Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Anh Thái. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hồ Anh Thái. Hiển thị tất cả bài đăng

12/6/12

PHẢI CÓ DANH GÌ...



Nhưng bây giờ trở lại với cái danh thiếp. Lâu nay công dân mạng truyền nhau một số danh thiếp khủng. Xuýt xoa truyền. Rinh rích truyền. Sằng sặc truyền. Đúng là danh thiếp khủng. Chi chít chữ. Dày đặc chữ. Chen chúc chữ. Kể cả nới rộng khuôn khổ cũng không đủ chỗ để mà ghi cho hết các chức danh. 

1. Lâu lâu rồi, tôi có lần nhìn thấy cái danh thiếp của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Đơn giản, sơ sài, chẳng có dụng ý thiết kế gì, chắc là anh đặt cơ sở in nào đó in cho đủ cái tên, địa chỉ, số điện thoại, tức là đủ nội dung cho một cái danh thiếp. Người ta in cho thế nào thì anh nhận thế, dùng thế. 

Đấy là lần anh Thiệp và tôi được mời sang Đan Mạch dự một cái liên hoan văn hóa gọi là Hình ảnh châu Á (Image of Asia), sau đó đi tiếp sang Thụy Điển dự Hội chợ sách Quốc tế Gothenburg, thực hiện vài buổi đọc sách trước công chúng. Có một lúc đã xong việc, ngồi chuyện trò hai người với nhau, anh Thiệp đưa cho tôi cái các để khi về Hà Nội còn liên lạc mà gặp lại. Cái các chỉ ghi:

NGUYỄN HUY THIỆP
Nhà văn

Tôi nhìn cái các và nói: Trong này thừa chữ nhà văn. Tôi nghĩ, cái người ta cần thì đã đủ: tên người, số nhà số điện thoại, địa chỉ email. Không cần gì thêm. Người trong giới chỉ nhìn tên, biết đấy là nhà văn. Người không biết đến anh thì có ghi thêm chữ “nhà văn” vào đấy cũng chẳng ý nghĩa gì. Anh Thiệp nghe. Gật gù. Ừ, đúng.

Nhân nói về Nguyễn Huy Thiệp, lan man sang một chuyện liên quan. Tôi quen biết một vài anh em trẻ làm báo, tốt nghiệp báo chí ra hẳn hoi, một lần tôi nhắc đến truyện của Nguyễn Huy Thiệp thì hóa ra các cậu không biết nhà văn danh tiếng là ai. Ngạc nhiên chưa? Ờ, có thể ngạc nhiên với bạn và tôi, nhưng đời sống thì không ngạc nhiên. Đời sống luôn có những điều mà chúng ta không ngờ, và đời sống có thể thiếu những điều mà chúng ta biết, biết rành mạch.

Có lần một nữ phóng viên đi họp báo về, hỏi tôi: Nữ nhà văn XYZ viết gì hả anh? Tôi kể tên một vài tác phẩm của chị, một cây bút rất hoạt ngôn nhưng khi viết thì không hoạt không đặc sắc như khi nói. Nhà báo trẻ tất nhiên là chưa đọc XYZ cho nên mới hỏi như trên. Cô kể: Hôm nay em họp báo ngồi cạnh chị ấy, em hỏi xin lỗi chị là ai, chị ấy giơ một ngón tay, bảo: Bạn đừng giật mình nhé.

Để giữ trật tự, chị ấy lấy bút viết vào sổ tay của chị mấy chữ: nhà văn XYZ, chìa sang cho em xem.

Cô nhà báo trẻ mỉm cười lịch sự. Lịch sự thôi, tất nhiên là cô không có gì phải giật mình. Cô đâu biết chị là ai.

Ảo tưởng. Không chỉ là nữ văn sĩ vừa nhắc mà ngay cả một số cây bút trẻ mới in đôi ba cuốn sách bây giờ cũng luôn ảo tưởng mình đang ở độ xinh thời và văn thời, ý nói là thời mình đang xinh đẹp và thời mình đang nổi bằng văn. Họ quên mất rằng văn chương đang trở thành một chuyên môn hẹp, chỉ có người trong giới và số người đọc văn quan tâm mà thôi. Người sành văn đương đại và chịu khó cập nhật văn chương là giới trí thức trẻ, thậm chí giới làm khoa học tự nhiên. Một nhà văn danh tiếng lắm cũng không thể so sánh với sự nổi tiếng của một người mẫu hoặc một ca sĩ hạng hai. Không so bì và không hề chua chát, đấy là sự thật. Hãy bình thản mà nhìn nhận sự thật này. Nhà văn nên lấy làm hãnh diện về cái danh trầm tĩnh không ồn ào của mình. Nhà văn mà cũng sặc sỡ như một nghệ sĩ biểu diễn thì, thú thật, có một cái gì đó đáng nghi ngại trong văn chương của ông ta.

2. Nhưng bây giờ trở lại với cái danh thiếp. Lâu nay công dân mạng truyền nhau một số danh thiếp khủng. Xuýt xoa truyền. Rinh rích truyền. Sằng sặc truyền. Đúng là danh thiếp khủng. Chi chít chữ. Dày đặc chữ. Chen chúc chữ. Kể cả nới rộng khuôn khổ cũng không đủ chỗ để mà ghi cho hết các chức danh. Một bác sĩ, tiến sĩ, nhà thơ, nhà làm luật. Một nhà khoa học có cả chức danh trong hội đoàn kết các dân tộc và các hội nghệ sĩ, tức là khoa học có dan díu với văn nghệ. Một chức sắc tôn giáo (Nam Mô A Di Đà Phật) đếm ra có đến chín chức danh.

Xin lấy cái danh thiếp số một làm ví dụ. Mỗi chức danh trong cái danh thiếp là nhằm vào các đối tượng sau:
- Chức danh bác sĩ là giơ ra với lực sĩ cử tạ có thể bẻ ngà voi.
- Tiến sĩ là với sinh viên mới nhập học.
- Nhà thơ là với nhà toán học, vật lý học vân vân.
- Nhà làm luật là với người hay lái xe vượt đèn đỏ.

Tức là đối tượng nào cũng nhặt ra được  cho mình trong cái rổ thóc trộn gạo của cô Tấm một hạt có ý nghĩa, hoặc là phản ý nghĩa. Công bằng. Không ai ra về tay trắng.

Trăm bó đuốc cũng bắt được một con ếch. Xả một băng đạn liên thanh sao cũng trúng một viên.

Nhưng mà xáo tung cái đống vừa gạo vừa trấu vừa thóc ấy lên thì cũng oan gia. Người tai biến cần cấp cứu thì chỉ nhìn thấy chữ nhà thơ. Ông cắt đường vượt đèn đỏ thì thấy danh tiến sĩ. Nghĩa là chúng sinh sẽ bị tẩu hỏa nhập ma. Chỉ có chủ nhân danh thiếp là ngồi rung đùi nhấm nháp khoái cảm về sự đa tài đa diện đa năng đa phương tiện của mình. Ông không biết rằng trong cái nồi lẩu kia, người ta chỉ thấy cái ông làm thơ giỏi nhất trong đám bác sĩ, nhà làm luật giỏi nhất trong đám nhà thơ, người chữa bệnh giỏi nhất trong các nhà làm luật… chỉ riêng những danh hiệu ấy bản thân nó đã hàm ý tính thiếu chuyên nghiệp, chưa nói là gây cười, sau đó là gây nghi ngại.

Cái danh thiếp có một chức năng là xã giao. Xã giao gì khi vừa gặp mặt, anh đã tuôn một tràng xối xả, khiến đối tượng tối tăm mặt mũi. Một đòn đánh phủ đầu thị uy. Một đòn cân não nhằm gây ấn tượng khiếp nhược và quy phục hoàn toàn. Có thật thế không? Hay là chỉ gây ra sự nực cười phải kìm nén trong lòng? Xã giao đã biến thành phản xã giao.

Khi làm biên tập, tôi thường gạch những thứ chức danh mà tác giả cố tình ghi trước tên mình: GSTS, NSƯT, nhà văn… Những thứ ấy chỉ có nghĩa khi tiến sĩ nông nghiệp viết bài về nuôi trồng chẳng hạn, để tăng thêm độ tin cậy chuyên môn. Còn giáo sư điều khiển học viết về thơ ca thì cũng chỉ có tính tham khảo, và giáo sư cũng sẽ bình đẳng như một người lái xe viết bài về thơ. Đứng trước người đọc báo, không cần chức danh bằng cấp trái ngành nghề, chỉ cần bài viết có sức thuyết phục.

Cái danh thiếp thực hiện chức năng xã giao thay cho chủ nhân. Khi hai đối tượng giáp mặt, phép lịch sự bao giờ cũng là phải xưng tên mình, trước khi hỏi tên người đối thoại. Vậy ta cũng phải đưa cái các của mình trước, rồi mới mong đối tượng đáp lễ bằng danh thiếp của họ. Nghi thức đối ngoại có khi còn dẫn đến chi tiết này: khi đưa danh thiếp trực tiếp (tức là không phải thông qua thư ký, hay gửi qua bưu điện) người ta gập nhẹ góc trên, bên trái, của danh thiếp, rồi trả nó gần về vị trí cũ.

Băn khoăn: những danh thiếp đầy tràn chức danh chắc không có chỗ để gập góc kiểu này.

Cái danh thiếp đôi khi phải làm những việc lời ít ý nhiều. Sau khi được mời chiêu đãi, ta muốn gửi lời cảm ơn mà không phải viết một bức thư? Đơn giản: gửi một cái danh thiếp của mình qua thư ký, qua người lái xe, qua bưu điện. Ghi vào khoảng trống bên dưới các hai chữ viết tắt: p.r. (pour remercier, xin cảm ơn). Một lời chia buồn từ nơi xa, mà không thể nói lên hết bằng lời? Sẽ là hai chữ viết tắt: p.c. (pour condoléances, để chia buồn). Mà chữ viết tắt theo đúng phép xã giao phải viết bằng bút chì.

Nhắc lại một tí để thấy rằng cái danh thiếp là đại diện cho một con người, là gương mặt của chủ nhân, là danh dự và tính cách của chủ nhân. Danh thiếp giúp cho người ta không nói sai viết sai tên người khác, thà không nhắc tên chứ đã nhắc mà sai tên người ta là điều tối kỵ. Danh thiếp không phải chỉ có một chức năng là phô trương về chủ nhân. Không chỉ tuyên truyền quảng cáo, đánh bóng tên tuổi hoặc pi a. Nhưng ở chỗ này, cách thức xã giao này, là nhằm vào đối ngoại. Còn ta với ta, không khéo lại trở thành một thứ Tây An Nam.

3. Những cái các phải oằn lưng vác đầy chức danh cho chủ, chung quy chỉ tại cái truyền thống phải có danh gì với núi sông. Thời xưa, đi học chỉ có mục tiêu lớn nhất là đỗ đạt làm quan. Đỗ đạt đi cùng với được thăng quan tiến chức, cưỡi ngựa vinh quy. Được vời vào triều, vua biết mặt chúa biết tên.

Vậy mà người có chút danh rồi, có khi vẫn còn mặc cảm, sợ người đời không biết, cứ phải tự pi a tuyên truyền quảng cáo. Không từ bỏ bất cứ một cơ hội nào, không chịu buông tha bất cứ một đối tượng nào. Cái danh thiếp cũng có một cái lý như thế.

Rồi cũng trong một cái cơ chế kiêm nhiệm nhiều, mỗi người kiêm vài ba chức vụ nữa, mỗi người làm hội viên của dăm ba tổ chức đoàn thể. Một thạc sĩ văn hóa quần chúng có thể là ủy viên ban chấp hành một hội hữu nghị, tham gia thêm hội bơi lội và hội nuôi ong, là giám đốc của công ty xuất nhập khẩu thủy sản. Hội hè quần chúng thì ai có hứng có sức cứ việc tham gia, nhiều cũng được. Nhưng công tác quản lý các cơ quan nhà nước thì kiêm nhiệm là hình thức tập quyền thiếu hiệu quả. Đời thiếu gì người có năng lực, nhân tài như lá mùa xuân, khai thác chưa hết, sử dụng chưa hết, động viên chưa hết, sao cứ dồn trút nhiều cương vị, nhiều chức danh cho một người. Hạ cánh an toàn chỗ này thì lập tức cất cánh mạo hiểm ở ngay đường băng bên cạnh. Thời nay, khó mà có những người đa tài như Leonardo da Vinci. Bản thân mỗi ngành lại chia ra làm nhiều nhánh, kiến thức của mỗi ngành mỗi nhánh quá nhiều, đến mức cả đời người chuyên sâu một việc cũng không tiếp nhận và khai thác cho hết được. Đa tài chỉ là một ảo tưởng. Đa tài rất nhiều khi chỉ đồng nghĩa với chuồn chuồn đạp nước khơi khơi. Một thứ ông/bà Biết Tuốt, Mr/Ms. Know-All.

Cái danh thiếp số hai nêu ở trên nhắc nhớ đến chuyện nhà khoa học đã tham gia phát hiện ra một pho tượng cổ bị lãng quên trong một ngôi chùa. Bây giờ bạn hãy đến thăm ngôi chùa ấy mà xem. Một tấm bảng gỗ, chữ viết bằng sơn đỏ, kể rằng ngày ấy tháng ấy chúng tôi đến chùa và phát hiện ra pho tượng này trong chính điện. Lúc ấy không ai biết là tượng của ai, chất liệu gì, được tạo tác theo phương pháp nào. Chúng tôi đã dùng nhiều hình thức khảo cổ, truyền thống và tinh vi hiện đại, để giám định, xác định, khẳng định. Vân vân và vân vân. Nội dung chỉnh. Không có lỗi chính tả.

Chỉ có một điều.

Ở góc dưới tấm bảng, phía bên phải, nhà khoa học đã giắt vào đấy tấm ảnh chân dung của mình. Ảnh ép pờ lát tích hẳn hoi, nhân vật com lê cờ ra vát hẳn hoi. Cười tươi hẳn hoi.

Mỗi tội, cái bảng nội dung không còn chỗ để dán tấm ảnh vào. Nhà khoa học cũng mặc cảm sợ người đời không biết mặt mình. Thế là đành giắt tấm ảnh vào góc. Dưới cùng. Bên phải. Đôi khi gió thổi, cái ảnh ép pờ lát tích rung lật phật.

Bây giờ trở lại ngôi chùa ấy, đọc cái bảng ấy, bạn vẫn thấy tấm ảnh ấy, ở đúng chỗ ấy.
Hồ Anh Thái

18/4/11

NGOẠI ẤM NỘI LẠNH



(Trích truyện ngắn của HỒ ANH THÁI)

Ông nhà văn là một người bạn khác của tôi. Thời chiến, ông đi lính sang Việt Nam mười tám tháng, và khi trở về Mỹ ông viết sách chống chiến tranh. Thế rồi cách đây dăm năm, một cựu binh Mỹ tìm đến nhà văn kể câu chuyện của mình. Gần bốn mươi năm trước, người ấy đã bắn chết một chiến sĩ của quân đội nhân dân Việt Nam trong một cuộc chạm trán bất ngờ. Anh ta mang cuốn sổ tay của người lính Việt về Mỹ, cất giữ từ bấy đến nay, bây giờ nhờ nhà văn mang sang Việt Nam trả lại.

Cuộc tìm kiếm gia đình người lính Việt Nam, sau đó là việc đi tìm hài cốt người lính Việt ở nơi chiến trường xưa đã được nhà văn kể lại trong cuốn sách mới nhất của ông. Đám bạn bè Việt chúng tôi cho rằng ông không nên trực tiếp gặp gia đình liệt sĩ. Ông có thể nhờ hội cựu chiến binh chuyển giúp.

Không ai có thể nói trước gia đình liệt sĩ sẽ phản ứng thế nào trước một người đến từ đất nước đã gây ra chiến tranh và giết chết con em mình. Kẻ sát nhân có thể khuất mắt đâu đó. Đằng này hắn ta sẽ hiện diện ngay trong nhà người bị giết. Mặc dù nhà văn chỉ là người đem trả giúp cuốn sổ, nhưng điều đó có thể gây tổn thương trầm trọng cho gia đình.

Đời sống thực có thể làm nên những chuyện lạ lùng. Và kỳ diệu. Nhà văn mang cuốn sổ tìm về quê hương của người đã chết, trả lại cho gia đình. Ba năm sau, ông thu xếp cho người cựu binh Mỹ kia trực tiếp đến. Gia đình người đã hi sinh cho phép kẻ giết con em mình đến. Sau đó lại cho phép đi cùng gia đình lên Tây nguyên tìm mộ liệt sĩ và đưa hài cốt anh về quê.

Khi hai người Mỹ đến làng, dân làng đội khăn tang, đổ ra khóc như làm tang cho một người vừa mới chết hôm qua. Người vợ của liệt sĩ, bây giờ đã đi bước nữa, cũng trở về chịu tang. Anh cưới chị mới được có bốn ngày thì lên đường chiến đấu, rồi không bao giờ trở về nữa.

Gia đình liệt sĩ không hài lòng với người vợ của anh. Đến giờ họ vẫn còn lạnh lẽo với chị. Dạo anh mới nhập ngũ, có lần đơn vị anh đóng không xa. Gia đình gợi ý chị lên thăm chồng, hi vọng chuyến ấy chị sẽ có thai. Đã thúc giục hẳn hoi. Nếu hồi ấy chị đi thăm chồng thì biết đâu bây giờ giọt máu của anh vẫn còn lại với gia đình.

Nhà văn Mỹ có hỏi chuyện chị, bây giờ đã là một người đàn bà hơn sáu mươi tuổi. Lúc cưới nhau, cả hai anh chị mới mười tám. Mới hẹn hò nhau vài ba lần, mới chỉ dám hôn nhau mỗi một lần phía sau cái miếu thành hoàng làng mà đã có người nhìn thấy. Tin đồn lan khắp làng là đôi ấy thế nào cũng phải lấy nhau. Một đồn mười, mười đồn trăm thế nào mà ra chuyện hai anh chị đã ăn cơm trước kẻng, đã hủ hóa với nhau rồi. Thành ra cưới cho anh lên đường nhập ngũ mà như là cưới chạy.

Mấy tháng sau nghe tin đơn vị anh chuyển về đồng bằng. Một chị bạn cùng làng lên đấy thăm chồng về kể chuyện rộn ràng cả lên. Chị ấy một mình đạp xe tám chục cây số lên thăm chồng. Đơn vị có khu nhà tạm dành cho khách hẳn hoi. Khách nào đâu, toàn là vợ lính. Hầu hết toàn chị sồn sồn cưng cứng cả rồi. Mỗi cặp được phân cho một buồng. Buổi tối, chồng ra đấy gặp vợ mà tranh thủ. Tranh thủ. Ngôn ngữ lính thời chiến đấy. Có cả chú lính chưa tròn mười tám, lần đầu hoảng cả lên, nửa đêm phải chạy sang đập cửa nhờ đồng đội chỉ vẽ. Đồng đội ở phòng bên cạnh thì đã có hai con, gái cả, lần này hi vọng vợ lên sẽ có thằng cu.

Nghe chị bạn tả mà khiếp. Cả một dãy nhà khách suốt đêm giường chiếu cứ cót két cọt kẹt râm ran. Mình mà lên đấy, nữ thanh niên mười tám tuổi, nhìn mặt là người ta đã biết lên để xin con. Thì con chồng mình chứ con ai, nhưng thanh niên thời đại mới xã hội chủ nghĩa, nó vẫn cứ thế nào. Chị tự bảo thôi, để hôm nào đấy anh ấy về nghỉ sẽ tranh thủ. Tranh thủ. Lúc ấy thì tha hồ mà con.

Nhưng anh không có dịp nào tranh thủ. Anh đi luôn. Gia đình anh bốn chục năm qua vẫn như là hờn trách chị.

Nhà văn Mỹ sau đó có nói lại chuyện của chị với mấy anh chị em của người liệt sĩ. Bữa giỗ cải táng hài cốt liệt sĩ trở thành bữa cơm hòa giải. Nghĩ mà thương lắm chị dâu, một anh đọc câu thơ (*). Mấy anh em gọi, chị dâu ơi, đàn bà không uống rượu, nhưng chị lên đây nhấp với linh hồn anh, nhấp với chúng em một chút. Chén cay chén đắng chén ngọt chén bùi.

Chuyện thế là có hậu. Nhưng về sau ông nhà văn vẫn đôi lúc băn khoăn tự hỏi. Tại sao? Gia đình liệt sĩ đã có thể bỏ qua hận thù, tha thứ cho người lính Mỹ đã bắn chết con em họ. Vậy mà tại sao mấy thập kỷ họ không thể xua đi sự lạnh lẽo với người vợ của anh?

Nhiều khi giữa đồng bào với nhau lại không hề dễ dàng như dàn xếp với bên ngoài. Có hai ông người Việt định cư ở Mỹ đã lâu, nhất định không nhìn mặt nhau, ác cái họ đều là bạn tốt của nhà văn Mỹ, phải nhờ đến ông Mỹ làm trung gian. Cái sự không dễ với nhau ấy có phải là một trong những điều dai dẳng nhất mà đám ngoại bang đã để lại ở nơi chiến trường xưa.
____

(*) Nghĩ mà thương lắm chị dâu/ Chiều mưa, gạo hết, mẹ đau cuối giường (thơ Vương Trọng, trong bài Chị dâu)

Minh họa của Hoàng Tường

Xem toàn bộ truyện ngắn tại đây



18/2/10

NHỮNG KHOẢNG LẶNG



(Tiểu luận của Hồ Anh Thái)

Một nghệ sĩ châu Âu vào vai Hamlet. Vị hoàng tử Đan Mạch cầm trên tay một cuốn sách, nhìn vào trang giấy mà không đọc, đọc mà không hiểu trong ấy viết gì. Tâm trí chàng đang ngổn ngang xáo trộn. To be or not to be? Tồn tại hay không tồn tại? Sống hay không sống? Quyết liệt hơn, báo thù hay không báo thù? Cuốn sách trên tay không còn là cái để đọc nữa. Ta đang suy tư những chuyện sống còn. Thế mà vẫn có người hỏi. What do you read, my lord? Hoàng tử đọc gì vậy?

Hamlet đã lặp lại đúng ba lần một ý:

- Chữ, chữ, chữ.

Một nghệ sĩ tầm tầm chỉ cần đọc một hơi ba lần ấy là hoàn thành câu thoại. Words, words, words.

Nhưng nghệ sĩ lớn mà ta đang nhắc đến đã cắt câu thoại ra làm ba, cứ giữa hai lần là một khoảng lặng. Hoàng tử đọc gì vậy?

Hamlet im lặng nhìn người hỏi. Một lát. Rồi hơi giật mình như thể đến bây giờ mới hiểu câu hỏi. Chàng nhếch mép, hỏi gì mà lạ nhỉ? Nhưng chàng vẫn khẽ trả lời.

- Chữ.

Rồi chàng nhìn xuống trang sách. Đọc lại vài dòng chữ nãy giờ mình đã đọc mà không tập trung, không hiểu. Đến bây giờ chàng mới nhận ra mấy dòng chữ ấy. Lẩm bẩm như tự nói với mình.

- Chữ.

Chậm rãi, chàng đưa mắt nhìn lên bao quát toàn bộ khán giả ở trước mặt, rồi trầm giọng. Lần này là một sự khẳng định khi tri giác đã trở lại. Chỉ có chữ mà thôi. Những lời suông.

- Chữ.

Smoktunovsky vai Hamlet

Xin hãy đếm lại mà xem. Chỉ có một ý, lặp lại ba lần, nghệ sĩ lớn không ai đọc thuộc lòng mấy chữ ngắn ngủi liền một mạch, mà đã cắt nó ra làm ba khoảng lặng. Cả nhà hát chìm trong im lặng. Băn khoăn. Ngỡ ngàng. Thậm chí tê tái.

Trên sân khấu, đó là khoảng lặng chết người. Chẳng chết ai đâu. Chỉ là cách ví von về một quãng thời gian im lặng thật đáng giá. Sân khấu là nói là hát là múa, là ồn ào sôi động, những cái đó truyền cảm xúc tưng bừng mạnh mẽ cho người xem. Nhưng sân khấu cũng có những khoảng lặng ghê người, lúc mọi âm thanh, ngôn ngữ, thậm chí ánh sáng đã chìm đi, đã biến mất. Trong bóng tối lạnh lùng, trong lặng im nghẹt thở, không thấy gì, không nghe gì, người ta càng cảm nhận đang có một cái gì ở đó, một cái gì mà ngôn ngữ, âm thanh và ánh sáng không thể nào diễn tả nổi, một cái gì mạnh mẽ hơn những yếu tố vừa mới hiện hữu.

Có thể tạt ngang ở chỗ này, đùa một tí. Nhà thơ George Evans một lần được mời đi xem vở diễn mới của một kịch tác gia ở San Francisco. Xong kịch, tiệc nhẹ ở đại sảnh nhà hát, kịch tác gia tiến lại hỏi cảm tưởng của vợ George Evans. Bà thấy vở kịch thế nào?

- Ồ... những chỗ yên lặng thật là tuyệt vời.

George kể lại chuyện này và bạn bè tất thảy cười phá lên. Well, the silent moments are great. Coi như chuyện hài hước. Kịch là đối thoại, hội thoại, là nói và nói, ấy thế mà quý bà lại khen những chỗ im lặng, nói nôm na là những quãng nó “câm miệng đi”. Phải nói là quý bà rất biết tránh đòn, biết tránh áp lực phải khen vờ khen đỡ hoặc phải nói thẳng nói toẹt ra. Lại cũng là ý của George, khen nhau như thế bằng mười chê nhau.

Tôi biết người vợ trước của George Evans, chị là người ngoại đạo của văn chương nghệ thuật, chị nói vậy vì không biết bình luận thế nào. Chị nói thật. Cái đùa cái giễu là do chúng tôi tán ra với nhau mà thôi.

Nhưng phải trở lại với chuyện khoảng lặng tuyệt vời mà nói rằng một khoảng lặng được đạo diễn và diễn viên tài năng sử dụng có sức nổ rất lớn trong việc gây cảm xúc. Ở chỗ này, tôi nhớ vai diễn của nghệ sĩ Tuệ Minh trong vở kịch Cách mạng của Nguyễn Khải, Đoàn kịch Điện ảnh công diễn vào khoảng 1977-1979. “Phù thủy giọng nói” Tuệ Minh đã tung hoành trên lãnh địa lời thoại. Lên bổng xuống trầm, tuôn ra ào ạt, rồi ngắt, rồi nghỉ... một cách giàu cảm thụ và đầy ý thức. Ngắt. Nghỉ. Cái đã làm nên vai Phượng để đời.

HUY: Người bạn gái thân nhất của Huy đi bán gạo. Nghe mà buồn cười quá, đến là buồn cười.

PHƯỢNG: Người bạn trai thân nhất của Phượng không làm gì cả, anh ấy chỉ ngắm vuốt và đi chơi, đâu có kém buồn cười. Vừa thê thảm vừa buồn cười.

Trong câu nói của Phượng, phần trước là lời đối đáp với Huy. Phần sau được Tuệ Minh chọn như là điểm nhấn. Chỉ có sáu âm tiết. Vừa thê thảm vừa buồn cười. Một nghệ sĩ bình thường sẽ hét vào mặt Huy sáu âm ấy thật đanh thép, bày tỏ thái độ quyết liệt lên án (và khá thô thiển). Phượng không hét. Thậm chí chị đã xuống giọng như thầm thì, như nói riêng cho mình hay. Chỉ có sáu âm tiết, nhưng đã được nghệ sĩ tách làm ba đoạn với những sắc thái khác biệt.

- Vừa thê thảm...

Kèm thêm một tí chút chua xót trong giọng nói. Nỗi xót xa đang lặn vào trong.

- ... vừa...

Chỗ này Phượng ngừng ngắn như để lục tìm xem có thêm được một từ thật chính xác. Nói gì đây? Vừa phải điểm huyệt được căn tính của đối tượng, vừa độp lại, nhưng cũng vừa là sự chế giễu một người thân, rất thân.

- ... buồn cười.

Rốt cục Phượng không tìm thấy chữ nào đắc dụng hơn chữ buồn cười vừa mới nói ở trên. Cô lặp lại. Nhưng sắc thái đã khác, giễu mà không quá đà trở thành mạt sát.
Khoảng lặng mà Tuệ Minh thiết lập được trong một đối thoại ngắn đã khiến người xem đủ hiểu đủ ngấm và đủ xúc cảm để mà mê ly và nhớ mãi.

Tôi nhớ những khoảng lặng tuyệt vời khác trong những vai của nghệ sĩ Ngọc Hiền, đoàn kịch Hải Phòng, vào khoảng những năm 1970. Bà mẹ bỏ con mà đi, nay trở lại nhà bố chồng tìm lại con gái trong kịch Masa của Liên Xô. Klea, phu nhân của một triết gia rỗng tuếch ở Hy Lạp cổ đại trong kịch Con cáo và chùm nho của G. Figueiredo. Phu nhân Milford trong Âm mưu và tình yêu của F. Schiller. Những năm sau này là nghệ sĩ Lê Khanh với Lý Chiêu Hoàng trong Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi, Phồn Y trong Lôi vũ của Tào Ngu... Còn rất nhiều diễn viên và đạo diễn tài năng đã làm ra những khoảng lặng tuyệt vời mà ta không liệt kê được hết ở đây. Có những cảnh, một mình diễn viên trên sân khấu, độc thoại, dài cả mấy trang giấy, hai mươi phút, ba mươi phút trôi qua mà người xem không dám cựa quậy, không dám gây tiếng động. Cả nhà hát như bị thôi miên. Chỉ còn có lời thoại của nhân vật. Nói, nói và nói. Rồi... im, im và im. Chen lẫn, tách biệt, rồi hợp lại để đẩy không khí kịch lên thành cao trào.

Lê Khanh vai Lý Chiêu Hoàng trong "Rừng trúc"

Người thích những khoảng lặng đầy ngụ ý sẽ không thể hòa giải với phim truyền hình. Loại phim bộ, phim nhiều tập của truyền hình, do đặc trưng thể loại nhằm vào đối tượng là các bà nội trợ vừa xem vừa trông nhà nấu bếp, các cô tiểu thương vừa đứng quầy vừa uốn tóc gội đầu vừa xem, các cụ cao tuổi không theo được nhịp độ nhanh mạnh hoặc tạo lập phong cách của điện ảnh... vừa xem vừa không cần tập trung lắm, vừa bỏ ra ngoài hoặc bỏ qua một vài tập, mà vẫn có thể hiểu được. Thế là chậm thay cảnh đổi cảnh, chỉ có thoại và thoại. Quen nếp, nhờn tay, từ người viết kịch bản cho đến đạo diễn, mỗi khi bí quá, ý tưởng không chuyển thành hình ảnh được, cách giải quyết dễ dãi nhất là chuyển hết thành đối thoại. Cho nhân vật nói là xong. Nói triền miên, như đọc thuộc lòng, như cái máy nói, như bắn súng liên thanh.

Thèm quá những khoảng lặng.

Không cần nói nhiều về những nhà hát ở Mỹ và châu Âu mà tôi từng được bước chân vào. Lần xem Hồ thiên nga của Nhà hát Northwest Ballet ở Seattle, bang Washington, tôi nhớ giữa chừng có một bà ngồi phía sau hai hàng ghế bỗng hắt hơi. Một lần. Hai lần. Bà phải nén cho tiếng hắt hơi xẹp bớt xuống, chỉ còn xì xì. Hôm ấy là một ngày lạnh. Có lẽ từ chỗ gửi xe hơi, bà phải đi bộ lòng vòng hơn một cây số mới đến được nhà hát và đã nhiễm lạnh trên đường. Bà giữ chiếc mùi xoa trước mũi, cố nén cho nhẹ mỗi lần hắt hơi. Chắc là bà nán lại vì hy vọng sẽ nhanh khỏi. Nhưng không. Không. Rốt cục bà phải lặng lẽ bỏ ra khỏi khán phòng vài nghìn người. Trước đó, không ai tỏ ý bất bình, tất cả đều im lặng thông cảm và chia sẻ. Nhưng đương sự thì phải tự ý thức được mình đang làm phiền người khác. Phải hy sinh cái vé mấy chục đô la, vé phải đặt mua từ trước khá lâu.

Khoảng lặng của sân khấu chỉ tuyệt vời khi nó được hợp tác của khán giả, bằng một sự im lặng tương xứng.

Rạp Hồng Hà. Ngồi hàng ghế ngay trước mặt tôi là hai bà cháu, bà khoảng sáu mươi, cháu lên năm lên sáu. Cái ghế so với thằng bé là hơi thấp, nó phải nhấp nhổm đứng lên ngồi xuống, rồi sau cùng nó đứng thẳng dậy. Mà trẻ con xem tuồng làm sao, nó chỉ thấy mấy nhân vật vẽ mặt vẽ mày, cắm cờ trên vai, vung gươm vung giáo chậm chạp theo kiểu cách điệu, thỉnh thoảng thét lên vang lừng, thỉnh thoảng rít lên the thé, thỉnh thoảng nói giọng mũi bèn bẹt, giọng cổ gầm gừ, giọng bụng âm ư. Đoàn hát được giao cho nhà hát Hồng Hà ngay trước chợ Hàng Da, tưởng đưa sân khấu ra giữa chợ đời là đắt khách. Anh chị em tiểu thương bây giờ xem phim bộ Hồng Kông Hàn Quốc, có tiện chân vào rạp thì cùng lắm xem cải lương, ai xem tuồng. Nhưng người vào xem dù không phải tiểu thương vẫn mang theo vào không khí cái chợ. Không yên lặng được một lúc. Ăn hạt bí, ăn bánh, giở túi ni lông loạt soạt loạch xoạch. Nhân tiện diễn viên đang ca khúc bi ai thì ta nói chuyện riêng. Thằng bé gọi, bà ơi, cháu đi đái. Bà nó được cái mê tuồng, không rời mắt khỏi sân khấu, thì đi đi. Đi lối nào? Đi qua trước mặt người ta mà ra, vào chỗ kia kìa.

Thằng bé ngần ngại nhìn những người ngồi xung quanh. Không may là hai bà cháu nó ngồi ở chính giữa hàng ghế, muốn ra bên phải hay bên trái đều phải đi qua rất nhiều người. Nó cố nhịn thêm một lát nữa, rồi lại đòi bà dắt ra. Bà lại bảo cháu cứ đi đi. Tranh cãi dùng dằng một lúc nữa, cuối cùng bà nhớ ra chai nước cầm ở tay. Bà ngửa cổ tu nốt chai nước rồi đưa cho thằng bé. Nó đứng thẳng đuỗn, bắt chim vào trong miệng chai mà giải quyết cái việc nhấp nhổm nãy giờ.

Miêu tả được đến thế thì chứng tỏ việc thưởng thức sân khấu của tôi đã bị thủ tiêu. Lâu lâu rồi, sân khấu của ta không tồn tại những khoảng lặng nữa. Nếu có thì chắc chắn sẽ không gây được hiệu quả cho người xem. Khi tất cả rơi vào tĩnh lặng, đó là lúc mới thấy rõ dân ta thật lắm bệnh. Đang lành mạnh khỏe khoắn, chẳng ai bị làm sao, nhưng chỉ cần nửa phút lặng là tất cả bỗng rào rào lên. Ho, hắng giọng, sụt sịt, xỉ mũi, rung đùi, nhún ghế, quay ngang quay ngửa, cắn hạt dưa hạt bí tanh tách. Nếu có đạo diễn cả gan để khoảng lặng kéo dài một phút thì bắt đầu có tiếng hấm hứ sốt ruột, ai chịu được ngồi không quá lâu như vậy ở thời này. Chuyện trò cứ thế mà như đập thủy điện sông Đà xả lũ.

Hãy nhìn mấy ông nhạc trưởng nước ngoài được mời sang chỉ huy các dàn nhạc giao hưởng của ta. Một kiểu mời đúng thầy đúng thợ vào đúng cái thể loại âm nhạc của phương Tây mà ta đang nỗ lực. Mấy ông nhạc trưởng thì vừa sang trọng vừa duy mỹ. Thủ tục cúi chào xong rồi, nhạc trưởng nâng đũa chỉ huy lên ra hiệu chuẩn bị. Dàn nhạc lặng phắc cho thấy đã sẵn sàng. Ông nhạc trưởng chờ khán giả. Khán giả thì không sẵn sàng. Có gì mà phải sẵn sàng, vẽ chuyện, ông thấy cần bắt đầu thì cứ bắt đầu đi, việc gì ông phải chờ chúng tôi im lặng. Mà chúng tôi không thể ngồi im một giây. Dân tộc này ngồi im được một giây thì bốn nghìn năm đã phải làm nô lệ, bốn nghìn năm đã không còn đậm đà bản sắc dân tộc. Cái sự xôn xao ồn ào triền miên trong nhà hát cuối cùng đã làm ông nhạc trưởng Tây thua cuộc. Ông phải đưa tang cho sự duy mỹ của mình. Ông phải nhượng bộ công chúng bản địa trong một cuộc thương lượng không cân sức. Cây đũa của ông vung lên nhưng nó không còn là cây đũa thần của phù thủy âm nhạc nữa.

Nhà viết kịch nào phải liều lĩnh lắm thì mới còn dám tạo ra những khoảng lặng trong vở kịch của mình. Khoảng lặng độc đáo ư? Khoảng lặng tuyệt vời ư? Hãy nhìn gương mấy ông chỉ huy dàn nhạc kia.

Cảnh trong vở "Cung phi Điểm Bích"

Lại một lần ở rạp Hồng Hà. Chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên chứ không phải cứ rạp Hồng Hà là tệ, và cứ những rạp khác là sang. Tôi xem một vở mới về cung phi Điểm Bích được vua sai đi quyến rũ vị chân tu Huyền Quang. Ngồi cùng hàng ghế có một ông khoảng U70, luôn mồm bình phẩm, bình phẩm với bà vợ chưa đã, ông quay sang cả khán giả ngồi hai bên, chõ cả lên khán giả ngồi hàng trước, lôi kéo mọi người xung quanh tham gia bình phẩm. Ông còn vươn sang, đập vào tay tôi, ngồi cách ông những một khán giả:

- Giỏi thật, nó giấu mi-kờ-zô trong người mà mi-kờ-zô bắt rất nhạy, rất vang.

Ông tán tụng kỹ thuật âm thanh mới, micro giắt trên ngực diễn viên, không phải là mấy cái micro thả từ trên cao xuống. Sự thay thế micro đã diễn ra vài chục năm rồi, chứng tỏ đã lâu ông không đi nhà hát.

- A, con này cao tay nhỉ, nó dám vào đại náo nhà chùa. Ông sư kia cũng dền dứ vớ vẩn, nghiêm túc thì cứ đuổi cổ nó ra khỏi chùa là xong. Lại được cái thằng vua kia, ngu gì mà ngu quá. Ô, hóa ra là sư được trời đất phù hộ, không bị chết cháy trên giàn lửa nữa à... Gì mà phải trật tự, đi xem phải bình luận mới thú.

Câu cuối cùng là ông nói với khán giả ngồi cạnh, người vừa lên tiếng bảo ông trật tự.

Mọi người xung quanh đều khó chịu, nhưng chỉ biết quay sang nhìn nhìn.

- Về nhà mà bình luận. Hoặc lên sân khấu mà diễn, hoặc ngồi im mà xem.

Người kia bảo.

- Người ta có trình độ thì người ta mới bình luận được.

- Trình độ giẻ rách, im đi.

Người kia nặng lời.

- Như ở đây là còn ít, ở Tây ấy à, trong nhà hát người ta còn hò hét, huýt sáo nữa ấy chứ.

Ông bình loạn vẫn tiếp tục quay sang nói với vợ, cái giọng khê khê nồng nồng đồng chiêm trũng.

Khán giả ngồi hàng trước, nãy giờ phải chịu luồng hơi bình luận thường xuyên phả vào gáy, giờ mới quay lại:

- Người ta nhắc nhở đúng rồi đấy.

Bình loạn rơi vào thế cô lập, đành phải xuống giọng. Nhưng từ đấy cho đến lúc kết thúc, ông ta thỉnh thoảng vẫn lép bép vài câu, cố giữ tư thế, chả nhẽ xẹp luôn thì kém.

Một cái rạp khá khẩm như Megastar trên tháp Bà Triệu, phải là người thực sự thích phim ảnh, lại cũng phải có tiền vì giá vé khá đắt, thì mới bước chân đến. Cứ hy vọng là ở đấy, người có văn hóa nhiều hơn. Nhưng rồi toàn nam thanh nữ tú cả đấy, cánh văn phòng trẻ cả đấy, người yêu điện ảnh cả đấy, mà vẫn cứ ra cái chợ. Một cuộc thi tài sử dụng điện thoại di động trong rạp. Một cuộc chạy đua nhắn tin bằng điện thoại trong rạp. Những màn hình điện thoại màu xanh lè giơ lên trước sau và hai bên. Chuyện trò và bình phẩm như pháo nổ. Nhà rạp thì có chiêu tuyên truyền văn minh khá độc đáo. Màn ảnh hiện lên hình chiếc điện thoại di động màu xám bị liệt và giọng nói: Thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được vì đang ngồi cạnh thuê bao khác trong rạp chiếu phim, xin quý khách vui lòng gọi lại sau. Câu tuyên truyền lập tức phải nhận một trận cười. Cái điện thoại di động màu xám trên màn ảnh nếu hiểu thái độ khán giả thì nó phải đỏ lên vì ngượng, sự tuyên truyền độc đáo đã bị xem là vụng về nhà quê.

Chúng tôi hay xem ở cụm rạp này. Ngày thứ tư, giá vé giảm khoảng 40%, bảo nhau chớ dại mà xem vào hôm ấy, vé rẻ, rạp sẽ đông người lộn xộn. Ngày cuối tuần cũng đừng xem, đông người nhốn nháo. Rốt cục chỉ có thể chọn mấy ngày ít ỏi còn lại. Mua vé thì phải chọn hàng ghế cuối cùng, ít nhất là sau lưng mình không còn ai, tránh được cả một hàng ghế mất trật tự ở đằng sau. Chọn chỗ ngồi ở trong góc, ít nhất là tránh được một bọn người ngồi tiếp giáp ở một bên vai. Hàng cuối cùng, trong góc. Hạn chế việc tiếp xúc với người ở mức thấp nhất. Càng ít tiếp xúc với người, càng đỡ bực bội.

Đã đến mức ấy rồi ư? Càng tránh gặp người càng tốt. Người ham du lịch thấy rất rõ điều này. Nơi nào ít người đặt chân đến, nơi ấy sạch sẽ, tinh khôi, trong lành, dễ chịu. Nơi nào đang là điểm nóng, điểm đắt khách, người đổ đến đàn đàn lũ lũ, nơi ấy rác rưởi ngập ngụa, hôi khai, hơi người tiếng người có thể làm nhức đầu mỏi mắt. Người chuyên du lịch chỉ tìm đến những nơi còn khá nguyên sơ, vắng vẻ, chỉ có ta với thiên nhiên, nơi ta tôn trọng thiên nhiên và thiên nhiên hào phóng trở lại, ban phát cho ta những cảm xúc tuyệt vời.

Ngày trước tôi có đọc một truyện ngắn Đông Âu, kể chuyện một chàng trai mới lớn vừa mê sách vừa yêu sân khấu. Một nghệ sĩ mà anh ta hâm mộ đến thành phố và biểu diễn đêm duy nhất, vai Don Juan để đời của ông. Chàng trai khó khăn lắm mới xoay được một chiếc vé. Nhưng cũng ngày hôm ấy, một người bạn hứa cho anh ta mượn cuốn sách mà anh ta vẫn tìm kiếm lâu nay. Trước giờ xem kịch, anh ta phải đi xe buýt đến đầu kia của thành phố, tìm nhà mãi, rồi ngồi trước cửa chờ người bạn đi đâu đó đột xuất. Cuối cùng, không chờ được để lấy cuốn sách, anh ta đâm bổ đến nhà hát. Muộn. Phải nằn nì xin xỏ mãi mới được vào. May mắn. Vẫn còn kịp xem nghệ sĩ lớn diễn cảnh cuối cùng. Cái chết của Don Juan. Tuyệt vời. Càng tuyệt vời càng tiếc vì không được xem trọn vẹn vở kịch. Khi anh ta về nhà, người cha bảo: “Tác phẩm của nhà văn vẫn còn lại đấy, trong sách của ông ta, ngay cả khi ông ta không còn nữa. Nhưng tác phẩm của một nghệ sĩ sân khấu thì không phải bao giờ ta cũng được chứng kiến. Nó sẽ đi theo nghệ sĩ về nơi yên tĩnh đời đời”.

Đấy là một lý do để những người yêu sân khấu cứ tham lam lui tới nhà hát từng đêm. Bao nhiêu sáng tạo sân khấu mà ta được xem bốn mươi, ba mươi năm trước, bây giờ chẳng lưu được bằng một hình thức nào. Ngay cả có lưu trong băng đĩa hình thì nó không thể tái hiện nổi một phần tài năng của nghệ sĩ trong không khí sống động và luôn tiếp diễn của nhà hát.

Nhưng mà người yêu sân khấu không đến nhà hát bằng bất cứ giá nào. Chẳng nhẽ phải đến một nơi mà người ta không thể tìm được một khoảng lặng tuyệt vời?

Minh họa của Kim Duẩn

THAM KHẢO:
1. XẾP HÀNG
2. XEM BALLET NGA CÙNG NGHỆ SĨ NHÂN DÂN
3. Xem bài gốc ở đây



4/8/08

KHẢO DỊ "MƯỜI LẺ MỘT ĐÊM"



Đọc "Mười lẻ một đêm" của Hồ Anh Thái đã lâu và rất khoái lối viết châm biếm hài hước của bác này. Nhưng khi đọc đoạn bác ấy mô tả tật xấu của các giáo sư tiến sĩ đầu ngành thì đâm ra bán tín bán nghi. Không lẽ họ lại xấu xí như vậy? Hỏi nhà văn thực hư thế nào, thì anh đáp: "Thật hết, ta chỉ chép lại cuộc sống mà thôi".

Cách đây mươi hôm thì mục kích sở thị hiện tượng này.

Tôi đi dự hội nghị khoa học ở một nước Bắc Âu. Toàn những giáo sư tiến sĩ đầu ngành đến từ nhiều nước trên thế giới.

Có một vị được dân trong nghề coi là "đại tổ sư" của ngành. Ông làm hiệu trưởng một trường đại học đã 40 năm nay, là thầy của khá nhiều người thầy. Vì là "đại tổ sư" nên không có chuyện về hưu, ông vẫn ở lại trường và người ta phải nghĩ ra một chức vụ dành riêng cho ông: Chủ tịch trường.

Ông có bài phát biểu tại một phiên họp trong khuôn khổ hội nghị do một vị nữ tiến sĩ-học trò của ông - chủ trì. Vì tiếng tăm của ông, nên phiên họp thu hút được khá đông cử toạ. Hình như biết rõ tính ông, nên cô xếp ông phát biểu thứ hai.

Phiên họp khai mạc lúc 14 giờ, nhưng chừng 20 phút sau, khi diễn giả đầu tiên đã thuyết trình được 2/3 bài phát biểu, vị "đại tổ sư" mới tới. Ông kéo ghế nặng nề ngồi xuống. Diễn giả số 1 ngừng nói, ra một cử chỉ kính cẩn chào ông.

Rồi diễn giả số 1 lại nói tiếp. Được vài phút thì tiếng chuông điện thoại vang lên. Lảnh lót, trêu ngươi, khó chịu. Diễn giả đưa mắt đảo khắp khán phòng và thấy vị "đại tổ sư" lục tục thò tay vào túi áo complet, rút ra một cái Nokia to tướng, nhấn nút và bình thản "allo".

Diễn giả im lặng để vị "đại tổ sư" nói chuyện. Cử toạ nhớn nhác nhìn nhau. Chỉ khi ông gọi điện xong, diễn giả mới phát biểu tiếp.

Sau phần thảo luận bản báo cáo thứ nhất, đến lượt giáo sư khả kính diễn thuyết. Cô tiến sĩ-học trò rụt rè mời ông lên diễn đàn với thái độ trân trọng.

Nhưng ông không lên. Ông vẫn ngồi nguyên ở chỗ của mình và nói vọng lên. Khốn khổ cho cử toạ phải căng tai ra để nghe ông nói.

Phải thừa nhận đó là một bài báo cáo hay, có nhiều thông tin mới, với sự phân tích và nâng tầm vấn đề ở mức độ bậc thầy. Mọi người nghe ông và quên đi sự khó chịu về tiếng chuông điện thoại ban nãy.

Ông nói xong, cử toạ vỗ tay. Rồi người ta chất vấn ông, ông trả lời rành mạch từng câu một. Sau đó là giải lao.

Diễn giả thứ ba cũng phải chịu tiếng chuông điện thoại của ông vô tư vang lên. Tuyệt nhiên không một ai dám nhắc ông tắt điện thoại. Tuyệt nhiên không một ai dám đề nghị ông ra ngoài để đàm đạo. Ông cứ ung dung hưởng sự ưu tiên đặc biệt mà cử toạ dành cho.

Khi diễn giả thứ tư vừa bắt đầu bài diễn thuyết, thì ông kéo ghế lục tục đứng dậy. Ông đi ra ngoài. Chừng 5 phút sau quay trở lại. Không ít người nhận ra một mảng quần phía trước của ông bị ướt đẫm. Nhưng tất cả vờ như không nhìn thấy gì.

Liên tưởng đến "Mười lẻ một đêm" của Hồ Anh Thái, thì có vị giáo sư không kiềm chế được sự bài tiết của mình. Nhưng rất có thể vị "đại tổ sư" bị nước té vào trong lúc rửa tay thì sao???

Đem chuyện trên tám nhà văn: "Đọc truyện của bác đã khiếp. Nay tận mắt chứng kiến, mà lại là giáo sư Tây mới kinh. Hoá ra đây là hiện tượng toàn cầu à?". Nhà văn nói: "Ở đâu cũng vậy mà!". Rồi anh bổ sung: "Đến tuổi ấy thì nên nhốt mình ở nhà. Không nên hoang tưởng nghĩ rằng mình đẹp mình uyên bác. Thế đáng thương lắm".

Bìa sách "Mười lẻ một đêm"

15/7/07

KHÔNG HƠN GÌ NHAU CÂU NÓI



Hồ Anh Thái

Trong đời sống vẫn thường xuyên tự nhắc nhở mình theo triết lý Phật: thiên hạ có nói sai về ta, ta cũng không việc gì phải đôi co, nói lại. Không hơn gì nhau câu nói.

Lối nghĩ ấy chuyển hoá thành lối sống thì cũng nhẹ người. Đời sống vì thế cũng thanh thản. Nhưng rồi xem ra mình cũng chưa phải là người đã giũ được bụi trần. Thành ra lối nghĩ ất khiến nhiều phen bỏ qua được điều A thì điều B hệ quả lại gây phiền lòng, gây bực tức.

Cách đây khoảng dăm năm, một cô phóng viên đến phỏng vấn, tôi vốn cẩn thận, chỉ chấp nhận trả lời bằng văn bản. Tức là cô gửi Email cho tôi một chùm câu hỏi, tôi viết trả lời rồi gửi Email lại cho cô. Tưởng thế đã an toàn, nhưng không. Cô đã cắt xén những câu trả lời của tôi làm ý tứ bị sai lệch. Còn hơn thế, cô dựng hẳn cả một câu hỏi và đáp, trong đó tôi hùng hồn tuyên ngôn về việc mình được coi là "cấp tiến" như thế nào.

Nói là "hùng hồn" thế thôi, đó chỉ là một câu hỏi (của cô) và câu đáp (cái gọi là của tôi) thực sự ngô nghê, chả ra lý sự gì. Tôi đã định phản ứng thẳng với toà soạn, rồi nghĩ cô đang đi làm hợp đồng cho báo. Mình gây động, chả may cô bị nghỉ việc. Rồi lại tự an ủi, đằng nào thì bài phỏng vấn cũng đã gây hiểu nhầm, ta làm sao đi gặp cho hết được mọi người mà thanh minh? Cũng chẳng việc gì phải nói lại, ai hơn gì ai câu nói!

Bài phỏng vấn sai lệch trên kia tưởng rằng xếp lại lâu rồi, nhưng gần đây, nhân một trang báo mạng đăng bài mới, thế là bài cũ thuộc diện "các bài liên quan" xuất hiện trở lại trong một đường link rất to tát là "những quan niệm về văn chương". Có nghĩa là cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Anh tưởng cái ấy đã nằm yên dưới ba thước giấy, thì nó vẫn có cơ một ngày được khai quật lại.

Cái không gian văn hoá xung quanh ta giờ đã đến độ nếu anh bị viết sai trên báo chí, anh không nói lại tức là điều ấy đúng. Để càng lâu mà không đính chính thì chứng tỏ nó càng đúng. A, cái lý đã dẫn hẳn đến chuyện đúng - sai, hơn - thua. Ừ thì cho họ đúng, cho họ hơn - lại là cái tâm niệm nhà Phật.

Từ những thông tin không chính xác, lại sinh ra một kiểu nhà bình luận, chỉ ngồi đọc tin tức trên báo chí rồi bình luận. Đủ mọi vấn đề, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội... bình luận tất. Nhiều khi cái thông tin A sai lệch lại làm mồi cho bình luận B sai lệch theo mà không tự biết.

Chuyện ở một hội nghị cây bút trẻ tổ chức ở miền Trung chẳng hạn. Mấy nhà văn nữ 8X ban đêm rủ nhau đi tắm ở bể bơi khách sạn, áo tắm một mảnh đàng hoàng nhưng họ tự đùa là tắm nuy. Thế cũng thành đề tài cho một nhà báo ưu tư một cách rất triết gia rằng các bạn viết bây giờ thiếu những lý tưởng thời đại mà trở nên dung tục tầm thường, chỉ biết khoe váy áo và đi tắm nuy.

Rồi nhiều thông tin khác từ hội nghị trở thành miếng ngon cho bao nhiêu bữa tiệc bình luận. Người ở xa nghe thông tin sai lệch qua báo mà bình luận đã đành. Người trực tiếp có mặt cũng cố tình hiểu sai và thông tin sai.

Đến đây thì muốn tham khảo đồng nghiệp và độc giả: bạn sẽ làm gì, bạn có phản ứng bằng cách nói lại cho rõ, hay là tiếp tục giữ im lặng theo tinh thần không ai hơn gì nhau câu nói? Thậm chí tình hình đã đến chỗ không chỉ bóp méo mà còn mang tính chất đặt điều? Lại cũng im lặng mà rằng đời sống chủ yếu dựa trên những nhầm lẫn và ngộ nhận?

Phần nhiều đồng nghiệp được hỏi đều trả lời: phải nói lại, phải lên báo chí công khai đính chính lại. Thế là đa số đều lao theo một cuộc ăn miếng trả miếng bất tận dẫn đến bất ổn cho tâm. Thế là khó mà tìm được sự bình yên cho chính mình.

Nhà văn viết sách tức là đã lắm lời, chẳng việc gì mà sách in ra rồi, lại còn xoen xoét trả lời phỏng vấn. Đấy là cái lý do cá nhân đưa ra để từ chối những cuộc hỏi đáp. Không muốn mỗi lời đều bị xáo xào khó nghe. Nhưng rồi tự nhiên ở đâu ra vẫn xuất hiện những bài phỏng vấn, mình trực tiếp trả lời hẳn hoi. Lạ lùng!

Một cuộc giao lưu ra mắt sách, mình đối thoại với người dẫn chương trình trước hàng trăm người. Thế rồi có vài ba phóng viên ghi (sai) cuộc giao lưu ấy, tương hết cái (sai) ấy lên mặt báo, làm như họ đã đàng hoàng tay đôi phỏng vấn mình.

Lại nghĩ theo kiểu không việc gì phải nhảy dựng lên thông báo cho các toà soạn, còn để đường cho mấy vị phỏng vấn ấy làm ăn. Bao nhiêu người thấp cổ bé họng bị đơm đặt bằng những bài "phỏng vấn" như vậy phải ngậm tăm rồi. Bao nhiêu người không thấp cổ bé họng, nhưng không có khả năng diễn đạt bằng chữ cũng đã phải ngậm bồ hòn làm ngọt rồi. Mình thuộc diện có tí chữ, chẳng việc gì phải tận dụng cái chữ ấy để thanh minh, tỏ ra "đặc lợi" hơn người.

Theo đúng tinh thần nhà Phật, hòn đất ném đi không việc gì phải hòn chì ném lại. Kể ra đã nhiều phần theo được tinh thần này. Chỉ còn một phần nhỏ chưa theo được, muốn ngộ lắm, mà khó lắm thay.

Bài đăng trên báo Thể thao & Văn hoá số 14.7.2007

Free web counter

6/1/07

MÁU THAM HỄ THẤY HƠI ĐỒNG...



Bài gốc có tựa đề "Nhiều sâu" đăng trên báo Thể thao và Văn hóa số thứ Bảy ngày 6.1.2007. Mời bà con cùng đọc cho vui.

Dịp cuối năm, Hội Nhà văn Hà Nội nhận đ­ược thông báo: Hội sẽ nhận đư­ợc một khoản kinh phí bổ sung dành cho việc đầu tư­ sáng tác cho hội viên (18 triệu đồng).

Số tiền này, nếu cấp cho những hội viên có bản thảo cần sửa sang trư­ớc khi đem xuất bản thì chỉ như­ muối bỏ biển. Sẽ có 9 ng­ười đ­ược hỗ trợ nếu cấp 2 triệu đồng/ ngư­ời, 18 ngư­ời đư­ợc nhận “h­ương hoa” nếu cấp 1 triệu đồng/ ng­ười. Hội có 500 hội viên, nh­ư vậy là nếu có làm xong việc hỗ trợ thì mỗi năm ít nhất cũng có 480 hội viên không thỏa nguyện.

Trong một cuộc họp, ông Bùi Việt Mỹ đề xuất đầu t­ư cho hai hội viên làm thơ là LHQ và TG. Ban Chấp hành cho biết tiền vẫn chư­a chuyển về đến Hội, vả lại khi có tiền thì cũng phải lập quy chế xét đầu tư­, phải thông báo đến toàn bộ hội viên, tổng hợp danh sách một lần, rồi hội đồng đầu tư­ sẽ bỏ phiếu theo đúng quy chế, đảm bảo đúng đắn và công bằng...

Như­ sau mọi cuộc họp quan trọng (hoặc không quan trọng) ở xứ ta, trong nhà chư­a tỏ ngoài ngõ đã tư­ờng, tin tức đ­ược chuyển ra ngoài, đến tai những ông xin đầu tư­. Ông LHQ gọi điện cho chủ tịch Hội, văng đủ mọi thứ ngôn từ tục tằn vì không đầu tư­ tiền cho trư­ờng ca của ông. Một ông/ bà khác từ số 091538678.. thì nhắn tin vào điện thoại của chủ tịch, nhiều nhất là thứ từ ngữ thô bỉ, vì không đư­ợc như­ ý muốn.

Hội Nhà văn Hà Nội nhiều năm qua đư­ợc coi là Hội hoạt động có hiệu quả mà không vư­ớng mùi vật chất. Hội viên gặp nhau trong những hoạt động chung, nghèo nh­ưng vui vẻ, dù không có chia bôi xí phần gì. Mỗi năm kinh phí toàn bộ do thành phố cấp chỉ xấp xỉ 35 triệu. Toàn bộ Ban Chấp hành không ăn l­ương ở Hội, không có bất kỳ một khoản phụ cấp nào như­ xăng xe, điện thoại... Không có tiền thì vui và yên ấm. Bây giờ vừa bắt đầu đặt vào tình trạng có khoản đầu tư­ (quá hẻo) thì tiếng rủa sả nổi lên. Mà ngay khi om sòm như­ vậy thì tiền vẫn ch­ưa kịp rót vào tay Hội.

Khoản đầu tư­ sáng tác cho các hội văn học nghệ thuật là của toàn bộ hội viên. Ban Chấp hành Hội NVHN chủ trư­ơng không đầu t­ư cho số ít cá nhân, mà tập trung vào việc tổ chức cho hội viên đi thực tế sáng tác. Như­ng cách làm việc bài bản có khi lại không đ­ược một số hội viên thỏa mãn. Tiền đầu tư­ đ­ược xem như­ tiền chùa, miếng bánh đã chia, dứt khoát mình phải có phần, nếu lần này mình chư­a đư­ợc chia, tức là tài năng của mình không đư­ợc thừa nhận.

Các vị bắt đầu dùng đến tin nhắn điện thoại, th­ư điện tử... để phát tán lời thóa mạ, vu khống, bôi nhọ, nhằm vào Ban Chấp hành. Đáng tiếc, văn ch­ương ch­ưa khá đư­ợc bởi vì ngư­ời viết vẫn còn dùng tinh lực để mài giũa ngôn từ đâm ng­ười khác. Rồi cơ quan điều tra sẽ vào cuộc, nếu có yêu cầu, như­ng cách giải quyết vấn đề d­ường nh­ư lại đòi hỏi sự hợp tác của hội viên d­ưới một mái nhà chung: thái độ có văn hóa; tình cảm bao dung giữa đồng nghiệp với nhau; sự chia sẻ cảm thông với ngư­ời làm quản lý Hội; tinh thần không nệ vật chất, không để cho sự cay cú, đố kỵ dẫn đến thô bỉ, độc ác...

Nhìn chung trong cả một hội nghề nghiệp, phần lớn hội viên là những tấm gư­ơng về nhân cách, về tinh thần lao động bền bỉ, đóng góp tích cực cho phong trào chung. Như­ng đôi khi chỉ vì vài con sâu mà hỏng cả một nồi canh lớn. Nhiều hội nghề nghiệp cũng đang đứng tr­ước thách thức kiểu này.

15/11/06

"LÊ VÂN YÊU VÀ SỐNG" - ĐÚNG NGHĨA TỰ TRUYỆN



Hồ Anh Thái

Cuốn tự truyện “Lê Vân yêu và sống” đã nhận được nhiều lời khen và sự đồng cảm. Đồng thời nữ nghệ sĩ cũng nhận được những ý kiến trái ngược. Chính là những ý kiến phản ứng này càng chứng tỏ một điều: Lê Vân yêu và sống là một cuốn tự truyện thực sự.

Sao lại thế? Bởi lẽ, lâu nay ta thường đọc những hồi ký hoặc tự truyện chỉ kể lại những điều tốt đẹp của chính mình, của bạn bè người thân mình. Một thứ sirô ngòn ngọt, các đối tượng được nhắc tên khi đọc xong đều thở phào, đều đẹp lòng như vừa nhìn vào một cái gương nịnh mặt. Những hồi ký không né tránh như của Vũ Bằng, Tô Hoài... trở thành của hiếm. Bây giờ, tự truyện của Lê Vân có thể bổ sung vào danh sách của hiếm như vậy.

Phẩm chất quan trọng bậc nhất của tự truyện là sự thẳng thắn, trung thực. Sử dụng việc viết tự truyện vào mục đích tô vẽ cho mình, thanh toán với người với đời... là thất bại. May mắn, nữ nghệ sĩ được trời phú cho bản tính thẳng thắn, thẳng thắn đến nghiệt ngã. Ngay thẳng đến mức nói điều gì là nói cho tận gan ruột, đến mức không chỉ chính chị sẽ ở vào thế bất lợi, mà kể cả viết về cuốn sách của chị như thế này cũng có thể hứng chịu sự bất bình.

Lê Vân chia sẻ với độc giả những đau xót, cay đắng về nghề, về đồng nghiệp, về tình yêu. Chị không ngần ngại mổ xẻ chính mình, không do dự bộc lộ mặt trái của vinh quang (cứ tưởng đến với chị một cách tự nhiên, nhẹ bỗng), không ngập ngừng chỉ ra những khúc quanh của quản lý nhà nước, quản lý văn nghệ. Thế thì vì lẽ gì ta lại muốn chị tránh mổ xẻ gia cảnh của chính mình? Tâm lý phương Đông, nói gì thì nói nhưng cứ phi tránh gia đình mình ra, nếu không muốn bị độc giả dán những cái mác là "ác", là "bạc". Một nửa cái bánh mì là bánh mì, một nửa sự thật không còn là sự thật nữa, Lê Vân tâm niệm như vậy.

Chính ở chỗ này, người viết tự truyện phải lựa chọn hai lối đi: Một là phải kể cho bằng hết. Trung thực không phải là nói hết mọi điều, nhưng đã nói đến cái gì là phải nói cho bằng hết. Hai là chọn sự im lặng, không viết. Rất nhiều người có danh đã chọn con đường thứ ba: viết một nửa sự thật, chỉ kể lại những gì đèm đẹp mà thôi. Như vậy mới thấy để viết được tự truyện, người ta cần can đảm.

Nghe thì tưởng đơn giản, nhưng làm được không dễ. Đời sống nhiều giả dối lừa lọc quá đi, hít thở mãi cái không khí ô nhiễm bụi và khói xăng mà thành quen, người ta cũng bụi bặm lem nhem lúc nào không biết. Quen đi nhờn đi trong môi trường ấy, Lê Vân hoàn toàn có thể tự an ủi: mình từng là ngôi sao điện ảnh hàng đầu, là ngôi sao ba lê của nhà hát, mình đã may mắn được làm việc với những đạo diễn quan trọng, đóng những vai quan trọng, mình là người vừa có nhan sắc vừa có tri thức, vừa tài vừa tâm... Nhưng chị đã nghĩ ngược lại. Có quá khắc nghiệt không? Có đỏng đảnh ra vẻ ta đây hay không?

Kinh nghiệm sống của mỗi người là hữu hạn. Mỗi cuốn tiểu thuyết đích thực cho ta thêm một kinh nghiệm sống. Mỗi cuốn tự truyện đích thực cho ta cơ hội được sống thêm một cuộc đời bằng xương bằng thịt. Điều này làm nên phẩm chất quan trọng nữa của tự truyện. Cuốn sách vì vậy phải tái hiện cho được tính cách của nhân vật có thật. Ta thấy được gì ở Lê Vân? Những ưu điểm của bản thân trước mắt người đời đều được chính chị vạch ra mặt trái của nó. Nhược điểm của thẳng thắn là sự khô khan, cứ như là "cứng lòng". Nhược điểm của lòng tự trọng là những phân vân ngập ngừng và tự tra tấn mình. Nhược điểm của sự nhạy cảm là chìm đắm trong đau xót và dễ bị tổn thương.

Cũng là một hành vi một câu nói đó thôi, người đời chưa đau thì chị đã đau và di chứng nhiều năm sau còn hằn vết. Nhược điểm của việc lý tưởng hóa đời sống là sự ngây thơ "cứ như giả vờ", lý tưởng hóa nghệ thuật đến mức không thực sự cảm nhận được vinh quang của mình, mà hờ hững, coi đó chưa phải là nghệ thuật thực sự, rồi dẫn đến việc xuống tóc, tuyệt giao với nghệ thuật. Chắc là có những nghệ sĩ đích thực chia sẻ với chị sự "vỡ ra" này, sự "bàng hoàng tỉnh mộng" này. Còn nếu ngộ nhận về bản thân và về nghề chắc sẽ cho là chị "ngạo mạn, đỏng đảnh, vờ vĩnh"...

Thay cho việc thu nhận thêm một kinh nghiệm sống từ tự truyện, phần nhiều thiên hạ có xu hướng áp đặt quan niệm sống của mình (vốn đầy rẫy thành kiến, định kiến) và đòi hỏi người kể chuyện "giá mà" cứ nương theo một khuôn mẫu chung, dễ được xã hội chấp nhận. Thay cho việc mở lòng ra đón nhận, rồi tự phân tích lý giải ngay cả những ca hy hữu nhất, thì thiên hạ dễ sa vào phán xét từ góc độ cũng rất cá nhân, cũng rất hẹp. Cách tiếp nhận ấy là tự làm nghèo kinh nghiệm và hiểu biết của mình, tự thu hẹp khả năng cảm thông chia sẻ, gây ra một chuỗi hiểu lầm tiếp theo và cả những ngộ nhận về chuẩn mực. Thêm nữa, một số cách phán xét trên mặt báo có khi còn đạt đến độ khiếm nhã theo kiểu lời đàm tiếu (sao dễ đẻ thế mà không chịu đẻ với người chồng thứ hai? Có phải là để tự do?...). Đôi khi người ta quên rằng bài phê bình một cuốn tự truyện (bình luận về đời một con người có thật) khác với việc phê bình một cuốn tiểu thuyết.

Đó là những phản ứng mà một cuốn tự truyện đã và sẽ thu nhận được. Một Lê Vân sau bao nhiêu trải nghiệm chỉ toát lên một ao ước: được sống bình thường. Không chọn sống với vinh quang có thật nhưng thực ra là phù du, không muốn bươn chải với đời như một người đàn ông mà chỉ muốn làm người đàn bà của gia đình, người đàn bà thực sự. Dường như sau nhiều trả giá, chị cũng đang đạt được điều đó. Cuốn sách đời chị được Bùi Mai Hạnh thể hiện thành một tự truyện đúng nghĩa. Từ chuyện đời một con người, độc giả có thể nhìn thấy hình bóng cả một thời cuộc.

Nguồn: Người Đại biểu Nhân dân, 6-11-2006

4/10/06

HÀ NỘI, CON THUYỀN, PHÙ SA (5)




Tiểu luận về Hà Nội của HỒ ANH THÁI

Kỳ 5: LỜI KẾT

Tôi có lần ra giữa sông Hồng dự một đám tang đặc biệt. Của một nhà thơ. Đặc biệt. Vì mong muốn cuối cùng của người quá cố là sau khi hỏa táng, di hài ông được thả xuống sông Hồng. Hình như mong muốn ấy chỉ có ở một con người thật lãng mạn. Tôi chắc là ông cũng đã biết nhiều về Phật giáo, Hindu giáo và văn minh Ấn Độ. Người ấn từ thượng cổ gắn với những dòng sông lớn. Họ gọi đó là sông thiêng. Sinh ra được rửa tội trong dòng sông thiêng là may mắn lớn. Cả đời người một lần tắm nước sông thiêng là được giải thoát. Chết đi thì tro than nhất thiết phải về với sông. Về với sông tức là về với sông cha đất mẹ.

Chắc là ông nhà thơ đất Việt kia cũng an nghỉ với giấc mơ lần cuối cùng phiêu du trên dòng sông cái màu đỏ. Tôi tuổi tứ tuần vương vấn mãi từ chuyến tiễn đưa trên sông Hồng hôm ấy. Không có ai được dự đám tang mình. Nhưng dường như tôi đang tiễn đưa chính mình trong hành trình cuối cùng của mình. Giống như thế. Con cháu tôi sẽ mang cái bình gốm ấy trên tay ra bờ sông Hồng. Nhúm tro ấy sẽ tan hòa trong dòng nước. Cũng có thể là một con thuyền giấy sẽ chở nhúm tro tàn ấy trôi một quãng sông Hồng. Chiếc thuyền giấy sẽ rơi vào một xoáy nước, bị dìm đắm, kết cục tất nhiên cho bất cứ một con thuyền nào hôm nay vẫn còn thong dong trên sông. Chính ở chỗ chiếc thuyền giấy buông mình đầu hàng số phận, tôi sẽ li ti lắng xuống cho một lớp phù sa sẽ tôn lên thành bờ bãi mới. Cũng có thể vào bụng cá, cá thì cũng lại về với sông cha đất mẹ.

Người mê tín bảo đừng có hỏa táng. Nóng lắm. Gọi hồn không được. Hồn nào về được cũng đều kêu nóng lắm. Chẳng hóa ra niềm tin tâm linh của người ấn là sai, họ chẳng có một linh hồn nào còn lại từ đống tro tàn hỏa táng hay sao? Chẳng hóa ra những người được mai táng gọi hồn lên không có ai kêu dưới ba thước đất nằm rất lạnh? Bị cả triệu triệu sâu bọ côn trùng quấy quả? Giấc ngủ ngàn thu có cả cá trê bẹp đầu sùng sục xông vào?

Người Hà Nội bây giờ có mê tín hơn xưa? Tiền cho vàng mã khói hương ngày một ngày rằm đã thành một ngăn dành riêng trong vỏ não? Người Hà Nội ấy khó quen với việc rải tro xương xuống sông Hồng. Thì cũng phải dành lại một phần mộ, một chỗ nho nhỏ cho con cháu tưởng nhớ. Như thể không có một nấm đất con con thì đời sau sẽ không còn ký ức. Thì chẳng lẽ lại đem tro đi rải xuống sông, chết là xóa sạch mọi dấu vết? Như thể còn nhìn thấy một tấm bia thì người chết vẫn còn.

Không, người có danh lẫn người vô danh khi đến thế giới này đều chỉ là đứa hài nhi vô danh. Vậy khi ra đi cũng nên vô danh như hài nhi của một vòng đầu thai mới. Cái gì còn lại đều là cái khó nhìn thấy. Chẳng phải cứ tượng đài bia đá là còn.

Tôi lại vẫn nghĩ rằng hành trình cuối cùng của Lý Công Uẩn cũng là trên một con thuyền. Sau đó là dòng sông Hồng. Sau đó là phù sa.

Ảnh: Cầu Thê Húc - Bác sĩ Charles-Edouard Hocquard chụp giai đoạn 1884 - 1885.

2/10/06

HÀ NỘI, CON THUYỀN, PHÙ SA (4)



Tiểu luận về Hà Nội của HỒ ANH THÁI

Kỳ 4: TÍNH CÁCH HÀ NỘI

Gia phong trong những nhà số ít ấy giờ đây ngẫm lại thực ra lại mang tính toàn cầu. Trọng trung hiếu lễ nghĩa. Biết lắng nghe người đối thoại, biết đàm phán và biết thuyết phục. Không thuyết phục được thì khôn khéo biết để cho đối tượng ra đi trong danh dự. Ăn thanh tao, mặc thanh lịch, bước đi dáng đứng thanh nhã. Chữ thanh thường làm đầu. Bao giờ xử sự cũng tự nhiên, tự nhiên như người Hà Nội. Thoải mái. Tự tin. Không thích kẻ thu mình. Ăn uống không xô bồ hấp tấp nhưng cũng không cảnh vẻ kiểu cách. Bát cơm bát phở phải ăn bằng hết, không được bỏ thừa một chút làm phép. Chúng tôi ngày ấy được giáo dục bằng chữ thanh, vào đời làm ăn là ổn ngay. Ra nước ngoài bỡ ngỡ chưa biết rõ tập quán địa phương, chỉ việc xử sự như cha ông dạy bảo là hòa nhập tự tin được ngay. Không bị sốc văn hóa. Không bị mặc cảm mình vụng về quê mùa.

Chữ thanh đôi khi hiểu thái quá mà thành ra sáo ra sĩ. Sĩ diện. Thời bao cấp có nhà buôn gian bán lận, cơm gà cá gỏi nhưng rổ rác phải phủ rau lên trên để che xương cá xương gà, sợ hàng xóm dị nghị. Mốt kín đáo. Thời trước nữa thì trái lại, có giai thoại người Hà Nội nghèo, trước khi mang sọt rác ra đổ nơi công cộng lại phải phủ lên trên đôi ba cái vỏ trứng. Ra điều ta không nghèo. Mốt sĩ.

Người bốn phương tụ về, chỉ mượn cái bãi đất sông Hồng mà làm nên Hà Nội. Người ở đâu về đây lâu rồi cũng dần dần ra người dễ chan hòa, khoáng đạt. Trong cả nếp nghĩ. Trong cả nếp sống. Dễ. Thảng hoặc dễ đến mức không kiên quyết bảo vệ điều mình tin. Nhiều khi dễ, gặp cái gì hơi khó là lảng là chuồn. Thật êm. Dễ thì xơi khó thì lặn một hơi. Nam chuồn Hà lủi Thái thì bay. Hà ở đây là chỉ người Hà Nội.

Nhưng dễ bên này dao động sang phía bên kia quả lắc thành ra khó. Người khó thì thật là quyết liệt. Thời tiết khí hậu không ôn hòa bình ổn như phương Nam. Nóng đến điên người mà rét có thể chết người. Cư dân chịu tác động khí hậu ấy địa lý ấy nên cũng không sôi nổi ồn ào dễ dãi như người phương Nam. Cái kiểu tuẫn tiết của người anh hùng miền Trung trong thành Hà Nội là đúng kiểu Hà Nội. Ôm bom ba càng quyết tử cho tổ quốc quyết sinh dường như cũng là cách chết thật là Hà Nội. Chết vì tình cũng phải là kiểu lá ngọc cành vàng, là kiểu chết tương tư Tố Tâm tiểu thuyết. Trong văn chương cái quyết liệt Hà Nội dễ thấy trong khí phách Nguyễn Trãi. Trong chua xót tận cùng Nguyễn Du. Trong cay chua vẻ ngoài khao khát bên trong Hồ Xuân Hương. Những người nhắc tên dường như chứng minh cho một giả thiết dân gian: người Hà Nội thành danh đều phải là kết tinh văn hóa mọi miền; người tứ xứ, người khu Tư khu Năm muốn thành danh đều phải xa quê mà đến với Hà Nội. Như thời nay người muốn làm ăn đều phải quy về đầu mối Sài Gòn. Hà Nội nữa.

(còn tiếp)

(*): Đầu đề này là do VMC đặt.
Ảnh: Cầu Long Biên (Pont Doumer) - André Frassati chụp năm 1955.

HÀ NỘI, CON THUYỀN, PHÙ SA (3)



Tiểu luận về Hà Nội của HỒ ANH THÁI

Kỳ 3: ẨM THỰC "HỢP CHỦNG THỊ"

Điệu. Có lẽ vì véo von ngữ điệu. Lại nhẹ nữa. Ô hay nhỉ, tiếng nói càng phát triển lại càng nhẹ nhõm đi, nhưng thời đại thì ngày càng vạm vỡ, xô bồ. Cái ăn Hà Nội trong văn Vũ Bằng, Thạch Lam thanh cảnh tinh tế là vậy, nhưng bây giờ... Đến cả các nàng nói giọng nhẹ nhàng yểu điệu cũng đã có văn hóa ẩm thực khác.

Món ăn Hà Nội thời nay có lẽ cũng là sản phẩm của một thứ "hợp chủng thị". Đã dậy mùi sặc sỡ như Trung. Đã nhiều gừng nhiều ớt như Nam. Đã nhiều sả như Thái, ngọt như Tàu, gây gây như Ý... Chuyện ở trên, các ca sĩ Hà Nội cố uốn giọng phát âm như ca sĩ Nam hát giọng Bắc. Chuyện ở đây, ẩm thực mọi miền được tiếp thu dễ dàng. Cả hai chuyện đều cho thấy người Hà Nội thật cởi mở, thật dễ tiếp thu những gì ở bên ngoài mình.

Miếng ngon Hà Nội vẫn còn đó. Nhưng đời sống đô thị chuyển vần tốc độ chóng mặt, thức ăn khó mà chỉ dành cho thiểu số người ngâm nga nhấm nháp bên lề dòng chảy. Ăn uống cũng nhanh lên, mạnh lên, hùng hục, quần quật. Nhiều sáng kiến ẩm thực cho phù hợp thế sự. Bát phở thời bao cấp không phải ai cũng có tiền mà ăn mỗi tháng một lần, đến độ trí thức không còn nhớ định nghĩa "phở là gì?". Vào quán phở chỉ ăn thuần phở thôi cũng đã là một sự kiện. Đôi ba kẻ phe phẩy, giàu có nhờ buôn bán, gọi thêm vào bát phở quả trứng gà chần, thứ nhất để tăng lượng prôtit bổ béo, thứ hai để chứng minh đẳng cấp có tiền. Bát phở đẳng cấp cứ thế mấy chục năm, giờ thành món quen vị quen miệng. Phở trứng. Người sành ăn thì không sao quen được cái thứ phở giàu xổi tanh tanh ấy.

Phở không chịu dừng lại, mấy bà bán phở còn sáng kiến thả những viên thịt vào bát phở gà phở bò thành phở tổng hợp, phở mọc. Phở còn đi xa hơn, sang cộng đồng người Việt ở Âu Mỹ. Món ăn Âu ăn Thái vào Việt Nam phải điều chỉnh thế nào cho vừa miệng dân ta thì phở Việt Nam ở Paris ở Cali cũng phải cải biên như thế. Khối lượng cũng phải tăng lên ngồn ngộn trong những cái bát to như cái chậu. Phở ăn nóng cho đến thìa nước dùng cuối cùng là điều không thể thực hiện được trong cái bát phở xe lửa phở tàu bay ấy.

Các chàng các nàng yểu điệu bây giờ ăn rau sống là ăn cả cây húng cây kinh giới um tùm sum sê. Xà lách rau diếp món chính thì ít. Rau thơm ăn hương ăn hoa thì thành món chính rậm rạp. Trong ẩm thực giá trị cũng bị đảo ngược, bị "đánh tráo khái niệm" như cách lập ngôn trong phê bình văn học thời thượng. Ẩm thực thịt vịt thịt ngan cưỡi lên cả đám giỗ đám cưới. Ban đầu nó được các cô Ôsin giúp việc "thế nào cũng được" hồn nhiên mua bán nấu nướng bày lên. Dần dần nó được các ông bà chủ nhà "để yên xem sao" quen mắt quen miệng. Lâu lâu sau nó được người Hà Nội "nhẹ dạ dễ dãi" chính thức cho gia nhập văn hóa ẩm thực thủ đô.

Nói thế biết thế, nhưng miếng ngon Hà Nội vẫn còn. Trong những người sành, thanh tao. Hiếm lắm. Nhưng hồn cốt văn hóa bao giờ cũng được bảo tồn nhờ một số ít. Dường như vậy.

(còn tiếp)

(*): Đầu đề này là do VMC đặt.
Ảnh đường vào Chùa Trấn Quốc của Bác sĩ Charles-Edouard Hocquard giai đoạn 1884 - 1885.

1/10/06

HÀ NỘI, CON THUYỀN, PHÙ SA (2)



Tiểu luận về Hà Nội của HỒ ANH THÁI

Kỳ 2: NÍU NO HÀ LỘI THANH NỊCH

Những nơi đô thị như Paris, London, New York là nơi quần cư của người tứ xứ. Tiếng Anh tiếng Pháp đại trà ở những nơi đó khó mà coi là khuôn vàng thước ngọc. Hà Nội thì sao? Xu hướng đô thị hóa và quản lý đô thị khá lỏng lẻo mấy chục năm qua cũng đang làm tiếng Hà Nội có phần nào hỗn độn. Như giao thông. Như nếp sống bày bừa làng xã đang biến Hà Nội thành một cái làng có đường phố, sự quá tải về số lượng người không điều tiết sớm, một ngày nào đó người ra vào thành phố hàng ngày cũng bị hạn chế như phải đăng ký xe máy hôm nay vậy.

Còn nhớ đầu những năm 1980 người ta nhận thấy hiện tượng này: những người líu lo "Hà Lội thanh nịch và lên thơ" thuộc hai loại: hoặc là dân ngoại thành, hoặc là dân chợ giời. Các chàng các nàng chíp chíp kiu kiu trong vòng bán kính mười kilômét tính từ Bờ Hồ, ban ngày cấy lúa trồng rau trồng hoa, tối đến huỳnh huỵch đạp xe đến vũ trường, cứ dép lê mũ cối mà đăngxinh. Vừa đăngxinh vừa bô bô một thứ tiếng Hà Nội đố nhau xem đó là nờ cao hay nờ nùn.

Nhưng tại sao lại là dân chợ giời nữa? Đám thanh niên chúng tôi hồi ấy tự giải thích thế này: đa số dân chợ giời cũng từ các miền quê mới đổ tới. Ngay cả dân gốc gác vài đời định cư ở chợ giời cũng quen dần lời ăn tiếng nói kiểu này. Một người khách mang hàng vào chợ là một con mồi. Cả một toán người ùa tới quây con mồi vào giữa, mồm năm miệng mười, mua tranh bán cướp. Những kẻ trả giá dìm giá ấy chỉ là "chân gỗ", có nhiệm vụ uy hiếp cho con mồi hoang mang nhụt chí. Rốt cục chỉ có một kẻ chủ mưu đứng ra mua giá hời. Đám "chân gỗ" hầu như đều cố tình phạm lỗi phát âm elờ enờ, gây cảm tưởng quê kệch chất phác. Bao nhiêu người đã đứng khóc giữa chợ giời vì cái thứ tiếng "hà lội" quê mùa ngớ ngẩn ấy.

Nhưng bây giờ, liệu có thể coi là Hà Nội đang tràn ngập cái thứ tiếng mà cách đây vài ba chục năm còn là tiếng ngoại thành, tiếng chợ giời?

Nói như thế không có nghĩa là ca sĩ ngày nay không còn luyện thanh phát âm nhả chữ theo giọng Hà Nội. Tiếng Hà Nội vẫn còn đó. Hồn Việt tiếng Việt vẫn phải nương vào giọng phát âm Hà Nội để biểu đạt âm thanh ở mức đẹp nhất. Một thứ tiếng trong trẻo, nhẹ nhõm, nhẹ đến mức phạm luật phát âm, người nghe khó phân biệt xờ với sờ, chờ với trờ - "xắt xon chung hiếu", "chương chình xản xuất". Nhưng cái nhẹ nhõm khiếm khuyết vẫn được yêu, như người ta yêu cái dịu dàng có phần yếu đuối của thiếu nữ. Các diễn viên thanh nhạc mọi miền khi hát lên vẫn hát bằng tiếng Hà Nội. Hai tiếng "Hà Nội" phát ra đẹp nhất có lẽ là từ giọng soprano Lê Dung khi chị hát Hướng về Hà Nội của Hoàng Dương. Sinh thời Lê Dung nói với đồng nghiệp: "Tôi không phải là người Hà Nội, chúng ta đây cũng hiếm có ai gốc Hà Nội, nhưng hai tiếng Hà Nội khi hát lên thì nhất thiết phải sang phải đẹp".

Đâu phải ai cũng nghĩ được và làm được như vậy. Ca sĩ đằng trong nếu không nỗ lực một cách có ý thức thì phát âm vẫn ngòng ngọng, chơn chớt, như Tây nói tiếng ta, như "Tây Annam nói tiếng Annam". Khán giả không sành thì lấy làm thích thú cái giọng phát âm ngồ ngộ "như Tây". Đến lượt một số ca sĩ sinh trưởng Hà Nội có sẵn giọng nói trời cho, ảo vọng ăn khách xui họ cũng nắn tiếng méo giọng theo kiểu ca sĩ Nam hát giọng Bắc. Nghe họ hát mà có cảm giác bị pha tiếng. Sự báng bổ xúc phạm nhất còn không bằng pha tiếng kia mà.

Còn nữa, có một vị chức sắc lên tivi nói: "Hôm nay tôi hoan nghênh các i-em làm xanh sạch đi-ẹp chi-o thành phố". Tiếng địa phương mang vào Hà Nội thì tiếng nào cũng nặng, nhưng nghe một nhà quản lý ở Thủ đô "yêu quê hương qua từng âm tiết nhỏ" như thế, lại ưu tư: giá mà điều chỉnh từ cái nho nhỏ như phát âm cho dân dễ nghe hơn? Một chính khách đúng nghĩa còn là một diễn viên, một nhà hùng biện. Nhập gia tùy tục thì đâu có sợ tự làm mất gốc.

Tiếng Hà Nội không ngừng phát triển, như mọi sinh ngữ khác. Tiếng Hà Nội 1954, tiếng Hà Nội 1975. Hai thứ tiếng ấy vào đến phương Nam có bảo tồn đến mấy cũng không trụ vững được trước sức xâm nhập của môi trường và sự phát triển của ngôn ngữ. Lạ. Người Nam bộ tập kết ra Bắc hai mươi mốt năm ít thấy pha tiếng, nhưng người Bắc vào Nam dăm bảy năm tiếng đã cưng cứng khê khê như giọng Thanh. Lạ nữa. Tiếng Hà Nội 54 vào Nam rồi du cư sang Tây sang Mỹ, xa cách thế càng quyết tâm bảo lưu bảo tồn bảo thủ. Đi khỏi Hà Nội 1954, rời khỏi Sài Gòn 1975, ngôn ngữ sống trong lòng đôi ba người như một tiêu bản sống chia rẽ chiến tuyến. Một người phiên dịch trong cộng đồng mở miệng nói: Ngôi nhà này hiện đại nhỉ. Bị chấn chỉnh ngay: Đấy là nói giọng Cộng, phải nói là: Tòa Binđinh tân kỳ nhỉ. Nói sông núi đẹp tươi thì bị chỉnh thành ngôn ngữ của nửa thế kỷ trước: Non sông cẩm tú... Cố níu giữ tính chiến tuyến và giai cấp của ngôn ngữ. Còn giọng, nhiều ông bà già Việt Kiều đến bây giờ vẫn còn nói giọng 1954. Nghe lạ. Buồn cười. Quê quê thế nào. Tên cụ là Dư, chắc thế, cứ nhất quyết đòi viết đúng trong văn bản là Rư, phát âm cũng rung bần bật cả lưỡi lên, R-R-R-Ư, ngày xưa nhà cụ ở phố Thợ Ruộm, chứ không phải Thợ Nhuộm. Nhà văn Tô Hoài mỉm cười: Tiếng Hà Nội ngày xưa đấy. Vậy ư? Nhưng tiếng Hà Nội bây giờ khác rồi: tròn, sáng, trong, vang, sang, nhẹ. Lại vẫn nhà văn Tô Hoài: Nhưng hơi điệu.

(còn tiếp)

(*): Đầu đề này là do VMC đặt.
Ảnh Hồ Hoàn Kiếm của Bác sĩ Charles-Edouard Hocquard giai đoạn 1884 - 1885.

30/9/06

HÀ NỘI, CON THUYỀN, PHÙ SA (1)



Tiểu luận về Hà Nội của HỒ ANH THÁI

Đôi khi tôi tự hỏi cái ngày Lý Công Uẩn đến vùng bờ bãi phù sa ven sông Hồng, thấy những ráng mây vàng như một con rồng bay vút lên, chính ngày đầu tiên ấy ông đã ngắm con rồng Thăng Long trên mình ngựa hay trên thuyền?

Hình ảnh một con thuyền có lẽ hợp hơn với người đầu tiên đến chọn đất xây dựng nên Thăng Long. Không loại trừ sự tô vẽ của người đời rằng ông ngồi hùng dũng trên một thớt voi hoặc một con ngựa chiến. Nhưng dải đất phù sa nâu đỏ ven dòng sông cũng đỏ đòi người đến khám phá ra nó phải cưỡi trên một con thuyền đè trên đầu sóng. Những hồ nước khắp trên đất Thăng Long cũng muốn rằng người đầu tiên đến đây phải có một con thuyền. Phải là thuyền cơ. Mãi đến thời Hồ Quý Ly, như nhà văn Nguyễn Xuân Khánh miêu tả, cả vùng Thăng Long vẫn còn mênh mông hồ nước. Phương tiện phổ biến và an toàn vẫn là thuyền. Những con thuyền chập chờn luồn lách trong sương, qua lau sậy, mang chở trên đó bao nhiêu nỗi niềm, cả những mưu đồ bá vương.

Phải là thuyền. Sông dài bãi rộng. Trên bến dưới thuyền. Chài lưới. Canh tác lúa nước. Buôn bán vùng kẻ chợ. Người ấy cảnh ấy kéo dài ra đến một nghìn năm, đến bây giờ. Người bây giờ ngồi mà hình dung cứ tự đoán chắc với mình rằng Lý Công Uẩn ngày đầu đến đây bằng thuyền.

Chắc là thế. Bằng thuyền.

***

NGƯỜI HÀ NỘI GỐC (*)

Có lần tôi ngồi nghe chuyện nhà văn Tô Hoài, cũng là một nhà Hà Nội học trực nghiệm đáng tin cậy. Nhân chuyện người Hà Nội gốc, ông nói rằng hiếm có lắm, Hà Nội gốc họa chăng chỉ có mấy anh chàng đánh cá ven sông Tô Lịch.

Ừ nhỉ, ngay như nhà văn Tô Hoài đấy thôi. Ông vẫn được coi là một nhà văn hiếm hoi người Hà Nội còn lại với chúng ta từ đầu thế kỷ trước, nhưng mà trước năm 1945 vùng Nghĩa Đô quê ngoại ông hằng đi về vẫn còn thuộc tỉnh Hà Đông. Hà Nội khi ấy chỉ là một mảnh bé xíu của nội thành Hà Nội bây giờ.

Hà Nội gốc bây giờ tạm chấp nhận tiêu chuẩn có ba đời sinh ra ở Hà Nội. Ông nội tôi sinh ra ở đây, cha tôi sinh ra ở nơi đây, và tôi nữa sinh ra ở nơi đây. Thế thì tôi là người Hà Nội, cho dù những năm chiến tranh ly tán, cha mẹ tôi có phải bỏ Hà Nội dắt dìu nhau đi kháng chiến chống Pháp, cho dù những năm chống Mỹ có phải bồng bế tôi đi sơ tán về miền quê. Cho dù gốc gác tôi ở Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên, hay từ những tỉnh đồng bằng Bắc bộ không xa. Hay từ những nơi thật xa Nam bộ.

Nghe thế thì hiểu rằng Hà Nội gốc ba đời ở móng chân vẫn còn giắt bùn sông Hồng. Đầu thế kỷ XX vùng phố cổ bây giờ nước sông Hồng vẫn còn mấp mé liếm vào bến đỗ, rồi theo thời gian mới dùng dằng rút dần ra xa. Người Hà Nội gốc khi ấy vẫn phải làm nghề chài lưới. Bà buôn vẫn phải lăn xả xuống bến lội bùn lấy hàng lên. Ông đồ ông ký sao cũng có lúc phải lội nước lên thuyền hoặc lội qua bãi sông ngập nước mà về nhà. Hà Nội gốc mà móng chân vẫn giắt bùn là như vậy. Lá ngọc cành vàng, danh gia vọng tộc thật là một huyễn tưởng mong manh.

Thế thì người Hà Nội là những ai? Cũng như mọi thủ đô trên thế giới này thôi. Chưa đến London cứ tưởng người London nói tiếng Anh theo "kiểu thủ đô" rất chuẩn. Chưa đến Paris cứ tưởng người Paris chỉ toàn người sinh trưởng ở thủ đô hoa lệ. Những đô thị ở nước Mỹ thì khỏi nói, New York, Chicago, San Francisco, Los Angeles... Tất cả đều là những tụ điểm tập hợp dân tứ chiếng hay người tứ xứ cũng vậy. Khó mà tìm ra ở họ một mẫu số chung.

Hà Nội có lẽ cũng vậy thôi. Gốc gác ba đời ít ỏi đã nói ở trên. Đa số người Hà Nội bây giờ là "ngoại kiều". Những Thanh kiều, Nghệ kiều từ miền Trung ra. Từ Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Thái Bình lên. Từ phương Nam tập kết đến. Tinh hoa gốc rễ hun đúc ở đây. Tinh hoa từ mọi miền mang tới, giao kết hợp chủng mà tạo nên người Hà Nội. Lâu dần cứ cái gì thanh lịch, hào hoa, cao nhã, tinh tế... thì mặc nhiên đều được coi là của người Hà Nội. Chẳng cần phải rạch ròi phân định "của tôi trả tôi" làm gì.

Người Hà Nội là người sống trên dải đất ven sông Hồng. Người Hà Nội cũng là người Việt tới tận từng phân vuông vậy.

***

(còn tiếp)

(*): Đầu đề này là do VMC đặt.

Ảnh của Bác sĩ Charles-Edouard Hocquard giai đoạn 1884 - 1885.

 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết