24/1/12

NHỚ MÙI TẾT XƯA



Hà Nội - Tết nay đã khác lắm. No đủ nên người ta chuyển từ "ăn Tết" sang "chơi Tết". Đã xa rồi một thời Tết đến chỉ mong có bữa cố tươm tất, "Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ". Có phải vì nhu cầu vật chất, ăn uống đã dư thừa, người Hà Nội lại quay quắt nhớ mùi vị Tết xưa?

1. Nhớ mùi Tết xưa là nhớ mùi hăng hắc cay cay tỏa ra từ cái bếp toàn củi gộc luộc bánh chưng. Lửa trong bếp lúc nào cũng phải giữ đỏ rực. Dăm viên gạch xếp chụm lại thế kiềng ba chân, bên trên bắc cái nồi to mấy người khiêng. Từ lúc gói bánh cho đến lúc nổi lửa luộc bánh là khoảng thời gian vui nhất của lũ trẻ con khu tập thể nhà tôi thuở ấy.

Ngày ấy đói, mấy nhà chung nhau một nồi bánh. Các nhà góp thịt lợn, gạo nếp, đỗ, lá dong. Xóm nhà tôi có bố tôi và bác giáo viên gói bánh rất giỏi, được phân công gói. Lạ thế, bao nhiêu cái bánh trong cùng nồi, tôi ăn cái nào là biết bố gói. Hình như bánh cũng có mùi người?

Khoảng 27, 28 Tết là lục tục sửa soạn gói bánh. Ngày gói bánh chưng là một sự kiện trọng đại của cả xóm. Người lớn vui, Tết nhất có mấy cái bánh chưng đầy đặn để thắp hương tổ tiên và ăn Tết. Lũ trẻ vui, vừa được thức trông nồi bánh chưng, tha hồ chạy nhảy, chơi tú - lơ - khơ, vừa được gói riêng mấy cái bánh nhỏ xíu vì còn thừa gạo, đỗ, thịt.

Trời rét căm căm, buổi tối cơm nước xong trẻ con tụ tập quanh nồi bánh chưng. Địa điểm luộc bánh là sân nhà tập thể năm tầng. Vui lắm. Hai hàm răng lập cập vì rét và hồi hộp. Chả hiểu sao thời ấy, mùi Tết rõ thế. Từ trước lúc gói bánh chưng đã thấy cái phong vị bảng lảng của tiết trời vào Xuân. Khi bắc nồi luộc bánh cái mùi thơm kỳ diệu của khói bếp, củi cháy, lá dong cứ tan trong không gian, bám chặt vào người. Len vào đầu óc non nớt của trẻ con.


2. Hà Nội đô thị hóa chóng mặt. Vùng đào cổ ngày ấy giờ không còn nữa. Không biết đi đâu về đâu. Đất trồng đào lùi dần, nép mình nhường chỗ cho khu đô thị. Nhẫn nại và cam chịu lép vế trước sức tấn công hung bạo của kẻ mạnh. Mạnh vì gạo, bạo vì tiền mà. Thời buổi kim tiền, hình như những gì đẹp đẽ, vốn là truyền thống, đều phải lùi lại sau, nhường cái "mặt tiền" ra tiền kia cho kẻ mạnh. Những ông già đạp xe bán đào chọn chỗ khuất nẻo ngay phía sau khu đô thị hiện đại và lớn nhất Hà Nội, lặng lẽ chờ người mua. Phía trước, những chiếc xe hơi bóng lộn tấp nập lăn bánh vào khu đô thị, nơi những chủ nhân của chúng chễm chệ trong những villa, căn hộ sang trọng vốn là đất làng đào.

Đào Tết với người Hà Nội giống như mai vàng với người Sài Gòn. Trong nhà không có cây đào, chậu quất còn gì Tết nhất. Độ 28, 29 Tết bố và tôi lên làng đào chọn một gốc đào phai rừng. Cây to nguyên gốc, vậy mà bố nhất quyết tự chở về bằng xe máy. Bố bảo, mua thì phải tự chở về mới quý. Có năm cây đào rừng bố mua ra cả quả, lộc non xanh biếc. Chở đào rừng về nhà là thấy xuân về. Trong nhà có cây đào thấy Tết vô cùng thiêng liêng ấm cúng.

Vậy mà ba năm nay tôi không dám lên cái làng (từng trồng) đào ấy nữa. Có gì như ám ảnh, dằn vặt từ bên trong. Người thủ đô nào không xót xa nhìn cả một làng đào phải đi tị nạn, trao đất cho người nước ngoài xây những căn nhà gắn mác cao cấp trị giá bạc tỉ, thậm chí chục tỉ, rồi bán lại cho chính người Việt. Tất nhiên, người giàu. Chắc chả ai lẩn thẩn như tôi, sống trong những căn villa đồ sộ như thế người ta đâu cần hoài cổ đào? Không biết phải chặt đi bao nhiêu gốc đào để xây được một căn biệt thự hàng trăm mét vuông? Những mảnh đời nông dân sống với đào ở đâu giờ này?

Đây là một cuộc giành giật không cân sức. Nhưng nếu lạc quan, hãy tin vào tính kế thừa của văn hóa. Những làng đào nổi tiếng đất Thăng Long - Nhật Tân, Phú Thượng dù bị chèn ép đến độ phải bật bãi khỏi mảnh đất cha ông vẫn trụ được và nở hoa ở những vùng đất mới. Liệu sức sống mãnh liệt này có phải là lý do người miền Bắc chọn đào là cây ngày Tết?

3. Tết nay đã khác xưa nhiều. Đã vắng mùi bếp củi luộc bánh chưng. Ngày trước chỉ Tết mới được ăn bánh chưng, thịt gà. Bây giờ bánh chưng bán quanh năm ngoài chợ. Gà không còn là tiêu chuẩn đo sự sung túc trong mâm cơm gia đình. Bánh chưng ra chợ mùa hè còn có, ngày Tết ai hì hụi rửa lá dong, gói và luộc bánh cho cực? Nhưng vì thế, thiếu vắng hẳn một mùi vị rất riêng của Tết.

Tôi muốn thêm một khúc nhỏ thay lời kết bài viết về mùi Tết xưa. Có lẽ, ngày trước thiếu thốn đủ bề, các loại mùi vị không được phong phú như bây giờ nên trẻ con rất nhớ. Thời khắc trước Giao thừa đêm 30 Tết với tôi luôn là lúc đẹp nhất, trọn vẹn ý nghĩa giao thoa Đất - Trời - Con người. Khi mẹ lên sân thượng cúng, bố lại gọi anh em tôi dậy, mặc ấm và chuẩn bị hoa quả, mứt, bánh kẹo. Giao thừa năm nào tôi cũng thấy nao nao trong người. Rất lạ. Đấy là lúc trời đất giao hòa, con người trong tổ ấm. Trở về nơi bình an nhất sau một năm lo toan. Thoảng trong tiết Xuân lắc rắc mưa bụi, là mùi hương, mùi của Tết. Cái mùi mà với tôi, đến tận bây giờ và mãi sau này, không thể mất đi.

THÀNH TRUNG

Nguồn:
Nhớ, mùi Tết xưa



22/1/12

MẠN ĐÀM VỀ CHỮ NHÂN




PHAN CHÁNH DƯỠNG

Xưa nay người ta thường nhận xét về một con người rằng ông ấy rất “nhân từ”, thể hiện sự tôn kính, mến mộ, rằng đó là một người sống lương thiện, thương người, cảm thông với nỗi khổ đau của người khác.

“Nhân” là phạm trù đạo đức của Nho gia và “từ” là tinh thần yêu thương mọi sinh linh của nhà Phật.

Chữ “nhân” của Nho gia theo nghĩa hẹp và cụ thể được Khổng Tử diễn giải cho các học trò của mình được sách vở ghi lại như sau:

Nhân là kìm chế mình để trở về với lễ (khi trả lời Nhan Hồi).

Nhân là điều gì mình không muốn thì đừng áp đặt cho người khác, “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (khi trả lời Trọng Cung).

Nhân là yêu người (Khi trả lời Phàn Trì).

Khổng Tử nói “có thể làm được năm điều dưới đây với thiên hạ là có nhân” đó là: Cung kính, khoan dung, giữ chữ tín, chăm chỉ siêng năng, ra ơn cho mọi người. Ngoài ra, ông nói: Người có nhân, muốn thành đạt thì cũng giúp cho người thành đạt.

Tất cả câu trả lời trên đều cụ thể cho từng người, nội dung hàm chứa tính giáo dục con người cụ thể.

Chữ “nhân” theo nghĩa hẹp rất rộng, do đó người nhà Nho sau này giải thích chữ “nhân” là lý của yêu thương, là đức của tâm hay là làm điều nhân là giữ toàn tâm đức v.v…

Theo nghĩa rộng, chữ “nhân” được Khổng Tử, Mạnh Tử xem như tư tưởng cốt lõi của Nho giáo (giáo ở đây không phải là tôn giáo, mà là giáo hóa con người).

Do đó đạo đức của Nho giáo cũng có thể gọi là đạo của chữ nhân, khi nói “nhân giả nhị nhân giả” (chữ “nhân” chiết tự ra gồm chữ “nhân” là “người” và chữ “nhị” là “hai”).

Nghĩa là: Nhân là mối quan hệ giữa người và người. Đây chính là mọi quan hệ của con người trong xã hội. Nếu xử lý hài hòa các mối quan hệ trên thì xã hội sẽ trật tự, trên dưới hài hòa, và con người được sống trong cảnh thái bình. Do đó nhân chính là đạo làm người vậy.

Từ luận giải chữ “nhân” nghĩa rộng trên, chúng ta thấy mối quan hệ giữa người và người đầu tiên phải được xử lý, phải được quy phạm đó là con cái và cha mẹ.

Chúng ta ai cũng biết khi chào đời người gần gũi lo toan cho ta là đấng sinh thành (cha mẹ). Do đó, theo Nho giáo đây là mối quan hệ đặc biệt ưu tiên trong mọi mối quan hệ xã hội.

Những quy phạm về mối quan hệ này Nho giáo gọi là “đạo hiếu” (Theo Nho giáo, bách hạnh hiếu là đầu, làm người phải đặt chữ hiếu lên trên hết).

Tiếp theo là mối quan hệ với anh em là chữ “đệ”, mối quan hệ với bạn bè là chữ “nghĩa”, mối quan hệ với vua là chữ “trung” v.v…

Từ đó triển khai ra các phạm trù đạo đức khác để tu thân, để rèn luyện đức tính con người: lễ, nghĩa, liêm, sỉ, trí, nhân (nghĩa hẹp), dũng v.v…

Thật ra những phạm trù đạo đức nêu trên (trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín v.v…) chỉ là tên gọi của các mối quan hệ hay những thái độ, cư xử, quan điểm, lẽ sống của con người trong xã hội.

Nhưng nội dung hàm chứa bên trong của nó tùy theo thời đại khác nhau lại có ý nghĩa khác nhau. Ví dụ chữ “hiếu” là một phạm trù đạo đức nói lên mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ.

Phạm trù này vĩnh viễn tồn tại trong mọi xã hội từ xưa đến nay và cả mai sau, nhưng nội dung của chữ “hiếu” thì theo từng thời đại khác nhau có những nội dung khác nhau.

Như ngày xưa hiếu là luôn vâng lời cha mẹ, nuôi dưỡng cha mẹ, phải sinh con cái để nối dõi tông đường. Khi cha mẹ qua đời, con phải cư tang bằng hình thức sống quanh mộ đói rét ba năm không được đi đâu, không được vui vẻ để tỏ nỗi khổ đau thương nhớ mẹ cha...

Nhưng cũng có nhà Nho cho rằng “đại hiếu là làm rạng rỡ tông đường, kế đến là không làm gì nhục gia tông, thứ ba mới đến nuôi nấng cha mẹ”…

Còn ngày nay, chúng ta phải có nội dung phù hợp cho chữ “hiếu”. Chữ “trung” cũng thế, không thể giữ nội dung là trung với vua mà phải là trung với nước, trung với dân v.v…

Ngày xuân, có đôi điều mạn đàm về ý nghĩa chữ “nhân”, qua đó người viết hy vọng đưa ra được một nội dung rèn luyện đạo đức cá nhân cho mỗi người mà trong xã hội ngày nay dường như nhiều người đã quên lãng.

Nguồn:
Mạn đàm về chữ Nhân



21/1/12

TẾT CÒN THIÊNG HAY... MẤT THIÊNG?




ĐẶNG HOÀNG GIANG

Những gì đang diễn ra chỉ là kết quả đương nhiên mà con người chúng ta phải chấp nhận trong quá trình hiện đại hóa và hội nhập. Khi chính chúng ta đang tỏ ra bất lực, lúng túng trong việc tái sinh các giá trị của Tết nói riêng và vốn văn hóa cổ truyền nói chung?

Theo cảm nhận của nhiều người, hiện nay, Tết cổ truyền đang dần rơi vào tình trạng "đời thường hóa", "bình thường hóa" trong đời sống xã hội. Phải chăng nếp văn hóa truyền thống này đã bị mất thiêng?

Hay những gì đang diễn ra chỉ là kết quả đương nhiên mà con người chúng ta phải chấp nhận trong quá trình hiện đại hóa và hội nhập. Khi chính chúng ta đang tỏ ra bất lực, lúng túng trong việc tái sinh các giá trị của Tết nói riêng và vốn văn hóa cổ truyền nói chung?

Tết hãy còn thiêng

Khởi nguyên, Tết là một nghi lễ chuyển mùa. Rồi dần dà được nâng lên thành một thứ "siêu lễ hội" của nhiều xã hội nông nghiệp trên thế giới, đặc biệt là ở các cộng đồng lúa nước vùng châu Á.

Từ một sinh hoạt mang đậm màu sắc tín ngưỡng nông nghiệp cổ truyền - trong đó con người tìm cách giao cảm với các lực lượng siêu nhiên, đặng kiếm tìm một sự bảo trợ cho đời sống thế tục, theo thời gian, các chức năng của Tết ngày càng trở nên đa dạng.

Tết trước hết là dịp để con người hướng về tổ tiên, cội nguồn. Tết là sự kiện để con người làm mới và gia cố các quan hệ cộng đồng trước khi trở lại với chu kỳ vận hành quen thuộc. Tết còn là thời điểm để con người "giao hòa" với vũ trụ trong bước chuyển mình hứa hẹn những điều mới mẻ của nó. Và, khi cuộc mưu sinh còn chồng chất khó khăn thì con người cũng mong ngóng Tết để được "cải thiện" nhu cầu áo cơm.

Trong quá khứ, sự hội tụ của tất cả các chức năng nói trên khiến cho Tết mang một ý nghĩa đặc biệt. Tết đồng nghĩa với cái thiêng, cái mới, cái hi vọng.

Người Việt Bắc Bộ cổ truyền xem Tết là biểu tượng của niềm vui (vui như Tết) và dành cả tháng giêng để vui xuân (Tháng Giêng là tháng ăn chơi). Trong khi đó, với người vùng cao, chẳng hạn như Tây Nguyên, người ta dành hẳn ba tháng đầu năm (mùa Ninh Nong) để mặc sức chơi Tết.

Cách ngày nay chưa lâu lắm, vào mùa Ninh Nong, theo tục lệ cổ truyền, nhiều cộng đồng ở Tây Nguyên sẽ tạm bỏ buôn làng, theo bước thủ lĩnh vào tận con nước đầu nguồn để sống lại cuộc sống nguyên thủy hồng hoang giữa một thiên nhiên trần trụi, nguyên sơ, phóng khoáng.

Thẳm trong sinh hoạt nguyên thủy ấy là một minh triết tế vi: Đôi khi, con người cần trở về đằm mình giữa thế giới tự nhiên để rũ bỏ những váng cặn, làm lành những tật nguyền, phục chế những năng lực mà nó đã hứng chịu và mất đi trong quá trình vật vã tách khỏi tự nhiên để đi vào xã hội loài người, xã hội văn hóa.

Bước vào thời hiện đại, Tết cổ truyền của dân tộc đang dần thay đổi. Với quá trình thế tục hóa toàn bộ đời sống xã hội (kể cả đời sống tôn giáo tư tưởng) và sự tiến bộ của điều kiện vật chất, vai trò của Tết chủ yếu biểu lộ trên bình diện tinh thần.

So với quá khứ, con người hiện đại trở nên duy lí, tự chủ và sung túc hơn. Nhưng cuộc sống con người vẫn luôn cần đức tin, cộng đồng, nguồn cội. Nghịch lí của cuộc sống hiện đại là cá nhân trở nên cô đơn, lạc lõng và có nguy cơ tha hóa giữa một xã hội ngày càng tối tân nhưng cũng đầy rủi ro, bất trắc.

Trước tình thế này, con người phải nương vào sự bổ trợ của các nguồn lực ngoại tại. Các phương pháp tu tập, các lễ hội hay các sự kiện cộng đồng chính là các loại "vốn" xã hội đặc biệt, một thứ "của kho vô tận" mà cá nhân có quyền sử dụng để chữa trị những chấn thương tâm lí hay kích hoạt sức đề kháng tinh thần.

Do vậy, ngay tại các khu vực có trình độ phát triển cao như châu Âu, Bắc Mỹ hay Đông Á, con người vẫn háo hức chờ đợi các lễ hội thấm đẫm tinh thần cộng đồng và nhân văn.

Ở Việt Nam - một quốc gia nông nghiệp đang trên đà chuyển đổi, tính chất phức tạp, khắc nghiệt, khó lường của cuộc sống hiện tại càng thúc đẩy con người (đa phần trong số họ còn duy trì liên hệ với thế giới làng xã) tìm lấy một chốn an trú tinh thần trong các sinh hoạt cộng đồng ở nông thôn, mà Tết là tâm điểm của những sinh hoạt đó.

Tết lay thức những phức cảm đặc biệt trong mỗi người: Ý thức hướng nguồn (tổ tiên, bản quán), tình cảm cộng đồng hay ước vọng tái tạo - chuyển tiếp - hồi sinh. Rõ ràng, với một cộng đồng duy cảm như người Việt, Tết hãy còn là một thực tại hiện hữu. Trong một chừng mực nào đó, Tết hãy còn thiêng.

...Và đang dần mất thiêng?

Tuy nhiên, có một thực tế khác đang khiến nhiều người băn khoăn: Sinh hoạt Tết cổ truyền ngày một trở nên nghèo nàn, tẻ nhạt, và có phần... mất thiêng. Vấn đề nên được "đọc" như thế nào?

Theo chúng tôi, diện mạo đương đại của Tết cổ truyền là hệ quả của một vấn đề lớn- một vấn đề đang chứa đựng những điểm bất cập: Cách thức khai thác, quản lí Tết - kỳ thực là quản lí, khai thác một thứ siêu lễ hội, một biểu trưng của vốn văn hóa cộng đồng trong khung cảnh hiện đại hóa nông thôn - không gian cổ truyền và đặc trưng của Tết Việt.

Đặc điểm cơ bản của Tết nông thôn hiện nay là sự thiếu vắng một không gian văn hóa để con người chơi Tết theo nghĩa sang trọng nhất của từ này. Ở đa phần nông thôn Việt Nam, trong ngày Tết, ngoài một vài công việc quen thuộc (tân trang nhà cửa, tảo mộ, sắm Tết, chúc Tết và ... bù khú), người ta gần như không tìm thấy bất cứ hình thức sinh hoạt nào cho phép thỏa mãn nhu cầu chơi xuân và thưởng xuân.

Nghĩa là, bản thân môi trường nông thôn đang trở nên bất lực trong việc đáp ứng các nhu cầu văn hóa của những chủ thể tồn tại trong đó. Cho nên, con người cảm thấy tẻ nhạt và nhàm chán dù đang nhập thân vào một sự kiện đặc biệt như Tết và đang đón Tết ngay giữa quê hương.

Không đủ sức tái sinh, sáng tạo và phát triển các giá trị của riêng mình, nông thôn đành đi theo và bắt chước đô thị. Thành ra, Tết nông thôn hiện nay là sự gá lắp tự phát giữa những tập quán cũ còn sót lại với các kiểu sinh hoạt mang hơi hướng thị thành. Đoạn ký họa Tết ở một làng miền Trung được dẫn ra dưới đây sẽ giúp hình dung rõ hơn bức tranh Tết hiện đại:

... "Nhưng Tết quê giờ đã khác xưa. Người làng đã có tiền để ăn Tết cho thật đàng hoàng. Không mấy người rủ bố tôi lên núi chặt đào phai nữa. Một chậu quất trĩu quả hay một cành đào đất Bắc tuy đắt nhưng sang hơn nhiều. Hàng xóm đã thôi giã thịt, quây bột làm giò. Bánh chưng gói ít thôi, vì gói nhiều cũng không ai ăn, hoài của ...

Bạn bè tôi, mỗi đứa một phương, nhờ Tết mới hội ngộ. Nhưng gặp nhau thật không dễ. Muốn tìm bạn, chỉ còn cách đến quán café. Bạn đến thăm nhà, ngồi chưa ấm chỗ đã rủ tôi "đi quán"... Đêm xuống, làng vắng hẳn. Không còn những cảnh chúc Tết thân mật như thuở trước. Có chăng chỉ người lớn đi thăm nhau. Thanh niên dồn lại trong các tụ điểm café, karaoke.

Cha mẹ muốn tâm tình với con cái cũng chịu, lặng lẽ ngồi bó gối xem ti vi và chờ điện thoại những đứa ăn Tết ở xa gọi về. Trẻ con miễn cưỡng xách bánh trái. Vì tiền lì xì không hấp dẫn bằng phim hoạt hình, nhạc Xuân Mai, quán nét.

Chiều mồng bốn Tết, không khí được hâm nóng chút ít nhờ trận bóng giao lưu giữa kẻ ở người về. Nhưng tan bóng thì tan vui, ai về nhà nấy. Mấy người xa xứ lâu ngày, gặp bố tôi phàn nàn: "Tết bây giờ khác quá anh ạ. Chẳng hơn gì cuộc giỗ, ngày rằm. Biết thế, bọn em đã không về".

Tỉnh giấc sau viễn mộng đô thị hóa- công nghiệp hóa, ngoài một vài thành quả an ủi (điện khí hóa, bê tông hóa, viễn thông hóa) nông thôn đã thôi không còn là bệ đỡ dồi dào, vững chãi mà chỉ còn là "sân sau" để mua vui và bị động tiêu thụ những hạ phẩm của văn hóa đô thị.

Làm gì để Tết là...Tết?

Như vậy, thực tế nông thôn đang đặt ra đòi hỏi và nhu cầu tái tạo, phát triển các giá trị của Tết cổ truyền theo một cách hiệu quả và hợp lí hơn. Nếu nhìn trên bình diện tổng quát thì đó còn là nhu cầu tái tạo, phát triển một nguồn vốn cộng đồng trong bối cảnh tập trung các nguồn lực nhằm hiện đại hóa nông thôn.

Quá trình ấy cần được bắt đầu bằng việc xác lập một không gian sinh hoạt cho toàn thể cộng đồng. Có thể chấm phá các đường nét chính của không gian đó như sau: Tái tạo sinh hoạt lễ hội và các sự kiện cộng đồng- bao hàm các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các khu vực nông thôn từ lâu đã tắt ngấm các sinh hoạt lễ hội hay sinh hoạt cộng đồng theo đúng nghĩa của nó.

Về bản chất, Tết đã và đang phản chiếu tình trạng xuống cấp của đời sống văn hóa nông thôn. Thực tế, sau những biến động dồn dập diễn ra suốt một thời gian dài, cơ tầng văn hóa - xã hội nông thôn đã bị xáo trộn mạnh.

Nông thôn đã mất đi nền tảng vô cùng vững chắc của nó đúng vào thời điểm mở cửa. Để rồi nếm trái đắng sau một quá trình cộng sinh với vô số thượng vàng hạ cám tràn về từ thế giới bên ngoài.

Phát triển mạng lưới tổ chức cộng đồng (gồm những người có chung sở thích, nhu cầu hay quyền lợi) nhằm hình thành quan hệ gắn kết giữa các thành viên với nhau và giữa họ với cộng đồng, từ đó thúc đẩy tính năng động xã hội ở từng cá thể. Phục chế các không gian công cộng chuyên trách các chức năng văn hóa - xã hội bên cạnh các không gian hành chính của Nhà nước (đình làng, chùa làng ...).

Và quan trọng nhất, nhân dân phải là chủ thể đích thực của quá trình đổi mới các giá trị của Tết cổ truyền, trong đó giới trẻ là lực lượng nòng cốt. Nghĩ cho cùng, nhân dân mới là người hiểu hơn ai hết nhu cầu và tâm tính của mình, và cũng biết hơn ai hết những hình thức sáng tạo nhằm gìn giữ và truyền các giá trị văn hóa tập thể của họ.

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, các đường nét vừa nêu chính là con đường khả dĩ giúp nông thôn dần tái tạo nền tảng văn hóa và sức sáng tạo muôn đời của nó.

Điều này không những giúp nông thôn giữ được thế cân bằng trước làn sóng đô thị hóa, công nghiệp hóa đang diễn ra như một xu hướng khó cưỡng. Mà còn giúp cho sự phát triển thuần thục của con người nông thôn trong quá trình nhập thân vào môi trường bên ngoài.

Trong chiều hướng ấy, Tết cổ truyền, với tư cách là một thứ siêu lễ hội của cộng đồng, sẽ còn được phát huy nhiều hơn nữa trong sinh hoạt nông thôn.

Có thể nói rằng, đã đến lúc cần phải nghĩ về Tết theo một cách khác với những gì chúng ta vẫn quan niệm lâu nay.

Ăn Tết hay đón Tết không đơn thuần là thực hiện một tập quán xưa cũ, mà còn là nghệ thuật tổ chức một sự kiện văn hóa nhằm tái tạo, phát triển một nguồn vốn cộng đồng vẫn đang thực sự hữu dụng cho cuộc sống đương đại.

Vậy nên, câu chuyện Tết cổ truyền vừa được xới lên không chỉ giới hạn trong phạm vi thảo luận của giới "làm" văn hóa; mà cần được chuyển hóa thành những suy tư và thao tác cụ thể của toàn xã hội.

Nguồn:
Tết còn thiêng hay... mất thiêng?



10/12/11

ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM - LẠC QUAN HAY BI QUAN?



Đạo diễn - NSND Đặng Nhật Minh gửi gắm đôi lời tâm sự về nền điện ảnh nước nhà trước thềm Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 17 sắp diễn ra tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Tháng 9/2011, tại làng văn hóa Đồng Mô, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Hồ Anh Tuấn có chủ trì một cuộc hội thảo để bàn về việc chấn hưng điện ảnh nước nhà. Tôi đi vắng nên không có mặt trong cuộc hội thảo đó, chỉ theo dõi qua báo chí với những câu trả lời phỏng vấn, những lời phát biểu hùng hồn của các nhà làm phim trước ống kính truyền hình.

Nói chung giới điện ảnh tỏ ra hết sức bức xúc trước thực trạng ngành điện ảnh mà ai cũng cho là nguy kịch, bi thảm, đến đáy rồi... Vụ thất thoát 38 tỷ đồng tại Cục điện ảnh như một giọt nước làm tràn ly. Nhưng cũng có người cho rằng điện ảnh có gì mà phải bi quan? Bi quan là ở khu vực điện ảnh nhà nước thôi, còn phim do tư nhân sản xuất nghe đâu có phim chỉ sau hai tuần ra rạp đã thu về 40 tỷ đồng thì sao lại bi quan?

Nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng trên thì mỗi người một ý. Người đổ cho thiếu sự quan tâm của nhà nước, nhìn sang truyền hình thấy nhà nước ưu ái hơn, được cấp nhiều tiền hơn. Người thì đề nghị nhà nước cấp sổ đỏ cho Hãng phim truyện đầu đàn ở số 4 Thụy Khuê (sổ đỏ cũng là tiền, là tài sản). Người thì nói thẳng ra rằng vì đội ngũ những người làm điện ảnh bất tài...

Vậy biện pháp để khắc phục tình trạng trên là gì? Đa số kêu gọi Nhà nước phải quan tâm hơn nữa đến điện ảnh. Có người còn đề nghị cho điện ảnh quay lại thời bao cấp (mỗi năm nhà nước bỏ ra chừng 25 tỷ đồng là có thể nuôi điện ảnh đàng hoàng). Có người yêu cầu nhà nước phải có chiến lược tổng thể đối với điện ảnh...

Tóm lại nói nôm na là nhà nước phải rót thêm tiền cho điện ảnh. Sự quan tâm gì cũng thể hiện ở chỗ đó, chiến lược gì cũng thể hiện ở chỗ đó. Cũng có ý kiến ngược lại cho rằng nên xóa sổ điện ảnh nhà nước, hãy để cho tư nhân làm phim, tự điều chỉnh lấy nội dung, tự điều tiết theo cơ chế thị trường. Thậm chí có ý kiến nên bỏ hẳn kiểm duyệt. Nhà nước chỉ có trách nhiệm phân loại xem phim nào cấm trẻ em dưới 17 tuổi, phim nào cấm trẻ em dưới 15 tuổi.

Đối với tôi bức tranh của điện ảnh VN ngày nay đã quá rõ ràng. Một khu vực điện ảnh tư nhân ngày càng lớn mạnh tạo nên một thị trường kinh doanh điện ảnh sôi động. Kinh doanh trên các phim nhập ngoại không hạn chế số lượng và thời lượng chiếu, kinh doanh trên các phim sản xuất trong nước mà số lượng ngày càng tăng. Đã là kinh doanh ắt phải lấy lợi nhuận làm mục tiêu, lấy đồng tiền làm mục đích.

Đồng tiền đã, đang và sẽ dẫn dắt khu vực này chẳng cần ai định hướng, mà cũng không có ai định hướng được. Một khi đồng tiền chi phối thì đừng bàn đến tính tư tưởng. Ở đây chỉ có tính thương mại. Một đại gia dầy dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực này từng nói: “Chúng tôi kinh doanh là chính. Làm những phim nhảm nhí mới có lãi!“. Quả thật cái gì luật pháp không cấm thì đều được phép làm. Trong luật điện ảnh không có điều khoản nào cấm làm phim nhảm nhí.

Vậy nhà nước chỉ có thể quản lý khu vực này theo cách quản lý thị trường, như quản lý bất cứ hoạt động kinh doanh nào khác theo đúng luật. Nhà nước giám sát để không ai trốn thuế, kiểm soát không để những sản phẩm độc hại ảnh hưởng đến người tiêu dùng, giống như quản lý thực phẩm bầy bán ở chợ hay trong các siêu thị. Còn khu vực điện ảnh nhà nước thì sao?

Nếu nhà nước muốn có những phim mà mình thấy cần thì vẫn phải bỏ ra những khoản tiền nhất định để sản xuất những phim đó. Đó là những phim giáo dục truyền thống, những phim chiếu trong những dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc… Vấn đề nhà nước cần suy nghĩ là hiệu quả của đồng tiền bỏ ra để làm sao có được những bộ phim có nội dung sâu sắc, chất lượng nghệ thuật cao (chứ không phải là những phim nhạt nhẽo làm ra cốt để “cúng cụ” cho xong rồi cất kho).

Nhà nước cũng cần làm PR cho các sản phẩm của mình. Lĩnh vực này nhà nước nên học các nhà sản xuất phim tư nhân, phim dở mấy mà PR giỏi họ vẫn hốt bạc. Dầu sao thì phim của nhà nước cầm chắc là lỗ vì mục đích của nhà nước làm phim không phải để kinh doanh. Nhà nước không thể bán vé xem phim đắt như ở các rạp của tư nhân được vì đối tượng phục vụ của nhà nước không phải là những khán giả con cái nhà giàu mà còn đông đảo những người thu nhập thấp ở thành thị lẫn nông thôn...

Tôi từng chứng kiến công cuộc chấn hưng điện ảnh cách đây hơn 10 năm. Lần ấy nhà nước bỏ ra cho chương trình này 208,8 tỷ đồng (xin nhớ 208 tỷ ngày đó tương đương với hơn 400 tỷ bây giờ). Cũng nhờ có số tiền đó mà các hãng phim nhà nước được trang bị thêm một số máy quay, thiết bị chiếu sáng, thu thanh, xây dựng Trung tâm chiếu phim Quốc gia, phục hồi lại được phần nào hệ thống các rạp chiếu phim nhựa (một thời bị biến thành những phòng chiếu phim video, nhà hàng...), trang bị máy phóng cho màng lưới chiếu phim video ở miền núi...

Số tiền nhà nước ngày ấy bỏ ra cho điện ảnh không phải nhỏ, nhưng sự lãng phí trong điện ảnh cũng không ít. Cả một cơ ngơi in tráng, làm hậu kỳ hiện đại nằm đắp chiếu ở Trung tâm kỹ thuật điện ảnh trên đường Hoàng Hoa Thám (nay cho công ty AVG thuê làm trụ sở) vì tất cả các phim truyện của VN bây giờ đều đem sang Bangkok làm hậu kỳ, vừa rẻ lại vừa tốt.

Ba bộ máy làm kỹ xảo cực kỳ đắt tiền cũng nằm mốc meo tại ba nơi không có người sử dụng. Trường quay Cổ Loa đang xây dựng tôi e rồi cũng sẽ cùng chung số phận. Cuộc chấn hưng điện ảnh lần ấy đã qua hơn 10 năm mà chưa hề có một cuộc tổng kết rút kinh nghiệm nào. Bởi vậy lần này lại nghe nói đến hai chữ “chấn hưng”, tôi bỗng giật mình. Ngay sau hội thảo ở Đồng Mô (mà báo chí gọi là Hội nghị Diên hồng của điện ảnh), một tờ báo điện tử có làm cuộc thăm dò ý kiến độc giả. Tính đến ngày 30/9/2011 kết quả có 68% độc giả cho rằng không hy vọng gì vào những nhân tố mới, khó thay đổi bộ mặt của điện ảnh. 25% tin rằng sẽ xuất hiện những nhân tố mới vực điện ảnh đứng dậy. 7% độc giả có những ý kiến khác.

Có lẽ tôi nằm trong số 7% những người có những ý kiến khác trong cuộc thăm dò trên. Ý kiến đó là, nếu Nhà nước muốn duy trì một khu vực điện ảnh của mình, thì việc trước tiên cần làm là phải thay đổi lại quy chế đầu tư và đặt hàng trong điện ảnh. Quy chế hiện hành biến những người nhận đặt hàng của nhà nước (không phải những người nghệ sĩ) thành những ông chủ, coi người nghệ sĩ như những người làm công với mối quan hệ xin cho.

Quy chế hiện hành tạo ra vô số kẽ hở để những kẻ trung gian xà xẻo, rút ruột. Nhà nước cần tôn trọng người nghệ sĩ, trả công thích đáng cho họ (để đừng hổ thẹn với khu vực tư nhân). Về phương diện quản lý, Nhà nước cần sửa đổi lại luật điện ảnh (5 năm qua cho thấy luật này có rất nhiều điều bất ổn), cần cải tiến lại chính sách thuế trong điện ảnh để vừa khuyến khích sản xuất, vừa đảm bảo nhà nước không bị thiệt thòi.

Còn khu vực điện ảnh tư nhân thì hãy để nó tự phát triển và tồn tại theo nguyên tắc cái gì pháp luật không cấm thì cứ việc làm. Nhưng nghĩ cho cùng điều khán giả cần ở điện ảnh Việt Nam là những bộ phim hay, bất kể của nhà nước hay tư nhân, những phim không nhảm nhí vô duyên mà cũng không khô khan nhạt nhẽo. Tôi không bi quan mà cũng không lạc quan. Nhưng tôi hy vọng… một niềm hy vọng giống như đối với bóng đá Việt Nam cho dù chúng ta vừa vỡ mộng ở Sea Games 26.

ĐẠO DIỄN, NSND ĐẶNG NHẬT MINH

Nguồn:
Đến nơi mình là số không



6/12/11

HÀNH TRÌNH VỀ GA SỐ KHÔNG



Một người bạn tôi tâm sự: “Trong cuộc đời mình, cái mình sợ nhất là mất đi niềm đam mê”. Thấy tôi cười nhếch mép vì câu nói nghe rất quen tai, bạn hùng hồn giải thích thêm.

Hình dung giống như bạn đang nghiện chơi game điện tử, mất nhiều tháng để chinh phục từng cung đường khó khăn, nhiều thử thách, rồi một ngày kia bạn đến đích, nhận được thông tin chúc mừng là đã chinh phục hoàn toàn trò chơi này.

Lần sau lại vào game đó bạn bỗng nhận ra bao nhiêu háo hức chinh phục lâu nay biến đâu mất hết. Bạn rời khỏi game với nỗi buồn mình đã mất đi một niềm đam mê. Ra vậy!

Bạn tôi là dân kinh doanh. Dĩ nhiên, kinh doanh là một con đường dài với thiên hình vạn trạng cảm xúc, chứ không đơn giản như game điện tử. Nhờ sự nhạy cảm thiên phú, dù không làm ăn quy mô lớn, chỉ vài cái phòng trà ở thành phố du lịch ven biển, nhưng chị quả thật có tay kinh doanh, khách đến phòng trà nghe nhạc ngày một đông.

Những ngày đầu, khi thấy khách trầm trồ khen ngợi cách trang trí phòng trà, say sưa ngắm nghía mấy bức tranh sơn dầu trên tường, đắm đuối những giỏ hoa tươi ngoài sân vườn, suýt xoa chương trình nhạc hay quá thì chị vui sướng lắm, hào hứng tâm sự rằng chị đã dành bao tâm sức, cố gắng thẩm thấu văn hóa để tạo dựng một không gian đẹp như vậy.

Rồi một hôm, không hiểu sao chị lại thuê người quản lý. Tiền vào vẫn nhiều, ngày càng nhiều, nhưng chị bảo, mỗi lần đến phòng trà tự nhiên chị thấy mệt mỏi vì... nhàm chán. Vẫn những bản nhạc ấy, ca sĩ ấy, vẫn những người khách vừa nghe nhạc vừa nói chuyện nhưng lại khiến chị cau mày.

Chị dừng lại ở con số ba phòng trà, không khuếch trương thành chuỗi như dự định. Lý do: hết đam mê rồi. Trả lời gọn hơ vậy, nhưng tôi thấy chị lại hừng hực khí thế và không ngừng kể về lĩnh vực mới khiến chị quan tâm: công nghệ nuôi dưỡng tế bào gốc để áp dụng vào việc điều trị làn da cho mọi lứa tuổi.

Chị đi học, tham gia các lớp đào tạo kiến thức, mua sắm trang thiết bị, tuyển nhân viên kỹ thuật để lao vào công việc kinh doanh mới. Gặp chị, thấy chị gầy rộc do thức khuya để nghiên cứu tài liệu, dậy sớm để hối thúc nhân viên, đi gặp gỡ bạn bè, khách hàng và giải quyết những món nợ đáo hạn ngân hàng. Rồi chị tiếp tục thành công khi hai cơ sở spa dần có tên tuổi, có khách đều đặn.

Cũng như kinh doanh phòng trà, kế hoạch của chị luôn là tạo chuỗi các cơ sở kinh doanh cùng thương hiệu. Công việc vất vả mà từ chị vẫn toát ra rất nhiều năng lượng tiềm ẩn.

Hai năm trôi qua, những cơ sở kinh doanh của chị đi vào giai đoạn hái quả với lượng khách ổn định. Gặp nhau, chị kể qua loa về những thành quả mà ai cũng mơ ước, và tôi nhận thấy hình như chị lại bắt đầu hoang mang. Căn bệnh cũ nổi lên. Chị đã hết đam mê công việc đang làm. Chị cần thay đổi.

Để lại công việc đã hoàn hảo cho gia đình quản lý, chị như người chuẩn bị cho một chuyến đi mới. Tôi gọi đó là hành trình chị đi tìm “ga số không”. Ở ga số không, mọi con tàu, mọi người đều đang chuẩn bị khởi hành.

Ở đó, trong lĩnh vực kinh doanh mới, chị sẽ quay về con số không với một trận địa trống trải không kinh nghiệm, không khách hàng. Chị cười giải thích: “Mình sắp bước vào một hành trình mới, lại đi học, lại nghiên cứu những kỹ thuật mới đây”.

Người phụ nữ này làm tôi nhớ đến nhiều người nổi tiếng cũng muốn nhận diện bản thân ở nơi họ là con số không như thế. Ngôi sao Hollywood Angelina Jolie chẳng hạn. Ở đỉnh cao của sự nổi tiếng, những vai diễn sáng giá nhất đều dành cho cô.

Thế nhưng, người hâm mộ cô bàng hoàng khi biết tin bộ phim mới Trên mảnh đất máu và mật ngọt do cô viết kịch bản, sản xuất và đã hoàn thành trong năm 2011 động chạm đến đề tài “khó gặm” là cuộc chiến tranh ở Bosnia.

Những người hâm mộ Angelina rất lo lắng vì sợ cô mất sạch uy tín khi lao vào một dự án chẳng có gì đảm bảo thành công trong vai trò nhà làm phim và viết kịch bản. Nhưng phim cũng đã làm xong, và những tin tức đầu tiên đang hé mở khả năng bộ phim của cô có thể đoạt giải Oscar 2012.

Vậy nên, có thể nói, nhu cầu tìm kiếm bản thân ở những địa hạt mình là con số không có thể xuất hiện với bất cứ ai, đặc biệt là người từng có ít nhiều thành công.

Đôi khi người đời gọi họ là những kẻ mau chán, nhưng thực tế không phải thế, họ cần tìm những đỉnh cao mới để giải phóng năng lượng và có dịp lao động cật lực để gìn giữ niềm đam mê, một nhu cầu có ý nghĩa, một điều kiện tối thiểu để sống những năm tháng thú vị trong đời.

KHẢI LY

Nguồn:
Điện ảnh Việt Nam - lạc quan hay bi quan?



4/12/11

CHÙA VÂN SƠN Ở CÔN ĐẢO




Chùa Vân Sơn được các bậc tiền bối Phật giáo và đồng bào Phật tử trong đất liền phối hợp với nhân dân Côn Đảo xây dựng trên Núi Một (Côn Sơn - Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)từ năm 1964, để đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân địa phương và phục vụ các ngư dân đến Côn Đảo tránh bão; đồng thời cũng là nơi mà người dân địa phương cầu chúc cho các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm trong các trại giam khét tiếng ở đây. Trong một thời gian dài, chùa Vân Sơn không có người chăm nom, hương khói nên theo thời gian đã bị hư hại.

Với sự quan tâm của Giáo hội PGVN và tổ đình Vĩnh Nghiêm (TP HCM) cũng như việc thành tâm cúng dàng của các Phật tử và việc góp sức của toàn thể nhân dân, ngôi chùa Vân Sơn – Núi Một đã được khởi công xây dựng lại cuối tháng 7 năm ngoái.

Chùa Vân Sơn mới đã được khánh thành tối 3.12 vừa qua.

Chùa trông thẳng ra biển với phong cảnh rất ngoạn mục.


Lầu trống

Lầu chuông




Đường lên chùa trải qua 200 bậc thang.




Ban thờ Phật.





1/12/11

BỐ VỢ CỨU CON RỂ



Một anh chồng trẻ, có văn hóa, có nghề nghiệp ổn định, để vợ ở nhà chăm hai đứa con. Không phải cô kém cỏi hay thất học. Họ theo hình mẫu phương Tây?

Phụ nữ tốt nghiệp đại học hẳn hoi nhưng ở nhà chăm con tốt hơn. Hai người đi làm mà để con nay ốm mai đau sẽ hại về lâu dài, đồng tiền chẳng đáng. Anh chồng nghĩ mình cố gắng chút cũng bù đắp được “đồng lương còm” của vợ. Thế là ổn.

Cô vợ chăm con, rồi con lớn dần, nỗi mệt nhọc của việc chăm em bé dần thay bằng những tháng ngày dậy sớm, dỗ cho chúng chịu dậy, đánh răng, ăn sáng rồi đến trường đã là một kỳ công.

Con đến trường học rồi, coi như mẹ được đền bù chút nghỉ ngơi, tự thưởng cho mình. Cứ quần quật cắm đầu nuôi con, ngửng đầu dậy thì sắp bốn mươi tới nơi, tuổi xuân đã qua mất.

Đây mới là lúc có thời gian cho bản thân: mua sắm, tập yoga, đến các trung tâm thể thao bơi lội, chú ý đến mỹ phẩm, dưỡng da. Có thời gian lên mạng…

Nếu chuyện đời chỉ có thế thì ổn quá. Nhưng không, mọi rắc rối là do “tự nhiên” cô thấy đời đơn điệu quá. Anh chồng cứ chúi mũi đi làm, được ngày nghỉ chở vợ con về hai bên nội ngoại, nghe con la hét, cho con đi học bơi, đi mua sách, mua đồ chơi, xong rồi cũng mệt lử.

Thế là chẳng ai biết ai nghĩ gì. Dần dần đời sống cá nhân cứ dần thu hẹp lại.

Một hôm, chồng thấy vợ cứ điện thoại, nhắn tin vào lúc đêm khuya. Sáng mai khi cô đang ở nhà tắm, anh vô tình cầm máy điện thoại của vợ và sững sờ với các tin nhắn. Một đôi tình nhân trò chuyện, nhung nhớ…

Anh choáng váng, bất ngờ. Cứ tưởng mình nai lưng ra đi làm nuôi cả nhà, là điều hiển nhiên phải được thương mến, tôn trọng. Nào ngờ cô vợ nhàn cư…

Chuyện tiếp theo là đau đớn, oán giận, tra hỏi. Vợ thú nhận rằng mối quan hệ này là… trên tình bạn, dù hai người chỉ qua chat rồi thành thân mật, nhắn tin như một món ăn tinh thần. Hai bên đều kêu buồn, phê phán cuộc đời chán ngắt, tả cảnh mây gió.

Cô vợ còn tra cứu, sưu tầm văn chương thơ phú, lịch sử, lời các doanh nhân. Họ nghiệm những tin nhắn, tâm sự, trổ tài và trao đổi những suy nghĩ hay ho về cuộc sống nội tâm của nhau…

Có gì đâu! Cuộc trò chuyện ảo, của hai người có gia đình, đang tìm thêm chút phong phú cho tinh thần…

Cô vợ bắt đầu phản công: “Sao anh kiểm tra tư liệu cá nhân? Sao anh thiếu tôn trọng sự riêng tư?...”. Anh chồng vừa đau đớn vừa giận dữ, không muốn rơi vào thế của anh đàn ông ghen tuông, nhưng chưa biết cách nào.

Có người nói: “Sao anh không tìm xem cái thằng mất dạy kia là thằng nào để cho nó một trận, chừa thói vụng trộm lừa dối vợ con để gửi hồn ở bên ngoài, tán tỉnh vợ người ta”.

Nhưng anh chồng nói rằng anh không là loại người phải đi tấn công ngăn chặn đám mất dạy ngoài đường, mà đau ở chỗ người nhà mình ngu dại, lố lăng.

Cô vợ vẫn không thấy mình có lỗi, mà đổ lỗi cho chồng: Tại đời sống hôn nhân buồn tẻ quá, tại chồng không chia sẻ, tại chồng chỉ chăm về nhà mẹ đẻ… Làm như việc chồng mình quan tâm đến cha mẹ là một lỗi lớn.

Cô giận dỗi, đối phó bằng cách không quanh quẩn ở nhà cơm nước chu toàn nữa, mặc kệ cho chồng về thấy cảnh “vườn không nhà trống”.

Có lúc cô còn cao giọng rằng cô chẳng có lỗi gì, cô đã gặp người kia bao giờ đâu, chỉ là viết thư, sống bằng những lời ngọt ngào của người xa lạ, không thể thiếu những tin nhắn.

Trong một lúc tranh cãi, cô còn đập tan tành cái điện thoại, anh chồng lẳng lặng nhặt lấy cái sim. Nghĩ thương tình vợ ở nhà bế tắc, mình không quan tâm chia sẻ là cũng có lỗi, anh chồng mua chiếc điện thoại mới tặng vợ.

Cô càng được thể, từ đó kiếm cách khóa các tin nhắn để chồng không vào xem được (mọi ngày cô đâu rành kỹ thuật này, chắc chắn đã chia sẻ và “thằng cha kia” đã bày cách cho cô đối phó).

Anh chồng tử tế buồn lo lắm, cứ cảm thấy mình có lỗi vì đã “lục soát kiểm tra sự riêng tư”. Nhưng nếu không làm thế, sao biết được người nhà mình lấn sâu vào chuyện gì…

Đang lấn cấn về lối ứng xử tôn trọng của giới có học, thì may thay, ông bố vợ bình dân xuất hiện. Nghe chuyện, ông gọi con gái lại “bạt tai” cho một cái tỉnh đòn. Lý sự của ông khác hẳn chàng rể trí thức.

Ông quát: “Riêng tư cái con khỉ! Tôn trọng cái riêng tư tử tế chứ không ai tôn trọng cái lũ mất dạy! Chúng bay giấu giếm lừa dối gia đình, phải vạch mặt chỉ tên ra. Chỉ có ngu mới tôn trọng sự mất dạy”.

Rồi ông truy cô con gái đang sợ xanh mắt: “Thằng khốn nạn kia là thằng nào, đưa địa chỉ nó đây tao đến cho nó mấy cái đạp, chứ tôn trọng gì ở chuyện này. Từ nay tao cấm. Nghe chưa? Có chồng có con đàng hoàng không biết gìn giữ. Đồ mất nết, làm xấu hổ cả cha mẹ…”.

Lời “lỗ mãng” mà đúng vấn đề, đã kìm cô gái lại. Cô đã biết sợ cái lỗi vớ vẩn của chính mình… Ông bố vợ có bài thuốc hay hơn chàng rể. Thân lừa ưa nặng!

QUẢNG YÊN

Nguồn:
Bài thuốc nặng ký của ông bố vợ…



 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết