu niên thành phố; ...

Giữa tháng 1 vừa rồi, Amy Chua định xuất bản cuốn sách bà mới viết, có tên Chiến ca của Mẹ Hổ . Sách Chiến ca của Mẹ Hổ dầy 256 trang tiếng Anh, ngay trong ngày phát hành đầu tiên đã được xếp hạng bestseller thứ 6 trên mạng bán sách Amazon. Khoảng 100 nghìn lời bình sách này xuất hiện trên mạng xã hội Facebook..

Sau khi tạp chí Time số cuối tháng 1/2011 đưa chuyện Mẹ Hổ lên trang bìa, cuộc tranh luận về cách dạy con của Amy Chua lan ra khắp năm châu “như một cơn sốt vi rut”. Mẹ Hổ quả thực làm rung chuyển cả thế giới.

Một số người tán thành Amy Chua, nhưng đa số, trong đó có cả nhiều bà mẹ Trung Quốc, phản đối gay gắt, gọi bà là “quý sứ”, là “mẫu người nguy hiểm” của xã hội, buộc tội bà “ngược đãi” con. Trong số hàng chục nghìn bức thư gửi Amy Chua, một số người còn đe dọa “khử” bà. Nhiều người kêu gọi phê phán Mẹ Hổ, vì nếu không “bà ta sẽ kiêu ngạo tiếp tục hành hạ lũ con mình”.

Amy Chua rất khổ tâm. Trả lời phỏng vấn của tuần báo Newsweek, bà nói: “Có người dọa giết tôi, có người bảo tôi nên cút về Trung Quốc, họ gọi tôi là quái vật ... khiến tôi rất ngạc nhiên.”

Mẹ Hổ dạy con như thế nào?

Cách dạy con của Amy Chua thực ra chẳng có gì xa lạ với người Việt Nam; còn với người Trung Quốc thì quá bình thường. Tuổi thơ của rất nhiều trẻ em Trung Quốc bị bố mẹ bắt dùng hết vào việc học; xuất hiện những “thần đồng” hơn 10 tuổi đã viết tiểu thuyết hái ra tiền, 13 tuổi vào Đại học... Phương Tây cũng biết cả. Có điều khi viết chuyện dạy con ấy ra sách thì lại khác, người phương Tây cảm thấy “kinh khủng, khiếp hãi”, “không thể hiểu nổi”.

Sophia và Louisa (tên thân mật là Lulu) suốt đời sống trong sự rèn cặp của bà mẹ mà chúng gọi yêu là Mẹ Điên, vì bà bắt chúng học như điên mọi thứ theo ý bà. Amy Chua từng nói sở dĩ trẻ con không yêu thích công việc là do chúng chưa thạo công việc ấy; khi nào đã thạo thì chúng sẽ thích công việc. Người phương Tây quá tôn trọng cá tính và sở thích, nguyện vọng của con nên thiếu nghiêm khắc với con. Người châu Á thì chỉ lo chuẩn bị tương lai cho con, vì thế bắt con phải chăm học từ nhỏ, có vậy sau này ra đời chúng mới sống được trong cuộc cạnh tranh tàn khốc.

Amy Chua viết: Nhiều người muốn biết phụ huynh người Hoa dạy con như thế nào để chúng trở thành những đứa trẻ thành công, những thiên tài toán học hoặc thần đồng âm nhạc, dù chúng không muốn. Sau đây là những điều Sophia và Louisa phải tuân theo:

- Không được qua đêm ở nơi không phải nhà mình;
- Không được xem phim;
- Không được tham gia biểu diễn văn nghệ ở trường;
- Không được than phiền vì điều cấm ấy;
- Không được xem truyền hình hoặc chơi game máy tính;
- Không được tự chọn hoạt động ngoại khóa (mà do mẹ chọn);
- Điểm sát hạch, điểm thi tất cả các môn học phải đạt mức A (tức cao nhất);
- Trừ môn thể dục và sân khấu ra, thành tích học tất cả các môn khác đều phải nhất lớp;
- Trừ dương cầm và vĩ cầm ra, không được chơi bất cứ nhạc cụ nào khác;

Amy Chua viết: Các bậc cha mẹ phương Tây dù nghiêm khắc đến đâu cũng không bằng cha mẹ người Hoa. Thí dụ, họ cho rằng bắt con mỗi ngày tập đàn từ 30 phút đến 1 giờ là quá nghiêm khắc, nhưng các bà mẹ người Hoa thì bắt con tập đàn liền 3 tiếng đồng hồ. Người Hoa cho rằng con học không giỏi là do cha mẹ chưa làm tròn bổn phận. So với người phương Tây, hàng ngày họ bỏ ra thời gian gấp 10 lần để bàn chuyện học tập với con. Thực ra cha mẹ người Hoa có thể làm nhiều chuyện rất khó tưởng tượng, thậm chí người phương Tây cho là phạm luật. Họ có thể nói với con một cách không lịch sự nhẹ nhàng, chẳng hạn bảo con “Thằng (Con) béo kia! Phải giảm cân đi!”, còn người phương Tây vì ngại xúc phạm con nên chỉ đi đi lại lại bên cạnh con, nói bóng gió về chuyện giữ sức khỏe chứ không hề động đến từ “béo”. Hậu quả là sau đấy con họ lại ăn uống thỏa thê.

Amy Chua cho rằng phụ huynh người Hoa suy nghĩ khác người phương Tây ở 3 điểm:

1- Người phương Tây rất ngại làm tổn thương lòng tự tin, tự trọng của con, cho nên thường hay khen con quá mức, khi con bị điểm xấu cũng vẫn khen, còn người Hoa thì mắng ngay và hỏi cho ra nhẽ tại sao bị điểm xấu. Nói khác đi, phương Tây quan tâm tới tâm lý của con, còn người Hoa thì không quan tâm, họ rất kiên quyết; cho nên kết quả khác nhau.

2- Người Hoa cho rằng con cái phải biết ơn cha mẹ về mọi chuyện họ làm cho chúng, do đó chúng phải phục tùng cha mẹ, phải cố làm cho cha mẹ tự hào. Nguyên nhân có thể do quan niệm của Nho giáo và do cha mẹ hy sinh vì con rất nhiều.

3- Cha mẹ người Hoa tin rằng họ biết điều gì là tốt nhất đối với con mình, cho nên họ phớt lờ yêu cầu và thị hiếu của con mà cứ ép buộc con làm theo ý họ, dù chúng không thích. Thí dụ nữ sinh trung học người Hoa không được có bạn trai và không được qua đêm ở ngoài nhà mình.

Amy Chua kể: Hồi Lulu (tên thân mật của Louisa) lên 7, cháu vẫn chơi hai nhạc cụ, và đang tập chơi piano bài Chú lừa con lông trắng. Bản nhạc rất hay nhưng vì còn nhỏ nên Lulu khó phối hợp được hai tay Tôi kèm cháu tập suốt cả tuần. nhưng tay cháu cứng đờ tập mãi không được. Cuối cùng, Lulu chán nản và tức giận bỏ đàn, giậm chân thình thịch. Tôi ra lệnh: “Ngồi vào đàn ngay!” Lulu cãi: “Mẹ không được bắt con làm thế.” Tôi bảo: “Ô hay, mẹ được làm thế đấy!”

Sau khi ngồi vào đàn, con bé phản ứng bằng cách bấm phím loạn xạ rồi bỗng dưng xé bản nhạc vứt đi. Tôi dán lại bản nhạc rồi kẹp vào bìa ni lông, để nó không thể xé được nữa. Rồi tôi kéo túi đồ chơi của Lulu đến bên chiếc ô tô và bảo: “Nếu ngày mai con chưa tập được bài ấy thì mẹ sẽ đem chỗ đồ chơi này cho đội Xì-cút.” Con bé nói: “Mẹ nên đem cho hết đi từ lâu rồi mới phải.” Tôi dọa không cho cháu ăn trưa, ăn tối, không có quà Giáng sinh, 2-3-4 năm tới không có tổ chức sinh nhật.

Jed kéo tôi ra ngoài khuyên tôi chớ nên mắng Lulu; anh ấy cho rằng dọa con chỉ vô ích, Lulu hoàn toàn không có kỹ năng phối hợp hai tay chơi đàn. Tôi bảo: “Như thế là anh chưa tin vào con bé. Sophia bằng tuổi này đã chơi được bài nhạc ấy rồi.” “Nhưng Lulu không phải là Sophia!” “Không phải thế”, tôi trừng mắt....” Anh cứ để mặc em. Em sẽ dạy nó tập kỳ được mới thôi, em sẵn sàng mang tiếng là người ác đấy!”

Tôi xắn tay áo, kèm Lulu tập đàn bằng đủ mọi cách cho tới bữa ăn tối, không cho cháu nghỉ một phút nào, không cho uống nước, không cho đi toa-lét. Phòng tập đàn cứ như bãi chiến trường.

Cuối cùng không khí chán nản biến mất. Hai tay Lulu đã có thể phối hợp được với nhau. Hai mẹ con cùng cảm thấy sắp thành công rồi. Tôi thở dài khoan khoái. Lulu mỉm cười nói: “Mẹ xem này, dễ thôi mà!” Sau khi chơi thạo bản nhạc, nó không muốn rời cây đàn. Tối hôm ấy cháu ngủ chung giường với tôi. Hai mẹ con ôm nhau như không muốn xa rời nữa.

Mấy tuần sau, Lulu biểu diễn bài Chú lừa con lông trắng rất thành công. Các vị phụ huynh đến nhe xúm lại chỗ tôi khen: “Ôi, Louisa giỏi quá!”

Từ đó trở đi Jed cứ khen tôi hoài...

Người phương Tây tôn trọng cá tính của con, khuyến khích con theo đuổi nguyện vọng của chúng, ủng hộ sự lựa chọn của con và tạo điều kiện cho con thực hiện nguyện vọng ấy. Ngược lại người Hoa tin rằng cách tốt nhất để bảo vệ con là chuẩn bị cho con có một tương lai tốt, làm cho chúng hiểu rằng chúng có thể làm được một việc nào đấy, giúp con có được kỹ năng, thói quen làm việc và có tự tin – đó là những thứ không ai có thể lấy mất khỏi chúng.

Amy Chua là ai?

Amy Chua thừa hưởng phương pháp dạy con nghiêm khắc từ chính cha mẹ mình, những người đã dạy 4 cô con gái của họ khá thành công: cô cả Amy Chua và cô thứ ba Katrin trở thành giáo sư của hai trường ĐH danh tiếng Yale và Stanford. Cô út bị bệnh Đao nhưng từng đoạt hai huy chương vàng môn bơi tại Thế vận hội người tàn tật. Bản thân ông bố cũng là giáo sư khoa Máy điện và Máy tính ĐH California, Berkeley. Một nhà 6 người mà có tới 3 là giáo sư 3 trường ĐH danh tiếng ở Mỹ chứng tỏ gia đình này có truyền thống gia giáo rất tốt; là một điển hình thành công của Giấc Mơ Mỹ. Vì vậy không có lý do gì nghi ngờ Amy Chua là người có tâm lý không bình thường. Năm 22 tuổi, bà tốt nghiệp khoa kinh tế ĐH Harvard với thành tích “cực giỏi”.

Nên dạy con theo cách nào?

Cách dạy con của phương Đông và phương Tây đều có những mặt mạnh và yếu, không thể đơn giản thay thế nhau.

Cách đây ít lâu ở ta có phổ biến trên mạng tài liệu “Dâu Tây dạy con”. Nhiều người thấy hay đã thử áp dụng, nhưng chẳng được bao lâu đành thôi. Lý do: trẻ con ta khác trẻ con Tây, khác từ hàng ngàn năm nay. Trẻ con Tây có tính tự lập cao từ nhỏ.. Ở Nga muốn bế một đứa bé 2 tuổi thì luôn bị nó từ chối: “Sam, sam ...” (Để cháu tự đi) – khác hẳn trẻ con ta thích bế ẵm. Ra bãi biển, thường thấy trẻ con Tây 2-3 tuổi chơi giỡn sóng không có bố mẹ kèm. Ở ta không ai để con chơi như vậy và lũ trẻ cũng không dám chơi một mình.

Người châu Á dành quá nhiều sức cho việc kèm cặp chăm chút dạy bảo con từng ly từng tý, lúc nào cũng sợ con ốm con hư. Trẻ con Tây được tự do hơn. Nữ sinh trung học có quyền dẫn bạn trai vào phòng ngủ của mình, bố mẹ không được can thiệp. Ở ta, con cái bị cha mẹ cấm đủ thứ. Quả thật, không cấm thì chúng rất dễ hư, làm khổ cha mẹ.

Phương Tây rất chê cách dạy con của phương Đông, cho là không tôn trọng nhân quyền, thiếu nhân tính, chuyên chế áp đặt, tước mất tuổi thơ của lũ trẻ; chúng có thể học giỏi nhưng giỏi thuộc lòng chứ không có sáng tạo. Nhà kinh tế lừng danh Larry Summers (nguyên Bộ trưởng Tài chính thời Tổng thống Clinton, cố vấn kinh tế mấy đời Tổng thống Mỹ) khi tranh luận với Amy Chua có nói: nếu các bà mẹ của Gates và Zuckerberg là Mẹ Hổ thì họ nhất định không cho con trai họ bỏ học ĐH Harvard để lập công ty riêng, và như thế loài người sẽ không có Microsoft và Facebook.

Có người ví trồng người như thể trồng cây. Ở phương Đông, cây được cha mẹ che chắn, chăm bón từ nhỏ, cây lớn nhanh nhưng khi gặp mưa bão sâu bọ thì dễ hỏng. Tại phương Tây, cây mọc trong rừng không được cha mẹ chăm sóc mà phải tự lớn lên, thân cứng cáp, nhưng lớn chậm, có điều khi đã lớn thì rất khó bị mưa bão sâu bọ làm hỏng.

Đúng là Trung Quốc hiện nay đào tạo được nhiều kỹ sư hơn Mỹ, nhưng vẫn chưa hề có giải Nobel nào cả! Nhưng người châu Á không phải không có lý khi bào chữa: thà để con bị mất tuổi thơ còn hơn là để chúng ra đời không có tương lai sáng sủa. Xã hội phương Tây được tổ chức tốt hơn, trật tự, kỷ cương; mọi công dân, nhất là trẻ em, được nhà nước chăm sóc chu đáo, thậm chí được bảo đảm có cuộc sống ổn định từ trong bụng mẹ cho tới khi xuống mồ, cha mẹ già không phải nhờ cậy con. Họ có thể cho con chơi game tùy ý mà con vẫn trưởng thành tốt. Ở ta thì khác. Trẻ lêu lổng lười học thì dễ hư hỏng, vì xã hội có rất nhiều cạm bẫy.

Câu chuyện dạy con của Mẹ Hổ đang tiếp tục được dư luận tranh cãi om xòm. Người Mỹ nói riêng và phương Tây nói chung sau đây sẽ có thay đổi gì trong cách nhìn nhận phương pháp giáo dục của phương Đông hay không? Điều đó chúng ta hãy chờ xem.

(sưu tầm)


16/1/11

NHỮNG MÂU THUẪN CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRUNG QUỐC



Philip G. Altbach

Mặc dù các đại học hàng đầu của Trung Quốc đã được đầu tư lớn và có sự cải thiện chất lượng rõ ràng, nhưng việc xây dựng nên một môi trường học tập nơi có thể giữ lại những sinh viên "tốt nhất và sáng chói nhất" cũng như thu hút trở lại những sinh viên đã đi du học vẫn có nhiều khó khăn.

Kết quả xếp hạng năm 2010 của ĐH Giao thông Thượng Hải được công bố ngày 15/8/2010 cho thấy sự tiến bộ đáng kinh ngạc của giáo dục đại học của Trung Quốc. Chỉ trong vòng hơn nửa thập niên kể từ bảng xếp hạng này ra đời vào năm 2004, số lượng trường đại học Trung Quốc trong danh sách 500 vị trí đầu bảng đã tăng từ 16 lên 34 trường, trong đó có hai trường lần đầu tiên lọt vào danh sách 200 trường tốt nhất thế giới là ĐH Bắc Kinh và ĐH Thanh Hoa(1).

Phải chăng giáo dục đại học Trung Quốc đã có thể sánh vai với các trường đại học phương Tây? Trong bài viết ngắn của mình đăng trên tờ Inside Higher Education vào tháng 10 vừa qua, GS Philip Altbach, nhà nghiên cứu giáo dục quốc tế hàng đầu thế giới, đã cho thấy bức tranh giáo dục đại học của nước này không chỉ có những gam màu sáng. Vẫn còn khá nhiều vấn đề đang gây trở ngại sự phát triển nền đại học của Trung Quốc mà Việt Nam có thể học hỏi để tránh trong quá trình phát triển các đại học của mình.

Xin trân trọng giới thiệu bài viết này đến các độc giả.

Số liệu thống kê gần đây liên quan đến việc sinh viên Trung Quốc ồ ạt đi học ở nước ngoài cùng quan điểm của Trung Quốc về vấn đề chuyển dịch dân cư đã đặt ra những câu hỏi thú vị liên quan đến nền giáo dục đại học của Trung Quốc cả hiện tại cũng như tương lai, đặc biệt là ở trình độ ưu tú. Những con số kỷ lục sinh viên Trung Quốc tiếp tục đi học ở nước ngoài – trong đó có đến 270.000 người tự trang trải học phí và (chỉ) có khoảng 25 phần trăm trở về lại Trung Quốc, một điều thật đáng ngạc nhiên trong bối cảnh nền kinh tế của phương Tây đang suy thoái còn kinh tế Trung Quốc thì lại đang phát triển nhanh chóng (số liệu lấy từ báo cáo của Willy Lam thuộc Jamestown Foundation).

Gần 100.000 sinh viên Trung Quốc đang học tập tại Hoa Kỳ. Đồng thời, Trung Quốc cũng thu hút 240.000 sinh viên quốc tế đếm học, một con số tương đương với số sinh viên Trung Quốc đi học ở nước ngoài. Hầu hết sinh viên quốc tế tại Trung Quốc đến từ châu Á, nhưng ngày càng có nhiều sinh viên đến từ các nước phương Tây, trong đó có 18.000 sinh viên Hoa Kỳ. Hiện không có thông tin về tỷ lệ các sinh viên theo học một chương đại học so với những sinh viên chỉ đến Trung Quốc một học kỳ hoặc một năm hoặc không học.

Để khuyến khích thêm sinh viên đến học, Chính phủ Trung Quốc đã thông báo sẽ cung cấp 20.000 suất học bổng cho sinh viên quốc tế. Trung Quốc đang ngày càng trở nên quan trọng không chỉ trong việc gửi sinh viên ra nước ngoài – thực tế là nếu hai đại gia Trung Quốc và Ấn Độ giảm số sinh viên đi học nước ngoài của mình thì bộ phận giáo dục quốc tế tại hầu hết các nước xuất khẩu giáo dục lớn hiện nay hẳn sẽ rơi vào khủng hoảng; Trung Quốc còn đang trở thành một địa chỉ quan trọng để tiếp nhận sinh viên từ nước ngoài đến học nữa.

Ngoài số sinh viên đi du học, Willy Lam còn lưu ý rằng nhiều doanh nhân và các chuyên gia Trung Quốc cũng muốn theo đuổi sự nghiệp ở nước ngoài; ông khẳng định rằng họ thích môi trường minh bạch và ít yếu tố bất ngờ của môi trường xã hội mà họ tìm thấy bên ngoài Trung Quốc.

Điều này nói lên điều gì về giáo dục đại học của đất nước này? Nó cho thấy rằng mặc dù các đại học hàng đầu của Trung Quốc đã được đầu tư lớn và có sự cải thiện chất lượng rõ ràng, nhưng việc xây dựng nên một môi trường học tập nơi có thể giữ lại những sinh viên "tốt nhất và sáng chói nhất" cũng như thu hút trở lại những sinh viên đã đi du học vẫn có nhiều khó khăn. Tiền lương thấp, phải nói là mức lương thuộc hàng thấp nhất thế giới, những vấn đề liên quan đến việc tiếp cận thông tin, "giao phối cận huyết" (tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp của chính mình), những nghi ngại liên quan đến tự do học thuật ở một số lĩnh vực, và rất nhiều quan hệ cá nhân đang là trở ngại nghiêm trọng trong việc tạo ra một nền văn hóa học thuật thuộc "đẳng cấp thế giới" tương xứng cơ sở hạ tầng học tập đầy ấn tượng của các trường đại học hàng đầu của Trung Quốc hiện nay. Những báo cáo liên tục về các vụ đạo văn và các hình thức tham nhũng học thuật (tất nhiên điều này không chỉ hạn chế ở Trung Quốc) còn bổ sung thêm vào những thách thức hiện nay.

Mặc dù có những thách thức và trở ngại, Trung Quốc đang nhanh chóng trở thành một siêu cường về học thuật – các nghiên cứu đã ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ về số bài báo xuất bản trong các tạp chí khoa học từ các học giả Trung Quốc, việc tăng lên nhanh chóng số các bằng sáng chế cũng như các số đo khác khác về năng suất khoa học. Tuy nhiên như đã ghi nhận ở trên, giáo dục đại học TQ vẫn còn rất nhiều vấn đề quan trọng cần được giải quyết.

Phương Anh chọn dịch và giới thiệu

Nguồn:
Những mâu thuẫn của giáo dục đại học Trung Quốc



29/12/10

CHUYỂN GAM THẦY CÔ



Tôi nhận được một cú điện thoại bất ngờ.

Giọng nữ lảnh lót từ đầu dây bên kia giới thiệu cô là biên tập viên của đài truyền hình, muốn mời tôi tham gia vào một chương trình do cô phụ trách. Cô trình bày rành rọt về chương trình của mình: mục đích là gì, concept ra làm sao, nội dung như thế nào và tôi phải làm gì. "Đơn giản lắm anh ạ. Bên em thấy anh rất phù hợp. Anh nhận lời nhé?" - cô thuyết phục bằng một câu hỏi.

Tôi thấy thú vị và nhận lời.

Đúng ngày giờ hẹn, tôi đến cổng đài, gọi điện thoại cho cô xuống đón.

Ít phút sau, một cô gái bé nhỏ, xinh xắn chạy ra.

Tôi ngạc nhiên, không còn tin vào mắt mình. Đây chính là cô sinh viên mới học tôi cách đây một năm. Xem nào, đã tốt nghiệp rồi. Đã đi làm ở đài truyền hình rồi đây!

Cô như hiểu sự ngạc nhiên của tôi, và cười rất tươi: "Vâng, em đây ạ. Trước đây em đã học một môn do anh dạy. Bây giờ em làm ở đây!".

Đấy sinh viên của mình đã trưởng thành rồi. Đã tự lập, tự biết và tự quyết chuyển gam từ "thầy" sang "anh" rồi.

Vào trường quay, gặp một khách mời quen, hỏi nguyên nhân nào dẫn đến đây, tôi tự hào giới thiệu: "Sinh viên của mình làm chương trình này nên mời mình tham gia. Cô bé ấy kia kìa, còn chuyển sang gọi thầy bằng anh nữa".

Vị khách mời kia lắc đầu cười hóm hỉnh: "Không được, không được!"

Cũng chẳng có gì là không được. Mọi việc đều có thể xảy ra. Tôi nhớ cách đây 22 năm, sau khi tốt nghiệp đại học, những thành viên trong đội kịch sinh viên của chúng tôi đều có lời với người phụ trách, một cô giáo ở khoa, học trước chúng tôi 5-7 khóa gì đó, được giữ lại trường giảng dạy: "Cô ơi, bọn em làm cái lễ từ nay gọi cô là chị nhé".

Chị cười ngất: "Thế thì các em làm 2 cái lễ đi, rồi muốn gọi cô thế nào cũng được!".

Hơn 20 năm qua, chúng tôi và chị trở thành những người bạn thân thiết. Tôi thấy thực sự phải cảm ơn cuộc sống đã ban tặng cho tôi một người bạn (cộng thêm "người chị" - "người thầy") tuyệt vời như chị.

Cho nên gọi là "thầy" hay "anh" thực ra chẳng có chuyện gì quan trọng.

Có lần ngồi với những người bạn, điểm lại, chúng tôi đều thấy khá nhiều thầy cô dạy đại học đã được chúng tôi chuyển gam sang gọi bằng "anh", "chị".

Nhưng tuyệt đối không một thầy cô dạy phổ thông nào, dù có những người mới ra trường là dạy học ngay, được chuyển gam như vậy.

Trước họ, ta vẫn cảm thấy bé nhỏ như những cô bé, cậu bé năm nào.




21/12/10

CON MÌNH CÓ PHẢI "GÀ CÔNG NGHIỆP" KHÔNG?



NGUYỄN THỊ LOAN

Tôi có một vấn đề xin phép được trình bày. Năm con gái đầu vào lớp 1, tôi sinh đứa thứ hai. Từ khi có em, con gái tôi bắt đầu... tự lập, từ việc học hành, ăn uống, cho đến cả việc tự túc đi học (nhà gần trường, cháu đi bộ). Dường như cháu biết thân, biết phận nhường mọi sự quan tâm, chăm sóc của ba mẹ cho em.

Thậm chí, năm lớp 1, cháu đã biết ra chợ mua giúp mẹ một món gì đó, lau nhà, đưa võng cho em, chơi với em... Năm lớp 6, cháu đi xe đạp đến trường và đi học thêm. Kể từ đó, gần như vợ chồng tôi... buông tay!

Cứ thế, hết cấp II rồi đến cấp III, cháu đều tự một mình học chính khóa, học thêm, luyện thi... Cháu còn biết nấu nhiều món ăn cho cả nhà. Thấy cháu tự túc được, mọi sự chăm sóc vợ chồng tôi dành hết cho con trai, thậm chí, đôi lúc còn bắt cháu chăm em nữa.

Tính cháu như thế nên khi cháu đi học xa nhà, tôi gần như chẳng lo lắng gì. Cháu tự nấu ăn, di chuyển chỗ trọ (đến mấy lần), làm thêm... mà không cần đến sự hỗ trợ của cha mẹ. Giờ cháu sắp ra trường, chúng tôi cũng không lo lắng lắm đến việc cháu sẽ làm gì. Thậm chí cháu còn trấn an ba mẹ: "Tốt nghiệp xong, con sẽ kiếm việc làm và học tiếp".

Con trai sau của tôi trái ngược hoàn toàn với chị. Ngay từ nhỏ, chồng tôi đã chủ trương "úm" cháu với quan điểm: con trai không quản sợ hư! Chồng tôi không cho cháu đi chơi đâu hết, tập đi xe đạp anh cũng không cho, sợ ra đường xe tông! Đi làm về là anh dắt cháu đi rửa chân, tay, lấy khăn ướt lau mặt cho con...

Mãi đến năm lớp 8 thấy con trai cao gần bằng mình, anh mới thôi. Tối nào anh cũng nhắc cháu đánh răng, mắc mùng, treo quần áo... Giờ cháu học lớp 9, học thêm nhiều môn, nhưng lúc nào tôi cũng phải đưa đi, đón về. Nếu không ai đưa đón, cháu chấp nhận đi bộ dù đến 2, 3km, chứ không dám đi xe về chung với bạn...

Hôm vừa rồi, bạn cháu đến nhà rủ đi chơi. Tôi khuyến khích cháu đi, nhưng chồng tôi lại do dự. Cuối cùng, khi cháu đi rồi, anh quay sang cự tôi, tại sao cho con đi như vậy, đường đông đúc xe cộ, đi lớ ngớ dễ gặp tai nạn. Anh khiến tôi cũng không còn tự tin khi quyết định thả con ra đường. Đến khi cháu về nhà, mọi người mới thở phào nhẹ nhõm.

Tóm lại, không hiểu do "úm" con kỹ quá hay là do không tập cho con biết tự lập mà những thiếu sót của cháu giờ đây có thể liệt kê một danh sách dài (hoàn toàn trái ngược với chị cháu) như: rất sợ gián và nhiều loại côn trùng khác; đi xe đạp không vững, đi một đoạn nếu không đụng vào người khác thì người khác cũng đụng mình; không biết tự giặt quần áo, những việc lặt vặt trong gia đình làm rất vụng về, lúc nào cũng lóng ngóng, đụng đâu hư đó...

Tôi đang rất lo lắng về kỹ năng sống của con trai. Hôm sơ kết lớp cháu, tôi có tham dự và thấy nhiều bạn bè của cháu rất... tài năng. Một bạn lên biểu diễn võ thuật, một bạn lên hát (rất hay), một bạn biểu diễn beat box (một loại hình nghệ thuật dùng miệng mô phỏng âm thanh), một bạn nhảy hip hop, mấy bạn lên biểu diễn thời trang... Nhìn lại con mình, dù là học sinh giỏi, được cô giáo khen là siêu toán của lớp, tôi vẫn thấy cháu thua sút các bạn. Nếu các bạn kia trông rất nam tính, mạnh mẽ thì con tôi lại... "thư sinh" quá mức.

Giờ đây chồng tôi mới biết sợ vì đã "úm" con quá kỹ. Tuy nhiên, giải pháp anh đưa ra chỉ là bắt cháu tập xà và hít đất buổi sáng, còn việc cho cháu đi xe đạp anh vẫn do dự. Tôi cũng lo, vì sang năm cháu vào lớp 10, các trường cấp III đều cách xa nhà. Còn học thêm nữa. Lỡ cả hai vợ chồng đều đi công tác làm sao cháu xoay xở?

Một điều nữa là cháu rất ít bạn bè. Thời gian rảnh, thay vì đến nhà bạn chơi, cháu lại ngồi vào máy vi tính, coi phim, chơi điện tử, nghe nhạc... một cách đơn độc. Tôi không hiểu có phải do "úm" con mà giờ đây con mình đã thành "gà công nghiệp" chính hiệu hay không?. Tôi mong được các chuyên gia tâm lý cho tôi lời khuyên: vợ chồng tôi cần làm gì để con trai tôi bản lĩnh hơn, mạnh mẽ hơn. Xin cảm ơn.

Nguồn:
Con mình có phải “gà công nghiệp” không?
Entry liên quan:
HÃY ĐỂ NÓ LÀM ĐÀN ÔNG


30/8/10

VĂN HÓA TÀI TRỢ



Tài trợ là một hoạt động của lĩnh vực public relations (PR) rất phổ biến trong thời đại hiện nay.

Ông Juan Antonio Samaranch, cố Chủ tịch Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) là người được ca ngợi vì đã biến các kỳ Thế vận hội thành những cơ hội thu bội tiền cho IOC và các nước đăng cai qua các hợp đồng tài trợ kếch xù. Giờ đây, không thể hình dung các cuộc thi đấu thể thao, thi hoa hậu, các chương trình biểu diễn mà không có nhà tài trợ.

Không có tài trợ, các nhà tổ chức sự kiện hoặc sẽ bị chỉ trích là không biết cách làm việc, hoặc sự kiện của họ trên thực tế chẳng ra gì.

Tài trợ là thứ có đi có lại. Anh bỏ tiền cho tôi làm cái này cái kia, thì anh cũng không hẳn là hào hiệp cho tôi số tiền đó, mà đổi lại anh sẽ được rất nhiều quyền lợi. Đa phần các quyền lợi đó đều liên quan đến việc khuyếch trương hình ảnh của nhà tài trợ và đều có thể quy ra thành tiền.

Cho nên không phải trong trường hợp nào cũng có thể ca ngợi, vinh danh nhà tài trợ bằng những mỹ từ như "hào phóng", "hảo tâm"...

Đại đa số các nhà tài trợ đều có trong tay bộ máy két kèn kẹt như bà la sát để đi cân đong đo đếm xem các quyền lợi mà nhà tổ chức trả lại cho họ có đủ hay không. Đố nhà tổ chức nào thiếu được với họ một li một lai.

Có những nhà tổ chức rất hữu hảo và tôn trọng nhà tài trợ, nhưng chỉ cần thời tiết hay một vài nguyên nhân khách quan nào đó mà "bay" một cái băng-rôn có logo của nhà tài trợ là liệu hồn, sẽ bị chan tương đổ mẻ ngay.

Nói chung, đội ngũ PR nội bộ của các nhà tài trợ được ví như loại "chị em hổ vồ" lúc nào cũng thích logo hay những thứ liên quan đến bộ nhận diện thương hiệu của họ được "dài hơn, to hơn".

Thật không là quá, khi nói tài trợ ở xứ ta chưa đạt được tầm "văn hóa tài trợ". Trong một buổi lễ tôn giáo được truyền hình trực tiếp mới đây, các nhà tài trợ cũng nhất định phải lên sân khấu để được cảm ơn, được tặng hoa, được bà con cả nước nhìn thấy mặt trên truyền hình.

Rồi ngay cả cuộc tôn vinh vị giáo sư đoạt giải Fields đêm qua, nhà tài trợ là một hãng bia cũng vẫn chưa đủ bản lĩnh để lặng im trước một thiên tài.

Ảnh: Hình con rồng trên logo của Sabeco được in chìm trên phông của buổi lễ tôn vinh Giáo sư Ngô Bảo Châu (Nguồn: VnExpress)

BONUS:
Đọc lại entry này để biết văn hóa tài trợ của Quỹ Altimo (Nga)



20/8/10

NHẤT THẾ GIỚI



Từ khi biết vui mừng trước thắng lợi của người khác, tôi đã trải qua những khoảnh khắc sung sướng và hạnh phúc mà những con người trác tuyệt của Việt Nam đem vinh quang lại cho đất nước.

Đó là Hoàng Lê Minh, người VN đầu tiên đoạt Huy chương Vàng Olympic Toán Quốc tế năm 1972.

Đó là Đặng Thái Sơn, người Châu Á đầu tiên đoạt giải Nhất cuộc thi âm nhạc quốc tế Chopin năm 1980.

Đó là Phạm Tuân, người Châu Á đầu tiên bay lên vũ trụ.

Đó là Ái Vân, ca sĩ Việt Nam đầu tiên đoạt giải thưởng lớn một cuộc thi hát quốc tế.

Những chuyện đó xảy ra từ thập niên 1970 – 1980, khi đất nước còn vô vàn gian khó. Người VN vui, hạnh phúc và hãnh diện với những thành tích đó. Nhưng lúc đó cũng có người tặc lưỡi: “Những thành quả đó không giúp cuộc sống của chúng ta bớt khó khăn hơn”.

Hai ngày nay tôi sống lại cảm giác hân hoan và hãnh diện mà tôi đã từng trải qua 3 thập niên trước.

Ngô Bảo Châu trở thành nhà khoa học đầu tiên của VN đoạt một giải thưởng danh giá bậc nhất thế giới.

Thành công của Ngô Bảo Châu chứng tỏ người VN hoàn toàn có khả năng vươn tới đỉnh cao của khoa học.

Nhưng tôi mong muốn nước ta không chỉ có thêm những Ngô Bảo Châu, mà còn phải có những CEO bậc nhất thế giới, như Bill Gates, như Steve Jobs.

Đó sẽ là những người có tác động thiết thực nhất, thúc đẩy cuộc sống phát triển.


Entries cũ:
TÔI ĐI CHẤM THI
AI BẢO SINH VIÊN KHÔNG SÁNG TẠO?
BÀI HỌC CUỐI CÙNG (1)
BÀI HỌC CUỐI CÙNG (2)
HỌC VĂN LÀ HỌC CÁI GÌ?



15/8/10

NGƯỜI GIAN BẰNG DỎM



Hoàng Tụy

Trong một nước mà bằng cấp, chức tước đều có thể mua bán và nạn đạo văn, đạo nhạc, v.v. lan tràn hầu như ở đâu cũng có thì bộ máy hành chính quan liêu tham nhũng chẳng có gì lạ.

Gần đây rộ lên chuyện một số cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh mua bằng tiến sĩ, thạc sĩ từ các đại học dỏm ở nước ngoài. Thật ra đây không phải là chuyện mới, mà đã xảy ra ít nhất từ mươi lăm năm nay, và không phải chỉ có mua bằng thạc sĩ, tiến sĩ mà cả những chức danh cao hơn như: viện sĩ, giáo sư danh dự, chuyên gia lỗi lạc, danh nhân thế giới, v.v… Chỉ có khi lộ liễu quá và vì sự ngẫu nhiên nào đó (rủi cho đương sự) thì sự việc mới bị xới tung lên, còn thường thì chuyện mua bán này vẫn xuôi chèo mát mái.

Ở xứ ta, bằng cấp chưa cần biết thật hay dỏm từ lâu vốn đã được ưa chuộng quá mức, bằng cấp càng cao càng danh giá và có thể là bàn đạp để thăng tiến nhanh trên quan trường. Từ thời cụ Nguyễn Khuyến đã có tiến sĩ giấy, từ thời Vũ Trọng Phụng đã có những Xuân Tóc Đỏ, huống bây giờ toàn cầu hóa, hội nhập, kinh tế tri thức.

Đáng lo hơn là sự sản xuất hàng loạt thạc sĩ, tiến sĩ kém, dỏm, do các đại học lớn của ta liên kết đào tạo với những đại học nước ngoài chất lượng không bảo đảm, kiểu như Đại học Irvine, Đại học Southern Pacific và các đại học trong danh sách đã được công khai gần đây, có khi còn tệ hơn nữa. Có thể lãnh đạo các đại học của ta bị choáng ngợp bởi những quảng cáo lừa mị, nhưng cũng có thể vì những động cơ khác, không loại trừ chạy theo lợi nhuận bất chấp chất lượng.

Mấy ngày qua công luận đã có những ý kiến phê phán rất xác đáng. Tuy nhiên đây chỉ mới là phần nổi của tảng băng. Cần phải đi sâu hơn, phân tích kỹ hơn để nhận dạng đầy đủ căn nguyên cái tệ nạn đáng hổ thẹn này nó là con vi rút ẩn mình đang gây ra những căn bệnh hiểm nghèo tàn phá dữ dội cơ thể xã hội ta nếu không lo chữa chạy.

Nói cho đúng, cái bằng tiến sĩ của ông Phó Bí thư Yên Bái hay ông Giám đốc Sở Thông tin Du lịch Phú Thọ cũng là bằng thật, đâu phải bằng giả, được cấp bởi một đại học hoạt động công khai, đúng pháp luật của nước sở tại. Điều kiện trả tiền để được cấp bằng thì họ cũng chẳng giấu giếm, không thể bảo họ lừa đảo. Mà ngẫm cho kỹ, các bằng ấy có gì khác các bằng tiến sĩ thật, do một số đại học kém chất lượng của ta cấp những năm qua. Ai dám chắc trình độ các tiến sĩ giấy khá hơn các tiến sĩ “dỏm”?

Đi xa hơn, hàng loạt giáo sư, phó giáo sư trong số đã được Nhà nước long trọng công nhận trước sự chứng giám của các bậc hiền tài Quốc Tử Giám đã chắc gì không phải là giáo sư “giấy”, giáo sư “dỏm”, ngay cả theo tiêu chí quốc tế thấp nhất. Ngoài ra còn mấy tá viện sĩ mua được hay chạy được từ các nước ngoài nữa. Dĩ nhiên ở đây tôi không gộp những viện sĩ thứ thiệt do các viện hàn lâm nghiêm chỉnh bầu chọn, nhưng số này rất ít, và họ thường ít xưng danh vì thừa hiểu "hữu xạ tự nhiên hương".

Kể ra thì ngay cả các chức danh viện sĩ mua được hay chạy được cũng đều là “thật” cả vì đều có giấy chứng nhận hẳn hoi là thành viên (member) của những tổ chức mang tên viện hàn lâm, viện tiểu sử danh nhân, hoạt động đàng hoàng ở Mỹ, Anh, Nga,... Các viện này rao bán các chức danh chẳng khác gì các đại học bán bằng cấp với giá rẻ, có khi chỉ cần vài ba trăm USD cũng đã có chức danh “thành viên” (member) của viện hàn lâm này nọ (mà thành viên viện hàn lâm thì lập tức được dịch ra là viện sĩ), hay “danh nhân thế giới” (có tên trong tập sách Who’s Who của họ), “chuyên gia quốc tế hàng đầu”, “bộ óc vĩ đại”, v.v. Cũng có khi chẳng phải trả đồng nào gặp lúc họ khuyến mãi.

Một số các viện đó (kiểu như Viện Hàn lâm New York của Mỹ, hay Viện Hàn lâm Khoa học Tự nhiên của Nga) thật ra là những hiệp hội khoa học, kết nạp hội viên rất rộng rãi (có khi đến hàng mấy vạn hội viên), chỉ cần đóng một khoản tiền hay nộp niên liễm một lần là được cấp giấy chứng nhận hội viên (dịch ra tiếng Việt thành viện sĩ - thành viên của một viện hàn lâm). Ở các nước phát triển, chẳng mấy ai coi trọng các chức danh dỏm đó. Của đáng tội, thỉnh thoảng cũng có vài bạn Việt kiều về nước mang những thứ đó ra khoe, gây thêm nhiễu vào một môi trường đã rối ren.

Vậy xét cho cùng việc mua bằng tiến sĩ của hai ông Ngọc và Ân (Phó Bí thư tỉnh và Giám đốc Sở) cũng không sai trái gì ghê gớm hơn việc tương tự của nhiều vị viện sĩ, danh nhân thế giới, bộ óc vĩ đại, v.v. Cái sai đáng chê trách nhất là từ phía cơ quan đã khuyến khích họ mua bằng tiến sĩ hay thạc sĩ để thăng chức. Còn nếu ai đó xưng danh rõ ràng tiến sĩ Đại học Irvine, tiến sĩ Đại học Southern Pacific, hay viện sĩ Viện Hàn lâm New York, thì đó cũng là quyền tự do của mỗi người. Cái sai lớn nhất ở chỗ chỉ lập lờ “tiến sĩ, viện sĩ,” không cho ai biết là tiến sĩ viện sĩ để diện chơi hay tiến sĩ, viện sĩ danh giá thứ thiệt.

Càng sai hơn nữa nếu người phụ trách công tác xét chức danh giáo sư, phó giáo sư mà lại đi tự phong một chức danh Nhà nước chưa đặt ra. Muốn chính danh, muốn hợp pháp, xin hãy ghi rõ viện sĩ viện hàn lâm nào. Dù cho là viện hàn lâm thứ thiệt thì vẫn có khoảng cách lớn giữa Viện hàn lâm Khoa học Pháp, hay Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ với viện hàn lâm một nước chậm phát triển. Ở các xứ văn minh người ta đều làm như vậy. Phải chăng vì chỉ số IQ ta quá cao nên mới có bấy nhiêu chuyện rắc rối cần bàn.

Cách đây mấy năm đã từng có chuyện một người trước học ở Liên Xô cũ, chẳng có thành tích gì đặc biệt, nhưng nhờ tiền làm ra được vào thời buổi nhá nhem khi Liên Xô sụp đổ nên kiếm được chân thành viên của một số tổ chức mệnh danh học thuật nào đó, thế là được giới thiệu về nước với chức danh viện sĩ 5 viện hàn lâm ở châu Âu, rồi được đề cử vào Ủy Ban TƯ Mặt trận Tổ Quốc, và giữ những chức vụ quan trọng ở một đại học lớn (về sau cái ông 5 lần viện sĩ ấy được công nhận PGS, thành ra cái chức danh lố bịch PGS viện sĩ !).

Có phải các cơ quan Nhà nước vì thiếu hiểu biết mà để xảy ra những chuyện bi hài như vậy không? Tôi xin được phép nghi ngờ đây không phải chỉ vấn đề năng lực, trình độ, mà còn là vấn đề đạo đức.

Vấn đề năng lực, vì những người chưa từng có một công trình khoa học nghiêm túc nào hay chỉ có một vài công trình mà đã lâu xa rời công tác giảng dạy và nghiên cứu lại được giao trách nhiệm chủ trì các hội đồng phong các chức danh khoa học thì làm sao không phạm sai lầm ?

Vấn đề đạo đức, vì nếu những người bản thân thiếu trung thực, thiếu công tâm được giao trách nhiệm quản lý một đơn vị hay lãnh đạo một công tác đòi hỏi cao tính trung thực, sáng tạo thì làm sao tránh được đạo đức giả ? Khi mà cấp trên (trong bộ máy công quyền) không đàng hoàng thì làm sao giáo dục được cấp dưới đàng hoàng ?

Kinh nghiệm các nước đều cho thấy, khi thiếu trung thực bắt đầu từ những chuyện tưởng là nhỏ trong đời sống xã hội bị bỏ qua thì cuối cùng tất yếu sẽ dung túng tham nhũng, làm ăn dối trá chụp giật, không khuyến khích sáng tạo, chỉ cần bắt chước, ăn cắp, khôn ranh, như vậy sẽ chẳng có hy vọng gì cạnh tranh nổi để tồn tại, chưa nói để phát triển bình thường, càng khó trở thành con rồng, con hổ gì trong thế giới này.

Thử nghĩ xem: với kiểu tăng trưởng như ta, dù có tăng trưởng đến 15% năm thì bao nhiêu năm nữa mới đuổi kịp Thái Lan, Malaysia ? Huống chi tăng trưởng 10% thì phải trừ đi ít nhất 5 - 6% do môi trường hủy hoại, do ăn vào tương lai con cháu, do làm kém chất lượng, làm hư hỏng phải làm đi làm lại (nhớ rằng mỗi lần làm lại vẫn được tính vào tăng trưởng !). Cho nên là người Việt xin đừng ai nghĩ gian, dỏm chỉ là chuyện nhỏ, chuyện vặt, không đáng lo.

Nguồn:
Gian, dỏm – chẳng phải chuyện nhỏ! - Tạp chí TIA SÁNG

Entries liên quan:
HỌC BỔNG 322 - AI CẦN?
BA CÂU CHUYỆN NHÂN NGÀY 20.11
"TÔI HỌC Ở HARVARD"
Ở TRƯỜNG CÔ DẠY EM THẾ
TÔI ĐI CHẤM THI



 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết