Bắt đầu từ tháng 12.2010, một loạt các cuộc biểu tình đã diễn ra trên đường phố thủ đô Tunis của Tunisia và dần leo thang đến mức Tổng thống Zine el-Abidine Ben Ali - người đã lãnh đạo Tunisia trong 23 năm qua, phải tuyên bố sẽ không ra tranh cử thêm một nhiệm kỳ nữa. Nhưng lời tuyên bố đó của ông không thỏa mãn nhân dân. Biểu tình lại tiếp tục diễn ra, đến ngày 14.1, ông Ben Ali buộc phải chạy khỏi đất nước.
Một chính phủ lâm thời được lập ra, nhưng dòng người biểu tình vẫn chưa nguôi tức giận. Họ đòi tháo bỏ mọi vết tích của đảng RCD do Ben Ali đứng đầu. Nguyên nhân khiến người dân Tunisia xuống đường là do tỉ lệ thất nghiệp quá cao, lạm phát phi mã và tham nhũng tràn lan. Ảnh: FETHI BELAID
Châm ngòi cho làn sóng xuống đường là cái chết tức tưởi của anh thanh niên bán dạo 26 tuổi tên là Mohamed Bouazizi. Anh này nguyên là sinh viên tốt nghiệp đại học, nhưng thất nghiệp, phải đi bán rau và hoa quả. Bouazizi tự thiêu hôm 17.12, sau khi bị cảnh sát tịch thu chiếc xe bán hàng rong.
Trong tấm ảnh do Phủ tổng thống phát, Tổng thống Ben Ali (thứ hai trái sang) đến bệnh viện thăm Mohamed Al Bouazzizi (right) hôm 28, 2010. Bouazizi sau đó đã qua đời.
Đụng độ giữa cảnh sát và người biểu tình trên đường phố Tunis. Ảnh: FETHI BELAID
Xe tăng án ngữ trên một đường phố trung tâm ở thủ đô Tunis ngày 16.1.2011. Ảnh: FRED DUFOUR
Người biểu tình tranh cãi với cảnh sát tại trung tâm Tunis hôm 17.1, họ đòi xóa bỏ hoàn toàn đảng RCD. Ảnh: FRED DUFOUR
Một binh sĩ Tunisia kêu gọi người biểu tình bình tĩnh trong cuộc đụng độ với cảnh sát tại trung tâm Tunis hôm 14.1. Ảnh: Zohra Bensemra
Người biểu tình bắt tay chào các binh sĩ quân đội Tunisia trong cuộc biểu tình hôm 17.1. Ảnh: Christophe Ena
Một người đàn ông ra dấu khi cảnh sát phun vòi rồng giải tán cuộc biểu tình hôm 17.1. Ảnh: Stringer
Cụ già bị tức ngực sau khi hít phải hơi cay do cảnh sát phun ra để giải tán đoàn biểu tình hôm 17.1. Ảnh: MARTIN BUREAU
Một người đàn ông bị thương trong cuộc biểu tình hôm 18.1. Ảnh: FRED DUFOUR
Các phóng viên ảnh tác nghiệp trong bầu không khí bị phun hơi cay hôm 18.1. Ảnh: FETHI BELAID
Cảnh sát chống bạo động đặt chân súng lên mặt một người biểu tình hôm 18.1. Ảnh: Zoubeir Souissi
Cảnh sát bắt giữ một người biểu tình trong cuộc đụng độ hôm 14.1. Ảnh: Christophe Ena
Một người biểu tình ném trả bình hơi cay vào cảnh sát chống bạo động hôm 14.1. Ảnh: Zohra Bensemra
Cảnh sát bắt giữ một phụ nữ tham gia biểu tình ngày 14.1. Ảnh: Zohra Bensemra
"Vũ khí đặc biệt" của một người biểu tình. Ảnh: FRED DUFOUR
Các bà nội trợ dẫm đạp lên tấm chân dung của vị tổng thống tham nhũng vừa đào thoát khỏi đất nước. Ảnh: FETHI BELAID
Một cuộc đụng độ giữa cảnh sát và người biểu tình hôm 14.1. Ảnh: Zohra Bensemra
Niềm vui chiến thắng. Ảnh: FETHI BELAID
Người dân mang hoa để lên xe tăng quân đội như một cử chỉ hòa giải. Ảnh: Christophe Ena
Thay vì tài trợ cho các cuộc thi người đẹp, nếu ai đó đồng ý tài trợ cho cuộc thi người chịu lạnh giỏi nhất thì vương miện chắc chắn thuộc về người nghèo.
Người nghèo đang “trình diễn” sức chịu đựng giỏi giang của mình. Trong khi người ta quấn các loại vải vóc kín mít mà miệng vẫn luôn trách móc ông trời thì người nghèo chẳng nói chẳng rằng, chỉ với mỗi cái áo khoác mỏng, cũ, thậm chí mặc áo mưa, vẫn đạp xe, phóng xe chở rau cỏ phăm phăm ngoài phố.
Người nghèo cũng chẳng cần ăn nhiều, chỉ cái bánh mì nhỏ xíu, hay gói xôi, dĩa cơm bụi mươi, mười lăm ngàn. Bà bán cơm còn dọa: “Sau đợt rét này, giá sẽ khác”.
Ở Hà Nội có những cửa hàng bán quần áo, đồ dùng cho chó, mèo với giá cả triệu đồng mỗi món thì nhiều đứa trẻ con nhà nghèo vẫn mong manh trong gió buốt thấu xương. Trong khi nhiều người lũ lượt sắm quần áo, ô tô lên núi xem băng tuyết thì cũng có những người chảy nước mắt vì trâu bò, gia cầm chết, ruộng vườn héo hon. Anh bạn làm ở công ty du lịch nhấp ngụm nước chè: “Đi chơi vùng càng nghèo, càng đẹp”.
Lửa là thứ duy nhất để chống rét của người nghèo bởi các thiết bị sưởi bằng điện quá đắt đỏ. Nhưng cũng chính vì dùng than, lửa để sưởi mà các tai nạn chết người đã xảy ra. Rét làm lộ ra hết sự nghiệt ngã trong đời sống của người thu nhập thấp. Bình thường, sự khốn khó có thể che đậy bằng những tấm áo hoa, nhưng vì nó quá mỏng nên đã không giấu nổi sự giả vờ no ấm.
Rét còn làm lộ ra văn hóa của một số người giàu, có thể mua sắm hàng lô lốc hàng hóa nhưng vẫn cù cưa bớt một thêm hai với một phụ nữ co ro trong tấm áo mưa bán mớ rau vừa hái dưới ruộng lên chỉ vì vài ngàn đồng.
Rét cũng làm các viên chức lấy cớ để “tiện thể” nhiều thứ. Cô nhân viên làm giấy tờ chứng thực ở phường được dịp “đi vắng” từ 3 giờ chiều. “Rét mướt thế này phải cho người ta về sớm, ai đón con tôi?”, cô quấn khăn đi ra cửa, bỏ lại một dấu hỏi cho người dân đang chờ làm thủ tục hành chính. “Tại sao không cho trẻ con nghỉ đông thay vì nghỉ hè?”. Ừ, mà chúng nó có hè đâu cơ chứ!
Giá như bên cạnh một tòa nhà cao nhất, con đường đẹp nhất, mâm cỗ to nhất, hay lễ hội hoành tráng nhất, có thêm một vài nơi trú chân cho những người lao động ngày ngày cặm cụi bươn bải trên mọi nẻo đường đang phải giấu mình đâu đó trong cái thành phố tắc nghẽn ô tô này.
Những hôm thế này người nhà quê gọi là rét ngọt, nhưng là rét đau, bạn tôi bảo thế. Ông trời còn “khuyến mãi” thêm mấy hạt mưa cho thấm thía. Chỉ thương những bờ vai gầy, chẳng áo nào che…
Cựu tổng thống Tunisia Zine el-Abidine Ben Ali cùng vợ con đã lên trực thăng hôm 14.1 tẩu thoát sang Arập Xê-út, để lại một đất nước hỗn loạn và nghèo đói. Với sự tiếp tay của chính tổng thống, cái hệ quả kinh tế thảm hại của Tunisia phần lớn chính nhờ công cướp bóc của gia đình đệ nhất phu nhân.
Leila Trabelsi (sinh 1957) là con gái một trong gia đình 11 người con. Leila đào trúng mỏ vàng khi bắt đầu quan hệ tình ái với ngài tổng thống tương lai Ben Ali trong những năm 1980. Ben Ali khi đó là Thủ tướng Tunisia dưới quyền Tổng thống Habib Bourguiba còn Leila chỉ là một thợ uốn tóc ít học ở Marsa.
Khi Ben Ali lật đổ Bourguiba trong cuộc đảo chánh không đổ máu năm 1986, Leila sợ bị bỏ rơi bèn nói với tân tổng thống rằng đã có thai con trai. Vì người vợ đầu của Ben Ali chỉ sanh liền ba con gái, Ben Ali ly dị và cưới Leila. Hoá ra Leila nói dối, đứa con đầu của họ là con gái và mãi đến đứa thứ ba Leila mới sanh con trai.
Leila điều hành việc gia đình theo kiểu nửa mafia nửa người mai mối. Ý thức về xuất thân khiêm nhường của dòng họ, bà củng cố các quan hệ đồng minh bằng cách gả cưới người thân cho những dòng họ danh giá trong giới doanh nghiệp Tunisia và giai cấp tư sản.
Mưu đồ đế chế
Cả gia đình dòng họ Trabelsi của bà phất lên chỉ nhờ duy nhất là quan hệ thân cận với tổng thống Ben Ali. Gia đình Trabelsi đã hưởng lợi trắng trợn từ việc tư hữu hoá nhiều công ty nhà nước mà không hề có đấu thầu cạnh tranh. Trong nhiều trường hợp, toàn bộ nhiều ngành kinh tế độc quyền nhà nước được chuyển cho sở hữu tư nhân mới và vẫn duy trì giá độc quyền. Một trong những ngành này là độc quyền cấp phép nhập khẩu xe hơi.
Bằng cách đó, Belhassan Trabelsi, anh cả của Leila, đã thâu tóm cả một đế chế, thao túng thị trường chứng khoán, bất động sản và một ngân hàng lớn. Sử dụng những khoản vay ngân hàng không có thời hạn thanh toán, gia đình Trabelsi lập ra hãng hàng không tư nhân Carthago Airlines vơi sự ưu ái đặc quyền của hãng hàng không quốc gia Tunis Air. Phụ tùng từ máy bay quốc gia được tháo dỡ để bổ sung cho những máy bay của Carthago. Thương hiệu này sau đó mở rộng sang cả một chuỗi khách sạn và một hãng du lịch.
Luôn luôn mưu đồ để đạt mục đích, Leila buộc anh trai Belhassan phải ly dị vợ để cưới con gái của Hedi Jilani, chủ tịch một hiệp hội doanh nhân có nhiều ảnh hưởng. Nhưng chiến thắng của bà ta chính là gả con gái mình cho Sakhr al-Materi, thuộc dòng dõi đầy quyền lực trong giới kinh doanh Tunisia.
Al-Materi là chủ một ngân hàng và cũng sở hữu luôn Radio Mosaique – đài phát thanh tư nhân duy nhất của Tunisia. Al-Materi khi đó đang đeo đuổi một cô gái khác nhưng cô gái ấy buộc phải bỏ trốn sang Pháp sau khi bị cảnh sát khủng bố và Al-Materi trở thành con rể tổng thống. Al-Materi đã được Leila nhắm trước là người sẽ kế vị chồng bà.
Hoàng hậu nhiếp chính
Leila trở thành trung tâm thu hút bất mãn của xã hội Tunisia. Khi sức khoẻ bắt đầu suy yếu trong những năm gần đây, có tin đồn vị tổng thống bị ung thư, Ben Ali ngày càng nóng nảy và thường chỉ trích thói tham lam của nhà vợ. Nhưng quyền lực của Leila đã mạnh đến mức bà có thể ra lệnh cho các bộ trưởng.
Nicolas Beau và Catherine Graciet, hai nhà báo Pháp đã xuất bản cuốn La Regente de Carthage (tạm dịch: Hoàng hậu nhiếp chính) năm 2009 vạch trần mưu đồ quyền lực của đệ nhất phu nhân Tunisia. Theo các tác giả này, bà đã yêu cầu ngoại trưởng và trợ lý tổng thống chuyển mọi thông tin cần báo cáo cho bà để “bảo vệ sức khoẻ cho tổng thống” và bà “biết cách trình bày” với ông chồng.
Những thông tin qua bộ lọc Leila chính là nguyên nhân khiến Ben Ali không nhanh chóng nhận ra mức nghiêm trọng của tình hình Tunisia. Ngay cả khi chính quyền sụp đổ, bà vẫn nắm quyền chủ động và kịp lấy đi 1,5 tấn vàng (1/4 lượng vàng dự trữ quốc gia) từ ngân hàng Trung ương Tunisia.
Xã hội luôn luôn vận động, xuất hiện những khái niệm mới, nổi lên những vấn đề mới là trung tâm chú ý của dư luận. Theo đó, hàng loạt từ mới xuất hiện, có những từ mang hơi thở của thời cuộc.
Tâm lý chuộng lạ và khuynh hướng làm sang
Ngôn ngữ là một phương tiện thể hiện phẩm chất trí tuệ con người. Muốn khẳng định mình qua ngôn từ, không ít người thích dùng những từ mới lạ. Bởi vậy không tránh khỏi những khuynh hướng lạm dụng từ ngữ mới. Bắt đầu có từ được dùng theo cách rất lạ. Người khác thấy hay, thấy ngồ ngộ, mới lạ bèn đua nhau dùng theo, đua nhau “chưng diện” từ này trong lời nói và bài viết. Họ sử dụng chúng như là những “mốt” nói mới nhằm tô điểm cho trí tuệ.
Cuối thập kỷ 80 thế kỷ trước, trên các phương tiện truyền thông ở Liên Xô đầy rẫy từ “perestrojka” (sự cải tổ). Tiếp đó danh từ “pljuralism” (chủ nghĩa đa nguyên), một danh từ mới nhập từ tiếng Anh (pluralism), tiếng Pháp (pluralisme) thời cải tổ, xuất hiện rất nhiều. Chứng cứ cho điều này là trong quyển Từ điển tiếng Nga nổi tiếng, bản in năm 1982, của S.I. Ozhegov hoặc trong Từ điển cấu tạo từ tiếng Nga, xuất bản năm 1978 của A.N. Tikhonov đều chưa có danh từ “pljuralism”.
Sau Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuất hiện cụm từ “làm chủ tập thể”. Từng có lúc, trên các trang báo nhan nhản những “làm chủ tập thể”. Sau Đại hội VI, “làm chủ tập thể” được dùng ít dần đi; thay vào đó là “đổi mới tư duy” và “những việc cần làm ngay”. Ở thập kỷ 1970, nếu trong bài viết hoặc đăng đàn diễn giảng ai mà không nói “làm chủ tập thể” là “trình độ lý luận còn thấp”. Nửa cuối thập kỷ 1980, ở đâu cũng “đổi mới tư duy”. Không nhắc tới cụm từ này là người ta chưa yên tâm, chưa chứng tỏ mình nhạy bén và có năng lực.
Nhiều kết hợp lạ là những đặc sản xã hội, gây bất ngờ trong nhận thức và nhanh chóng thành cụm từ mới lạ. Chẳng hạn, từ “khiêm tốn” biểu thị thái độ con người. Có ai đó dùng nó để biểu thị thuộc tính. NQT viết trên báo PN: “Tôi là một người có chiều cao hơi khiêm tốn”. Thấy một kết hợp lạ hay hay, ấy thế là thành ra cái mốt “khiêm tốn”: “đồng lương khiêm tốn”, “bộ quần áo khiêm tốn”, “ngôi nhà khiêm tốn”… Trong chuyện thường ngày trên TT, ngày 24.9.1998 Bút Bi viết: “Nhớ hồi quận 3 bắt đầu dọn dẹp bia ôm, con đường kề bên uỷ ban quận này chỉ có một “nhà hàng đặc sản”. Bây giờ con đường này có vô số nhà hàng đặc sản karaoke máy lạnh, tha hồ cho các đấng mày râu đến dự thi… “bàn tay vàng”. Đọc đến đoạn này, sinh viên trường V cười nghiêng ngả. Tôi nghĩ đó là ngày sinh chính thức trên báo chí của “bàn tay vàng” (ai biết nó sinh sớm hơn xin chỉ giùm!)
Xã hội luôn luôn có khuynh hướng vay mượn từ nước ngoài, mặc dù vẫn có những từ ngữ đồng nghĩa. Vay mượn phần vì chuộng lạ, có yếu tố kích thích, bắt mắt, nhưng còn vì những từ ngữ vay mượn này phản ánh được những sắc thái mới. Trong tiếng Nga đã có từ “korennoj” (thuộc về gốc rễ, nền tảng) nhưng tiếng Nga vẫn nhập từ “radical” của tiếng Anh và Pháp để thành tính từ “radical’nyj” đồng nghĩa với “korennoj”. Và “radical’nyj” còn thêm nghĩa cấp tiến.
Người Việt cũng vậy. Báo chí TP.HCM thời nay dẫn đầu cả nước khuynh hướng “Anh hoá” nhiều từ vay mượn đã được phiên âm. Chúng ta đã từng phiên âm an-bom; chạy sô, sô diễn, sôlô; đăng-xinh; xì-tốp… nhưng hiện nay người ta thích dùng nguyên ngữ album; solo, show, live show; stop; dancing. Thậm chí, “Anh hoá” cả các từ vay mượn đã được Việt hoá: Nói bán xôn, bán xon (mượn tiếng Pháp solde) xưa rồi, phải là sale, on sale, sale off mới sang và sành điệu! Sáo ngữ: những lối mòn
Cái gì lạm dụng rồi cũng thành bình thường, nhiều quá hoá nhàm, và kết quả là lượng thông tin của từ bị giảm đi, nghĩa bị mòn đi. Những từ mới lạ trở thành sáo ngữ. Khi trung tâm chú ý của xã hội thay đổi thì sáo ngữ cũng nhanh chóng thay đổi. Rồi những từ ngữ mới khác lại xuất hiện.
Cùng thời với “đổi mới tư duy”, trong đường lối hoạch định chính sách rộ lên những từ kinh tế vĩ mô, vi mô; hộp đen; đầu vào, đầu ra… Không hiểu bản chất của một khái niệm nhưng thấy thiên hạ dùng nhiều thì cũng cố mà dùng cho có vẻ “trình độ”, “thức thời”. “Nói như lời ông Trần Đình Hoan là […] không còn quy hoạch cán bộ theo kiểu “chiếc hộp đen” như trước nữa mà thay bằng “sân chơi bình đẳng...” (TTCN, 1.6.2003). GS Hoàng Tuỵ đã phê phán sự lạm dụng từ ngữ này. Từ “hộp đen” trên báo chí ít hẳn đi, nó được trả lại đúng vị trí trong những bài viết về lý thuyết thông tin.
Lớp từ thời thượng sau Đại hội VII là kinh tế thị trường, kinh tế trang trại, cổ phần hoá… rồi những phần mềm, internet, thị trường chứng khoán, nền kinh tế tri thức… Những từ này nay trở thành bình thường. Mặc dầu từ “điện tử” đã xuất hiện từ lâu, nhưng từ năm 2002, mới nở rộ lên những “Chính phủ điện tử”, “bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn điện tử”, “công dân điện tử”, “cử tri điện tử” rồi “nghị viện điện tử cho toàn cầu”, “Quốc hội điện tử”...
Mấy từ thời thượng hiện thời
Hiện nay buôn bán phát triển nên “thương hiệu” trở thành mốt, bị lạm dụng, lan sang nhiều ngành mà ở đó không có chuyện kinh doanh buôn bán gì cả: “Bà đã giúp làm tăng thương hiệu Sarkozy”; ông đã làm nên một “thương hiệu Putin”. Những chính khách, những nguyên thủ quốc gia có buôn bán gì đâu mà thương hiệu? Trong lĩnh vực giáo dục cũng vậy. Người ta quyết tâm “xây dựng thương hiệu khoa báo chí và truyền thông”, “xây dựng thương hiệu trường chuyên X”... Nhà trường, sao phải xây dựng “thương hiệu” mà không là xây dựng “học hiệu”? Không rõ thiên hạ có dùng thương hiệu Harvard, Oxford, Cambridge không?
Gần đây nhất là những từ “tầm nhìn”, “tái cơ cấu”... Người ta hoạch định những đề án, những công trình, những chiến lược với tầm nhìn 30 năm, 40 năm… Phải có tầm nhìn 50 năm để làm đường sắt cao tốc. Rồi sách “Việt Nam tầm nhìn 2050”. Tầm nhìn nào cho khu đô thị Trung Yên Hà Nội mới xây hiện đại kiểu Pháp, sau trận mưa lớn (2008) đã biến thành sông hồ? Tầm nhìn nào cho những công trình giao thông vừa bàn giao đã xuất hiện nhiều chục “hố tử thần”?
Chúng ta đang tái cơ cấu Vinashin. Nay mai liệu có “tái cơ cấu EVN” khi tập đoàn Điện lực Việt Nam đang đứng ở “chân tường” (TT, 11.1.2011)? Và còn tái cơ cấu những gì nữa?
Một người bạn cũ của tôi sống ở Hà Nội, không may bị liệt mấy năm nay đi lại rất khó khăn. Ông nhờ tôi đến thăm một người bạn cùng chiến đấu là ông L., sống tại TPHCM, một cán bộ lão thành lừng danh, đã ngoài 90 tuổi nhưng còn minh mẫn tuy bị điếc nặng.
Vì hoàn cảnh như vậy nên cả hai đều không thể gặp hay nói chuyện qua điện thoại từ nhiều năm nay, bạn tôi muốn tôi tìm đến tận nơi thăm hỏi và thông báo tình hình hai bên. Do không rành đường đi, nên tôi thuê xe ôm đi tìm địa chỉ đã cho.
Đây là khu dân cư đông đúc thuộc một quận ngoại thành, có nhiều đường hẻm ngang dọc chằng chịt, số nhà đánh lung tung rất khó xác định. Loay hoay mãi, chúng tôi mới tìm thấy số nhà, nhưng mừng hụt vì đây không phải là nhà ở, mà là quán chơi game!
Nghĩ bạn mình đã nhớ nhầm số, tôi không truy số nhà nữa mà hỏi ông chủ quán có biết ông L. sống ở quanh đây không, ông ta lắc đầu. Tôi liền giải thích lai lịch ông L., nào là một nhân vật nổi tiếng trong cả hai cuộc kháng chiến, nào là người mà cả trong nước lẫn quốc tế đều biết tiếng khi nhắc đến tên ông… Thế nhưng, ông ta vẫn cứ một mực lắc đầu không biết, tỏ ra ái ngại đã không giúp được gì cho tôi.
Đang định quay ra, tôi sực nhớ một chi tiết, tôi hỏi chủ quán có biết “nhà ông nội của hoa hậu H.?”. Ông chủ quán chưa kịp trả lời, thì bà vợ đã lên tiếng, “Nhà ổng ở cuối đường hẻm phía sau kia kìa!”. Mừng quá, tôi vội cám ơn và bảo xe ôm đi tiếp. Nhưng để tìm được nhà ông L., chúng tôi phải dừng lại để hỏi thêm 2-3 người trong hẻm nữa. Rút kinh nghiệm lần trước, tôi không nhắc đến tên ông L., mà hỏi thẳng “nhà ông nội của hoa hậu H.”, nhờ đó cuối cùng chúng tôi đã tìm thấy nhà ông (bạn tôi đã nói sai số nhà, không phải 18, mà là 76).
Trên đường về, người lái xe ôm nói: “Nghe nói hồi xưa ông này làm lớn lắm, vậy mà ổng sống ở căn nhà quá khiêm tốn, tại khu dân cư lộn xộn như vầy. Cũng nhờ ông này có cô cháu gái nổi tiếng, nên hôm nay chúng ta mới tìm ra nhà ổng, nếu không thì bó tay rồi”.
Tôi đem chuyện này kể với mấy người bạn, thì chẳng có ai ngạc nhiên. Mọi người cho rằng trường hợp như ông L. đâu phải cá biệt, nhiều người trước kia nổi tiếng, nay chẳng còn ai biết đến nếu không nhờ danh tiếng của con cháu. Một người bạn nói, nhắc đến GS. Ngô Bảo Châu, người ta sẽ không hỏi: “Anh ấy là con cháu nhà ai?” (theo kiểu “con ông cháu cha”), mà sẽ hỏi: “Ai là bố mẹ, ông bà nội… của nhà toán học người Việt được giải Fields?” (với hàm ý “con khôn nở mặt cha mẹ ”). Nội dung câu hỏi vẫn thế, chỉ đảo vị trí chủ ngữ, thế mà ý nghĩa khác hẳn.
Vậy nên “sao đổi ngôi” là điều cần thiết. Nếu thành tựu ngày nay là nhờ công lao của các thế hệ trước, thì tương lai của các thế hệ sau sẽ tùy thuộc vào thế hệ hôm nay như thế nào. Nó giống như cuộc chạy tiếp sức, nếu chỉ có người chạy chặng đầu rồi thôi, không có người chạy tiếp theo, thì làm sao tới được đích cuối cùng? “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là một đạo lý, nhưng người ta không thể cứ ăn bám mãi vào cây quá khứ, mà phải trồng lên những cây mới.
Mặc dù các đại học hàng đầu của Trung Quốc đã được đầu tư lớn và có sự cải thiện chất lượng rõ ràng, nhưng việc xây dựng nên một môi trường học tập nơi có thể giữ lại những sinh viên "tốt nhất và sáng chói nhất" cũng như thu hút trở lại những sinh viên đã đi du học vẫn có nhiều khó khăn.
Kết quả xếp hạng năm 2010 của ĐH Giao thông Thượng Hải được công bố ngày 15/8/2010 cho thấy sự tiến bộ đáng kinh ngạc của giáo dục đại học của Trung Quốc. Chỉ trong vòng hơn nửa thập niên kể từ bảng xếp hạng này ra đời vào năm 2004, số lượng trường đại học Trung Quốc trong danh sách 500 vị trí đầu bảng đã tăng từ 16 lên 34 trường, trong đó có hai trường lần đầu tiên lọt vào danh sách 200 trường tốt nhất thế giới là ĐH Bắc Kinh và ĐH Thanh Hoa(1).
Phải chăng giáo dục đại học Trung Quốc đã có thể sánh vai với các trường đại học phương Tây? Trong bài viết ngắn của mình đăng trên tờ Inside Higher Education vào tháng 10 vừa qua, GS Philip Altbach, nhà nghiên cứu giáo dục quốc tế hàng đầu thế giới, đã cho thấy bức tranh giáo dục đại học của nước này không chỉ có những gam màu sáng. Vẫn còn khá nhiều vấn đề đang gây trở ngại sự phát triển nền đại học của Trung Quốc mà Việt Nam có thể học hỏi để tránh trong quá trình phát triển các đại học của mình.
Xin trân trọng giới thiệu bài viết này đến các độc giả.
Số liệu thống kê gần đây liên quan đến việc sinh viên Trung Quốc ồ ạt đi học ở nước ngoài cùng quan điểm của Trung Quốc về vấn đề chuyển dịch dân cư đã đặt ra những câu hỏi thú vị liên quan đến nền giáo dục đại học của Trung Quốc cả hiện tại cũng như tương lai, đặc biệt là ở trình độ ưu tú. Những con số kỷ lục sinh viên Trung Quốc tiếp tục đi học ở nước ngoài – trong đó có đến 270.000 người tự trang trải học phí và (chỉ) có khoảng 25 phần trăm trở về lại Trung Quốc, một điều thật đáng ngạc nhiên trong bối cảnh nền kinh tế của phương Tây đang suy thoái còn kinh tế Trung Quốc thì lại đang phát triển nhanh chóng (số liệu lấy từ báo cáo của Willy Lam thuộc Jamestown Foundation).
Gần 100.000 sinh viên Trung Quốc đang học tập tại Hoa Kỳ. Đồng thời, Trung Quốc cũng thu hút 240.000 sinh viên quốc tế đếm học, một con số tương đương với số sinh viên Trung Quốc đi học ở nước ngoài. Hầu hết sinh viên quốc tế tại Trung Quốc đến từ châu Á, nhưng ngày càng có nhiều sinh viên đến từ các nước phương Tây, trong đó có 18.000 sinh viên Hoa Kỳ. Hiện không có thông tin về tỷ lệ các sinh viên theo học một chương đại học so với những sinh viên chỉ đến Trung Quốc một học kỳ hoặc một năm hoặc không học.
Để khuyến khích thêm sinh viên đến học, Chính phủ Trung Quốc đã thông báo sẽ cung cấp 20.000 suất học bổng cho sinh viên quốc tế. Trung Quốc đang ngày càng trở nên quan trọng không chỉ trong việc gửi sinh viên ra nước ngoài – thực tế là nếu hai đại gia Trung Quốc và Ấn Độ giảm số sinh viên đi học nước ngoài của mình thì bộ phận giáo dục quốc tế tại hầu hết các nước xuất khẩu giáo dục lớn hiện nay hẳn sẽ rơi vào khủng hoảng; Trung Quốc còn đang trở thành một địa chỉ quan trọng để tiếp nhận sinh viên từ nước ngoài đến học nữa.
Ngoài số sinh viên đi du học, Willy Lam còn lưu ý rằng nhiều doanh nhân và các chuyên gia Trung Quốc cũng muốn theo đuổi sự nghiệp ở nước ngoài; ông khẳng định rằng họ thích môi trường minh bạch và ít yếu tố bất ngờ của môi trường xã hội mà họ tìm thấy bên ngoài Trung Quốc.
Điều này nói lên điều gì về giáo dục đại học của đất nước này? Nó cho thấy rằng mặc dù các đại học hàng đầu của Trung Quốc đã được đầu tư lớn và có sự cải thiện chất lượng rõ ràng, nhưng việc xây dựng nên một môi trường học tập nơi có thể giữ lại những sinh viên "tốt nhất và sáng chói nhất" cũng như thu hút trở lại những sinh viên đã đi du học vẫn có nhiều khó khăn. Tiền lương thấp, phải nói là mức lương thuộc hàng thấp nhất thế giới, những vấn đề liên quan đến việc tiếp cận thông tin, "giao phối cận huyết" (tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp của chính mình), những nghi ngại liên quan đến tự do học thuật ở một số lĩnh vực, và rất nhiều quan hệ cá nhân đang là trở ngại nghiêm trọng trong việc tạo ra một nền văn hóa học thuật thuộc "đẳng cấp thế giới" tương xứng cơ sở hạ tầng học tập đầy ấn tượng của các trường đại học hàng đầu của Trung Quốc hiện nay. Những báo cáo liên tục về các vụ đạo văn và các hình thức tham nhũng học thuật (tất nhiên điều này không chỉ hạn chế ở Trung Quốc) còn bổ sung thêm vào những thách thức hiện nay.
Mặc dù có những thách thức và trở ngại, Trung Quốc đang nhanh chóng trở thành một siêu cường về học thuật – các nghiên cứu đã ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ về số bài báo xuất bản trong các tạp chí khoa học từ các học giả Trung Quốc, việc tăng lên nhanh chóng số các bằng sáng chế cũng như các số đo khác khác về năng suất khoa học. Tuy nhiên như đã ghi nhận ở trên, giáo dục đại học TQ vẫn còn rất nhiều vấn đề quan trọng cần được giải quyết.
Vào một ngày mùa đông bình thường ở Siberia những năm 80 của thế kỉ trước, một ngôi sao opera, giọng baritone mới 22 tuổi, Dmitri Hvorostovsky đã biểu diễn hàng giờ liền tại một nhà máy bánh mì ở ngay chính thành phố quê hương anh – Krasnoyarsk trong nhiệt độ dưới 0. Sau bức màn sân khấu đơn sơ trong một phòng biểu diễn giá lạnh, không có cả lò sưởi, từng hơi thở cuộn lên thành những đám mây nhỏ, Hvorostovsky, bạn diễn và những nhạc công biểu diễn hàng chục trích đoạn, aria của Peter Ilyich Tchaikovsky, Giuseppe Verdi, Vincenzo Bellini… một cách say sưa đến mức không nghệ sĩ nào nhận ra rằng, hầu hết khán giả đều khóc.
Gần 20 năm sau, giữa nhà hát sang trọng, Metropolitan Opera, New York ở độ tuổi 40 và là một trong những giọng baritone xuất sắc nhất thế hệ này, Hvorostovsky đã hồi tưởng lại buổi biểu diễn năm xưa – buổi biểu diễn đáng nhớ nhất đối với anh trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật: “Những người đàn ông và phụ nữ ngồi trong khán phòng với những đôi ủng nặng nề, những chiếc áo lông thú dày cộp, họ là những người còn chưa bao giờ biết đến âm nhạc Verdi, nhưng những giọt nước mắt của họ thực sự là món quà quý giá nhất đối với tôi, còn hơn hết thảy những tràng pháo tay cổ vũ mà tôi đã từng nhận được. Liệu có nơi nào ngoài nước Nga này, cả một nhà máy ngừng làm việc giữa ngày chỉ để đến với một buổi hòa nhạc cổ điển?”
Dmitri Hvorostovsky sinh ngày 16 tháng 10 năm 1962 tại Krasnoyarsk, thuộc Siberia, Liên Xô (nay là Liên bang Nga) trong một gia đình hầu như không có truyền thống về nghệ thuật. Cha Dmitri, ông Alexandre Hvorostovsky là kĩ sư, còn mẹ bà Ludmila Hvorostovsky, là một bác sĩ phụ sản. Ông bà Hvorostovsky rất bận bịu, có rất ít thời gian gần gũi con trai. Dima (tên thuở nhỏ mà mọi người vẫn hay gọi Dmitri, ngay cả đến sau này), trải qua thời thơ ấu và trưởng thành trong vòng tay của bà ngoại, người phải hứng chịu bao nỗi đau đớn khi từng người thân trong gia đình ra đi trong suốt thời kì chiến tranh vệ quốc, nên ngay từ khi mới ngoài 20 đã bạc đầu.
Dmitri bắt đầu học nhạc khi mới 7 tuổi tại quê hương Krasnoyask nằm trên hai bờ sông Yenisey. Chính vì vị trí địa lí xa xôi, thời tiết khắc nghiệt, nên dù Krasnoyask cũng là một thành phố công nghiệp phát triển nhưng rất ít người ngoài đặt chân đến Siberia, như lời Dmitri: “Tất cả những người lạ từ nơi khác đến đều trông như người Sao Hỏa”. Tuy vậy, thời ấy, chính quyền Xôviết rất quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân vùng đất xa xôi này. Dmitri luôn trân trọng khoảng thời gian được sống, được học, được phát triển một cách toàn diện dù ở một nơi như thế: “Chính quyền Xôviết cho phép bạn được học hành đầy đủ từ A đến Z mà không phải trả một xu lẻ nào… Có một câu khẩu hiệu thế này vào những năm cuối thập niên 1970: “Hãy mang văn hóa đến với người dân Siberia” và rất nhiều tiền được đầu tư để xây dựng nhà hát, nhạc viện. Tôi chẳng thể phàn nàn được điều gì, thậm chí tôi cũng chẳng phải đi đâu xa để tiếp tục học nhạc”.
Nếu như bà ngoại là người ảnh hưởng nhất đến tính cách và thế giới tâm hồn của Dmitri thì cha anh, ông Alexandre lại là người đầu tiên hướng Dmitri vào con đường nghệ thuật. Ông là một người rất đam mê âm nhạc, ông từng có mơ ước cháy bỏng được trở thành một nghệ sĩ biểu diễn, nhưng cuộc sống đã đưa ông đến với nghề kĩ sư. Chính vì điều đó, ông muốn Dmitri sẽ trở thành một nghệ sĩ piano tài năng. Dù vậy, cậu bé Dima ngỗ nghịch, cứng đầu chẳng tỏ ra chút gì có năng khiếu cũng như đam mê với nghệ thuật. Thậm chí sau khi tốt nghiệp cấp 2 trường nhạc, Dmitri còn thường xuyên giao du với những thanh niên đường phố hư hỏng, đánh nhau, gây gổ. Cậu “bắt đầu biết uống Vodka từ năm 13 tuổi, còn mũi thì hàng tá lần bị gãy” sau những trận đánh nhau và tụ tập.
Thứ gần gũi với nghệ thuật nhất đối với Dmitri lúc ấy là những bản nhạc Jazz, Rock nổi loạn của những nghệ sĩ như Louis Amstrong, Freddie Mecury hay Led Zeppelin, Deep Purple… Năm 16 tuổi, Dmitri được bố khuyên vào trường Cao đẳng sư phạm Krasnoyarsk, học về chỉ huy hợp xướng. Trong thời gian tiếp xúc và hướng dẫn các bạn trong đội hợp xướng, Dmitri khám phá ra giọng hát bẩm sinh của mình, giờ đây, Dmitri đã biết mình cần phải theo đuổi cái gì.
Sau khi tốt nghiệp về chỉ huy hợp xướng, Dmitri quyết định thi vào Học viện Nghệ thuật Krasnoyarsk chuyên ngành thanh nhạc dưới sự hướng dẫn của giáo sư giàu kinh nghiệm Ekaterina Yoffel - một giảng viên tận tụy và có kiến thức uyên bác, hơn nữa bà còn là một người “mạnh mẽ, độc đoán, nghiêm khắc đến cay nghiệt, luôn tỏ ra hoài nghi nhưng lại rất chân thành”. Lúc mới học, Dmitri bộc lộ một giọng tenor vang, dày, nhưng càng học, âm vực lại càng mở rộng về khu trung, trầm, Yoffel quyết định hướng Dmitri sang giọng baritone trữ tình. Bà cũng là người dạy Dmitri những kiến thức cơ bản và khoa học nhất về nghệ thuật sử dụng và điều phối hơi thở, cũng như việc phát triển cơ hoành và lồng ngực.
Dmitri rất tự tin ở thế mạnh này, chỉ với một hơi thở căng đầy, cơ hoành của anh khỏe đến mức có thể đẩy lùi cả một chiếc piano cỡ lớn dọc căn phòng, điều khiến chúng ta liên tưởng đến huyền thoại Enrico Caruso. Dmitri nói: “Yoffel dạy tôi không chỉ sử dụng cái đầu trong ca hát mà phải bằng cả trái tim. Với bà, mỗi một nốt nhạc đều biểu lộ một điều gì đó”. Dmitri luôn thể hiện vai diễn với những cảm xúc mãnh liệt nhất, điều này anh được học từ chính Yoffel, bà chịu ảnh hưởng phương pháp diễn xuất của đạo diễn sân khấu Liên Xô tài năng Stanislavsky. Với mỗi lần tổng duyệt trong các vở opera bi kịch của Verdi, Tchaikovsky, Dmitri đều phải cố gắng, tự kiềm chế bản thân để ngăn những giọt nước mắt xúc cảm, và truyền những cảm xúc ấy vào những đoạn nhạc đẹp đẽ mà vẫn đúng kĩ thuật”.
Có một điều mà Yoffel không thể truyền đạt được cho Dmitri, đó là nghệ thuật hát theo truyền thống Bel canto Ý, nghệ thuật hát đòi hỏi những kĩ thuật chạy nốt, lướt nốt hoa mĩ, biến ảo, kĩ năng nhả chữ hiệu quả trong những đoạn nhạc phong phú, đề cao âm nhạc và âm thanh hoàn hảo của giọng hát. Phong cách Bel canto dường như bị thất sủng ở Liên Xô trong thời kì Stalin vì có ý kiến cho rằng nó mang nhiều tính chất nguy hiểm của “chủ nghĩa thế giới” và ngay chính một giảng viên tài năng với kiến thức uyên bác như Yoffel cũng không nắm rõ điểm mấu chốt của phương pháp luyên tập bel canto.
Chính Dmitri đã tự khám phá và tìm tòi để chinh phục mảng âm nhạc hấp dẫn và rất được yêu thích trên thế giới này. Thật may mắn, Dmitri tìm gặp được một người đàn ông già và có vẻ lập dị trong thị trấn ở Krasnoyarsk. Ông ta là một người hâm mộ opera một cách cuồng nhiệt, sống trong một căn hộ một phòng, chất đầy đĩa nhạc opera đến nỗi “không còn chỗ để đứng hay ngồi”. Từ đây, Dmitri đã biết đến và học hỏi miệt mài ở những nghệ sĩ tài năng của Ý như Mattia Battistini, Giuseppe de Luca, Ettore Bastianini và đặc biệt là giọng baritone người Armenia - Pavel Lisitsian, người hiếm hoi theo đuổi phong cách hát bel canto tại Liên Xô. Lisitsian là người mà Dmitri coi là thần tượng thực sự của mình trong suốt cuộc đời.
Sau khi tốt nghiệp, Dmitri tham gia nhà hát Opera Krasnoyarsk và tham gia hàng loạt các cuộc thi thanh nhạc uy tín trong và ngoài nước và đều giành được giải nhất. Đặc biệt năm 1989 dưới sự tiến cử của Irina Arkhipova, Dmitri đã tham gia cuộc thi thanh nhạc cổ điển danh tiếng nhất thế giới lúc này “Cardiff – singer of the world”. Times đã giành cho anh những lời có cánh: “Đi tới, hát, giành chiến thắng”. Trên thực tế, không phải dễ dàng mà Dmitri có thể giành được giải thưởng lớn. Năm ấy, tham gia Cardiff cũng có 1 giọng bass-baritone cao lớn trẻ tuổi đến từ Welsh, Bryn Terfel. Cuộc chạm trán đầu tiên của họ hầu như không thể quên được đối với họ cũng như đối với những thính giả, nó đã được miêu tả là “Cuộc chiến của những Baritone”.
“Cả hai chúng tôi đều còn rất trẻ và đầy sức sống”, Hvorostovsky mỉm cười thuật lại, “Tôi lớn hơn Bryn vài tuổi và tôi vừa thắng hai cuộc thi quan trọng, tại Nga và tại Pháp. Tôi đến với Cardiff và không bao giờ hồ nghi rằng tôi sắp sửa chiến thắng. Rắc rối ở chỗ tôi đã không có một cái áo đuôi tôm, do đó tôi đã mượn tiền để mua cho mình một bộ đổi lấy số tiền tôi mong sẽ có khi thắng giải nhất!... Cho đến một ít phút trước khi tôi phải hát vòng chung kết, khi tôi nghe giọng ca khỏe mạnh của Bryn và nhìn thấy phản ứng của khán giả. Tôi nghĩ. Ồ không! Thôi rồi, có lẽ mình chỉ đạt hạng 3 thôi… Bryn thực sự tỏa sáng, giọng đẹp và nhả chữ thật tuyệt vời, những điều này hầu như hạ gục tôi. Nhưng Verdi đã mang chiến thắng cho tôi. Tôi đã hát cảnh cái chết của Rodrigo trong Don Carlo, nó đã trở thành thương hiệu của tôi hai năm trước".
Hvorostovsky đã đoạt giải thưởng lớn và BGK đành phải thêm hạng mục “ca sĩ hát thính phòng hay nhất” cho Bryn Terfel như một giải thưởng an ủi.
Từ sau chiến thắng vinh quang tại cuộc thi, con đường nghệ thuật rộng thênh thang mở ra trước mắt anh. Dmitri Hvorostovsky, giọng baritone vô danh đến từ Siberia xa xôi, chỉ sau một đêm đã được các hãng thu âm uy tín rào đón, được mời hát ở hầu hết tất cả những nhà hát opera nổi tiếng của thế giới. Ngoài ra, anh còn liên tiếp được phong tặng danh hiệu, giải thưởng tại quê hương như: Nghệ sĩ công huân vào năm 1990, giải thưởng Quốc gia năm 1991, nghệ sĩ Nhân dân của Liên bang Nga vào năm 1995.
Với thế mạnh là giọng baritone trữ tình dày, đẹp, kĩ thuật hoàn hảo, khả năng diễn xuất tinh tế, giàu cảm xúc và một ngoại hình cuốn hút sân khấu, trong dáng vẻ vạm vỡ, khuôn mặt điển trai cùng mái tóc bạch kim lãng tử, Dmitri đã chinh phúc khán giả ở tất cả những nhà hát danh tiếng nhất thế giới với hơn 30 vai diễn trong opera Tchaikovsky, Sergei Profokiev, Wolfgang Amadeus Mozart, Rossini… và đặc biệt là Verdi như Onegin (Eugene Onegin), Công tước Andrei (War and Pearce), Figaro (Il barbiere di Siviglia), Don Giovanni và Leporello (Don Giovanni), Figaro (Le nozze di Figaro), Rodrigo (Don Carlo), Renato (Un ballo in maschera), Francesco (I Masnadieri), Germon (La Traviata), Rigoletto (Rigoletto)...
Từ năm 1989, khán giả của các nhà hát opera danh tiếng đã được thưởng thức giọng ca tuyệt đẹp của Hvorostovsky. Những chuyến lưu diễn dài trên thế giới từ Royal Convent Garden, Teatro alla Scala, Bavarian State Opera, Berlin State Opera, Vienna State Opera, Teatro Colon… dần khẳng định tên tuổi và vị trí của Hvorostovsky trên sân khấu opera quốc tế - một trong những giọng baritone trẻ tài năng nhất trong những năm cuối cùng của thế kỉ và dường như không có đối thủ trong những vai diễn opera Verdi.
Không chỉ với opera, Hvorostovsky cũng rất quan tâm đến mảng âm nhạc thính phòng. Từ những romance, ca khúc nghệ thuật của Maurice Ravel, Georges Bizet cho đến những tác phẩm của những nhà soạn nhạc dân tộc như Tchaikovsky, Anton Rubinstein, Sergei Rachmaninov, Alexander Borodin, Modest Mussorgsky… và đặc biệt là Gyorgy Svidrov – nhà soạn nhạc Nga hiện đại mà Hvorostovsky luôn ca ngợi là “học trò xuất sắc nhất của Dmitri Shostakovich”.
Theo nhận xét của Valery Gergev: “Dmitri thực sự được trưởng thành từ nền văn hóa Nga, được nuôi dưỡng từ nguồn vitamin dồi dào của Nga. Nó giống như những cầu thủ bóng đá Brazil thi đấu trong những câu lạc bộ của Milan, họ không trở thành người Ý mà luôn giữ trong mình chất Brazil mỗi khi chơi bóng”. Hvorostovsky luôn giữ một tình yêu nồng nàn không hề phai nhạt hướng về quê hương Nga yêu dấu, dù ở bất cứ nơi đâu. Bên cạnh những tác phẩm âm nhạc cổ điển, Dmitri còn biểu diễn, thu âm nhiều ca khúc dân ca và đặc biêt là những ca khúc nhạc cách mạng tiêu biểu trong thời kì chiến tranh Vệ quốc. “Kachiusa”, “Chiều hải cảng”, “Chiều Moscow”, “Giờ này anh ở đâu”, “Cánh đồng Nga”… những ca khúc đã gắn liền với một thời kì lịch sử hào hùng và bi tráng của đất nước Nga. 2 album best-seller thu âm những ca khúc cách mạng “Giờ này anh ở đâu”và “Chiều Moscow” nhanh chóng trở thành hiện tượng không chỉ ở Nga và còn được đón nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới. Báo chí Mỹ đã không tiếc lời ca ngợi với những cái tít thật ấn tượng: “Âm nhạc của người Mẹ Nga và baritone của bà”.
Tháng 5 năm 2004, Hvorostovsky trở thành ca sĩ đầu tiên tổ chức một buổi hoà nhạc với dàn nhạc và dàn hợp xướng tại quảng trường Đỏ và được truyền hình trực tiếp đến 25 quốc gia. Năm 2005, dưới lời mời của Tổng thống Nga Vladimir Putin, Hvorostovsky thực hiện một buổi biểu diễn lịch sử trước hàng trăm nghìn người để tưởng niệm những chiến sĩ đã anh dũng hi sinh trong suốt cuộc chiến tranh Vệ quốc.