30/11/2009

WORLD AIDS DAY



Sáng cuối tuần, đồng nghiệp gọi điện hỏi thăm:

- Cuối tuần cậu làm gì?
- Không làm gì cả. Đang nằm ườn trên giường thôi. Còn ông?
- Tôi chuẩn bị đi đám tang.
- Tang ai thế?
- Một đồng nghiệp.
- Sao mà chết.
- Ốm chết. Chính xác hơn là bị AIDS.
- Thế à. Thế nào mà lại dính AIDS.
- Thôi đừng hỏi. Anh ta là người tốt. Tai nạn thôi mà.

Vâng, tôi cũng tin như vậy. Thời buổi này mà một người có học bị dính AIDS thì đúng chỉ có thể là tai nạn.

Còn nhớ cách đây hơn 10 năm, một đám nhà báo trẻ, trưa tụ tập ăn uống, thấy một cậu môi sưng tấy bèn trêu: Này có khi ông bị AIDS.

Anh kia chống chế: "Không, mùa này tôi hay bị sưng môi như vậy"

Cả đám không buông tha: "Ông mà bị AIDS là nổi tiếng ngay, người ta sẽ nói: "Nhà báo đầu tiên bị nhiễm HIV".

Chàng trai tái mặt, cười gượng, lo âu lộ rõ trong mắt.

Mấy hôm sau, môi hết sưng, cậu nói: "Hôm nọ các ông làm tôi lo quá".

Chúng tôi thấy hối hận vì đã đùa quá trớn.

Nhân Ngày Thế giới phòng chống HIV/AIDS, chương trình thời sự VTV1 tối qua phát đoạn băng một người phụ nữ tuổi chừng 30 chao chác nói: "Chúng tôi cũng hiểu thôi, nhưng để con cái chúng tôi học chung với chúng (những đứa trẻ nhiễm HIV) một ngày thì được. Đây là cả năm cả tháng. Ai đảm bảo là con cái chúng tôi không bị lây nhiễm? Trẻ con hiếu động như thế, nhỡ ra, rồi ai chịu trách nhiệm."

Thế là nỗ lực đưa trẻ nhiễm HIV/AIDS hòa nhập cộng đồng đã không thể thực hiện được. Những đứa trẻ bất hạnh chỉ được dự lễ khai giảng ở trường, rồi lại trở về trại trẻ mồ côi, chơi đùa học hành với những bạn có chung hoàn cảnh.

Thử đặt ta vào vị trí cha mẹ có con học chung với trẻ nhiễm HIV/AIDS thấy cũng khó lòng mà yên tâm được.

Thời sự tivi tối nay lại phát một câu chuyện khác. Một người đàn ông có HIV cũng chừng 30 tuổi, phát biểu mà không cần các kỹ thuật viên truyền hình phải che mắt. Anh nói: "Bây giờ xã hội đổi khác rồi. Mấy năm trước thì khó khăn hơn đấy. Trước đi ra ngoài đường người ta cũng tránh. Giờ ra đường người ta quý lắm, bắt tay bình thường. Tôi đi làm với những người không nhiễm HIV cũng không có gì xảy ra. Thậm chí anh em còn mặc chung quần áo"".

Giá mà ở đâu cũng được như thế.



29/11/2009

ĂN MÌ GÓI MƠ NGÔI VÔ ĐỊCH



Xem trang Nhất báo Thanh Niên hôm nay, hẳn sẽ có người bảo: "Báo này công khai quảng cáo cho mì gói Omachi ngay trên trang Nhất. Đố ông nào dám phạt!"

Hai tuyển thủ U23 Việt Nam mặc đồng phục của đoàn thể thao Việt Nam tham dự SEAGames tại Vientiane (Lào) đẩy xe chở hành lý ra khỏi sân bay. Trên hành lý là thùng mì gói với nhãn hiệu Omachi rất bắt mắt. Pháp lệnh quảng cáo của Việt Nam cấm báo chí (in) đăng quảng cáo trên trang Nhất. Nhưng khó ai có thể bắt giò được Thanh Niên trong vụ này.

Nhìn các cầu thủ mang theo mì tôm (hay mì gói theo cách gọi của người miền nam), thậm chí một cầu thủ còn hý hoáy ký vào thùng mì vì sợ thất lạc mới thấy thương cho các cầu thủ. Họ đi thi đấu vì mầu cờ sắc áo của quốc gia, mà vẫn e ngại không ăn được đồ ăn của nước bạn. Trong trường hợp đó thì mì gói là thứ khả dĩ nhất có thể thay thế được.


Tôi cũng hay phải đi công tác nước ngoài, nhưng hầu như không bao giờ mang mì gói theo, vì luôn ép mình phải ăn tất cả những thức ăn có thể tìm thấy.

Năm 1998 trước khi đi hội thảo ở Agra - Ấn Độ, tôi nhận được lời khuyên của một người am hiểu Ấn Độ rằng cần mang mì gói theo vì đồ ăn ở nước này rất cay. Tôi mua 10 gói mì cho 5 ngày hội thảo. Nhưng tại KS Agra nơi hội thảo diễn ra họ cung cấp các món ăn continental (đồ ăn Âu), nên tôi không gặp khó khăn gì. 10 gói mì còn nguyên cho đến tận ngày cuối cùng. Tôi tặng chúng cho người phụ nữ dọn phòng. Chị vui mừng cứ cảm ơn tôi mãi. Đó là lần duy nhất tôi mang mì gói theo.

Có mấy lần đi công tác cùng đồng nghiệp, tuy không mang theo lương thực, nhưng tôi vẫn được chiêu đãi món mì gói. Đúng là chẳng có gì ngon hơn trong bối cảnh đồ ăn không hợp khẩu vị.

Tháng 7 năm ngoái, đi Vietnam Airlines từ Franfurt (Đức) về Hà Nội, gặp đúng cuộc đình công của công nhân hàng không Đức, các tiếp viên chiêu đãi hành khách mì tôm không hạn chế. Tôi phải ăn đến 3 gói mới dằn được cái đói.

Đến tháng 10 qua Mỹ tường thuật bầu cử tổng thống, bữa ăn sáng ở khách sạn quá dở, khiến tôi phải đi tìm mì gói. Nhưng chỉ mua được mì của mấy anh ba Tầu sản xuất, giá 1USD một gói, nhưng mùi vị không thể ngon bằng mì Việt Nam.

Quay lại chuyện các tuyển thủ mang theo mì gói. Điều này chắc hẳn khiến các cổ động viên phải chạnh lòng. Tại sao Liên đoàn Bóng đá Việt Nam, hay rộng hơn là Tổng cục Thể dục Thể thao không làm một điều gì đó để giúp các cầu thủ nói riêng và các vận động viên dự thi tại SEA Games nói chung tránh phải ăn mì gói. Sức trai như thế ăn bao nhiêu gói mới đủ no? Và chẳng nhẽ phải ăn mì gói để bảo vệ màu cờ sắc áo.

Bà con Việt kiều ở Lào khá nhiều. Có ai tổ chức nấu ăn cho các vận động viên thì tốt quá!



28/11/2009

KHÔNG TIỀN SỐNG MỚI HẠNH PHÚC



Xin nói ngay đây không phải là ý tưởng của tôi, mà là quan điểm sống của Mark Boyle, một người đàn ông Ireland, cử nhân kinh tế. Anh đã thực sự sống 1 năm trong trạng thái không một xu dính túi và thấy thật sự hạnh phúc vì cách sống này.

Anh sống trong một căn nhà di động ở Timsbury, tự trồng lấy lương thực và sử dụng lại những thứ mà người ta vất đi. Căn nhà này có trang bị hệ thống đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời. Mark đi lại bằng xe đạp, điện thoại chỉ nhận cuộc gọi đến, làm sạch rằng bằng thứ bột từ xương cá (???). Anh kiếm quần áo từ các bà các cô hoặc từ các website Freecycle.

Mark viết blog về cuộc sống của mình, sử dụng máy laptop bằng năng lượng mặt trời và thời gian wi-fi mà anh đổi công bằng một vài việc ở nông trại trong vùng. "Đây là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời tôi và chắc chắn tôi sẽ tiếp tục sống như vậy. Tôi không có bất cứ lý do nào để quay trở lại thế giới được định hướng bằng tiền" - Mark tâm sự.

Theo anh, thì anh được giải phóng hoàn toàn, không còn bị bất cứ sự căng thẳng nào vì các hóa đơn, tài khoản ngân hàng, kẹt xe và những giờ dài dặng dặc phải có mặt tại công sở. Điều khó chịu nhất của cuộc sống không tiền là không gặp gỡ được với bạn bè. Tuy nhiên, Mark vẫn không nuối tiếc: "Thay vì la cà quán xá, tôi đi cắm trại đốt lửa, chơi nhạc hoặc đi dạo".



Đầu năm ngoái, Mark dự định thực hiện cuộc đi bộ kỷ lục từ Anh đến Ấn Độ dài 9.000 dặm trong tình trạng không tiền. Họ sẽ làm việc để đổi lấy thức ăn và chỗ trú thân. Trước khi khởi hành cùng 2 người bạn, Mark nói: "Phần lớn vấn đề trong thế giới như lòng tham, sự sợ hãi, tình trạng bấp bênh đều là xuất phát từ tiền. Tôi lên đường và đặt lòng tin vào thế giới."

Nhưng chưa đầy 1 tháng sau đã buộc phải từ bỏ ý định, khi đặt chân đến Calais (thành phố Pháp, điểm đầu của đường ngầm xuyên biển Manche nối giữa Pháp và Anh). Nhà cầm quyền Pháp chẳng những không chia sẻ quan điểm hoang đường của Mark, mà còn buộc tội anh và hai người bạn là "những kẻ ăn bám".



27/11/2009

NƠI GIỮA ĐẠI HỘI VIỆT KIỀU - MỘT NỖI BÌNH AN



Nguyễn Hữu Liêm - Chủ tịch Hiệp Hội Doanh Nhân Việt-Mỹ

The State is the march of God on earth (Hegel)

Hà Nội: Như rứa mà qua ba mươi lăm năm, ngày tôi rời Việt Nam. Trưa ngày 30 tháng 4, 1975, đeo đu đưa trên chân đáp của chiếc trực thăng cuối cùng rời phi trường Cần Thơ, trên vai vẫn đeo súng, và vai kia mang túi xách, tôi đã thoát đi trong tiếng la hét hoảng sợ và cuồng nộ, bắn giết của đoàn quân đang tan vỡ. Trong hai mươi năm qua, tôi đã bao nhiêu lần về lại Việt Nam. Lần nào bước vào phi trường Tân Sơn Nhất, tôi vẫn luôn mang một nỗi sợ hãi thầm kín. Không biết là lần này mình có bị trục xuất hay không? Những ngày còn ở trong nước thì vẫn nghĩ đến chuyện công an “mời lên làm việc.” Tôi đã như là một đứa con ghẻ trên chính quê hương mình. Nhưng lần này, tôi về lại quê nhà với một tâm trạng khác. Tôi được chính thức mời trở lại Việt Nam.

Tôi vẫn phân vân suốt cả tháng trời là có nên đi dự “Đại hội người Việt ở nước ngoài,” hay “Đại hội Việt Kiều” (Đại hội). Với tư cách là chủ tịch của Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Mỹ, tôi có nhiều lý do để tham dự. Cùng về với tôi trên các đường bay khác là một phái đoàn bao gồm những thương gia và chuyên gia. Trên chuyến tàu từ San Francisco về đến phi trường Nội Bài ngày thứ Sáu 20 tháng 11, tôi chỉ đi một mình. Tôi để ý đến các cô tiếp viên Việt Nam cố gắng cười trên môi trong nỗi bực mình thể hiện qua lông mày vì những yêu cầu của khách hàng đi từ Đài Loan.

Vừa bước tới quầy thủ tục nhập cảnh ở Nội Bài, tôi đã được hướng dẫn vào lối đi dành cho đại biểu kiều bào về tham dự Đại hội. Một sĩ quan cấp tá đón tiếp tôi thân mật, tươi vui. Viên sĩ quan đóng dấu ngay lập tức vào tờ khai nhập cảnh và chào tôi nghiêm chỉnh với nụ cười. Tôi được hướng dẫn bới hai nhân viên khác đến một quầy tiếp đón. Xong rồi tôi ra xe đang chờ về khách sạn cùng với một số đại biểu từ Âu Châu. Đến khách sạn chúng tôi cũng được chào đón thân mật. Ở đâu, ở trên khuôn mặt nào, tôi cũng chỉ thấy những nụ cười, những lời chào hỏi trân trọng. Phòng trọ của tôi ở khách sạn Thắng Lợi, xây dựng bởi kỹ sư Cuba, nằm ngay trên mặt nước Hồ Tây. Tôi bước ra balcony, nhìn ra xa bên kia bờ là đường Thanh Niên và phố Thuỵ Khuê. Tôi chợt nhận ra một Hà Nội mà chưa bao giờ mình biết đến – dù rằng tôi đã đến xứ Thăng Long này biết bao lần.

Sau khi tắm rửa, thay quần áo, tôi đi xuống phòng ăn. Được gặp nhiều anh chị em, có người tôi từng quen biết, có người không. Những khuôn mặt tươi vui bắt tay nhau, như cùng hát vang bài của chàng Sơn thưở nọ, “Mặt đất bao la, anh em ta về, gặp nhau, mừng như bão táp quay cuồng. Trời rộng. Bàn tay ta nắm nối liền một vòng Việt Nam.” Ở trong khung cảnh này, tôi đọc được những tâm trạng không cô đơn của những con người nặng lòng với đất nước.

Tôi cảm ra rằng mình vui lên như đứa trẻ thơ – dù rằng trong ý thức tôi muốn chăm nhìn chính mình và các đại biểu Việt kiều từ một góc độ khác. Tôi muốn bắt chước Edmund Husserl đi xoi tìm một tinh hoa, về cái thực chất của tình yêu nước, trên cơ sở của hiện tượng học, một thể dạng tình cảm quê hương thuần chất trong con người Việt Nam – cái dân tộc tính đặc thù, sau khi đã loại trừ đi những yếu tố kinh nghiệm cá nhân và lịch sử. Ở trong và kinh qua tất cả những vọng động từ sử tính, trong khổ đau, qua thể chế, với đầy cực đoan và ngu muội, thì cái thực chất tinh thần yêu nước của con người Việt Nam, như là một thực tại thuần trừu tượng của khái niệm, qua biện chứng cuộc đời, có được nâng cao lên tới một thời quán tiến hóa mới? Hay là những người “phía tả” như chúng tôi vẫn là những đứa con trẻ đang lớn lên của thời tiền cách mạng khao khát một nguyên cớ lịch sử để hy sinh chính mình nhằm tìm ra chính mình?

Chuyến đi Đại hội này – tôi an ủi và tự đánh lừa chính mình – như là một dự án về biện chứng sử tính trong hiện tượng luận của Husserl. Triết học ở đây như là một chiếc áo còn quá rộng cho một chàng quê vừa lên tỉnh, hăm hở lý thuyết như con trâu đói ngấu nghiến nhai đám cỏ vàng úa giữa đồng hoang.

Tôi tìm đến Hussserl trong đoạn văn này. “Cuộc đời của con người, trên cơ bản tinh hoa phổ quát của nhân loại và văn hóa bản địa, nhất thiết phải mang yếu tính lịch sử. Nhưng đối với một con người khoa học, cuộc đời như là cuộc sống của khoa học, trên chân trời của cộng đồng những khoa học gia, thì nó đã đánh dấu một sử tính mới. Nó đòi hỏi một cuộc cách mạng cơ bản về ý thức sử tính. Đó là cuộc cách mạng về trái tim lịch sử trong ý thức sử tính của con người.”

Husserl, theo ngôn ngữ phiên giải của Derrida, viết tiếp, “Thứ nhất, đó là một sử tính tổng quan trong sinh mệnh con người khi nhân loại hiện thân và sống trong bối cảnh tinh thần và văn hóa của truyền thống. Cái tiếp theo và cao hơn là sự thức dậy từ tính kích động của văn hóa Âu châu, để tìm đến một dự án lý thuyết và triết học. Cuối cùng là sự chuyển hóa từ triết học đến hiện tượng học. Từ đó, mỗi chặng đường chuyển hóa, được đánh dấu bởi một cuộc cách mạng nhằm phá bỏ dự án cũ, thực ra chỉ là một tổng dự án, qua khả thể vô hạn hóa sử kiện, sử dụng giác quan để điều tra đến tận cùng cái chủ ý ẩn dấu của tập thể dưới tất cả những chuyển động lịch sử.” À ha!

Đây chính đã là dự án của Lý Đông A cho con người Việt Nam. Tôi xin vay mượn Đại hội Việt kiều, qua tinh thần Lý Đông A và phương pháp luận của Husserl, để suy tìm cho chính tôi, một nhận thức mới về “trái tim sử tính” của dân tộc Việt từ một trăm năm nay – từ khi truyền thống sử tính dân tộc Việt Nam bị kích động thức dậy bởi văn minh lý thuyết Tây Âu. Cái tôi muốn bước tới là cái mà Trần Đức Thảo, từ năm 1955, khi tôi vừa mới ra đời, đã về từ Paris đến Hà Nội cố gắng khơi mào một cách tế nhị và gián tiếp: Một cuộc chuyển hóa về sử tính từ ý thức ôm chặt bởi văn hóa truyền thống và bản địa hạn hẹp sang đến cõi sống thuần tinh hoa lý thuyết và triết học phổ quan. Ảo tưởng trí thức – dĩ nhiên. Nhưng đây là niềm vui tự tách rời của tôi. Nhưng tôi phải tự hỏi như Lý Đông A đã từng hỏi cả gần thế kỷ trước: Tất cả những khổ đau – và nỗi nực cười bi đát – mà cả dân tộc Việt Nam kinh qua đã phải cho một mục đích – tức là chủ ý tinh thần và tinh hoa cho sử tính Việt. Nó là gì?

Nó có phải là tinh thần dân tộc độc lập – một tinh thần tự do tập thể cổ điển – đang được chuyển hóa sang ý thức tự do – một tinh thần giảì phóng cá nhân? Hay rằng: Nó vẫn chỉ là một tinh thần thuần phản ứng, trên cơ sở dân tộc chủ nghĩa, được vẽ vời thêm bằng giáo điều vọng tưởng, cộng thêm một võng lưới vướng mắc từ quyền lực và quyền lợi, mà đảng Cộng Sản là hiện thân, đối với tính hiện đại từ Tây Âu đem đến?

Tôi muốn dựa vào phép biện chứng quốc thể (state), tức là các hình thái tổ chức, mà Đại hội Việt kiều này là một, và chính tôi, cùng các đại biểu Việt kiều, những người mang tinh thần dân tộc trong lưu vong, tương tác – như là một tiến trình đối ứng và thông hiểu, để chuyển hóa lẫn nhau – từ các nội dung đầy kịch tính chính trị đến những nỗi hồn nhiên mang nặng tính bi hài trong những con người đại biểu như chúng tôi. Tôi biết rằng không một ai đã bước vào lịch sử mà không làm một thánh tử đạo sẽ là – và khi chết không phải làm một tên hài kịch đã là.

Sáng sớm ngày hôm sau, thứ Bảy, 21 tháng 11, phái đoàn chúng tôi lên xe buýt – có xe cảnh sát hú còi mở đường – đi về trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình. Hà Nội, khi đi ra khỏi khu Ba Đình, là cả một công trường xây dựng. Các cao ốc thi nhau vươn lên. Có một cái gì đó mang ít nhiều tính bất cập, bất tương xứng giữa những con người và chế độ chính trị, và cả con người tôi thấy trên đường phố, đối với các cao ốc hiện đại đang được dựng cao. Tôi hình dung ra một tập thể nông dân thích ngắm tập tranh vẽ mây nước của Tàu đang tham dự một cuộc triển lãm hội họa đương đại. Ngôn ngữ khẩu hiệu cũng nhẹ nhàng đi. “Người Việt ở nước ngoài” thay cho “Việt kiều.” Chữ “Đảng” cũng thấy và được nghe rất ít. Những anh công an chính trị cũng luôn nở nụ cười, bắt tay. Cái biện chứng tương tác của ý chí thể thức đang lôi kéo các tâm hồn thượng cổ, làng mạc ra với không gian mới của thời đại – như các cô chiêu đãi viên Hàng không Việt Nam vẫn cố cười dù rất là không muốn.

Hay quá! Chủ nghĩa “chủ quan duy ý chí” của một đế chế chính trị khắt khe và nhiều sai lầm – như là ý chí lịch sử Việt Nam – đang đòi hỏi các con người mang sử tính liên hệ phải thay đổi. Hôm nay, cái bụng dạ thuần phản ứng phải uốn nắn theo thể thái ngôn ngữ và khuôn mặt chính mình theo “kinh tế thị trường.” Cái đang là của thực tế cuộc đời đang uốn nắn bởi cái phải là của thời thế. Tôi nhìn rõ được một dạng thức tương tác giữa ý chí và ý thức đầy mâu thuẫn này vốn đang đưa con người Việt Nam đi đúng đường, đúng hướng.

Qua đến ngày thứ hai của Hội nghị. Trong các khóa hội thảo chuyên ngành, tôi tham dự phiên “Trí thức và chuyên gia.” Có một giáo sư kiến trúc, về từ Pháp, tôi chỉ nhớ tên là Trường, khoảng 65 – 70 tuổi, đã tâm sự chuyện về Việt Nam giảng dạy suốt nhiều năm qua. Không lương bổng, và không được trả bất cứ chi phí nào, giáo sư Trường đã kèm dạy nhiều lớp sinh viên trong ngành xây dựng và kiến trúc, cũng như khiêm tốn làm việc với các ban ngành của chính phủ về các vấn đề xây dựng và quy hoạch thành phố. Tôi tự hỏi mình có làm được như thế không? Có làm như vậy mới xứng đáng với vai trò trí thức của mình. Tôi thầm vui mừng – và hãnh diện – vì trong hàng lớp nhà giáo gốc Việt ở hải ngoại đang có nhiều anh chị em về Việt Nam âm thầm làm việc, đóng góp như vậy. Không có chức năng lịch sử nào trọng yếu và tích cực hơn là vai trò khai sáng và chuyển giao ý thức. Dĩ nhiên, ý thức – mà tất cả chỉ là ý thức tự do – phải nằm trên cơ sở khoa học thực nghiệm, như Trần Đức Thảo đã dầy công phân tích.

Ngày thứ ba của Hội nghị, ở cuối phần bế mạc, tôi cùng đứng dậy chào cờ. Bài Tiến Quân Ca được vang cao trong cả hội trường. Lạ thật. Tôi chưa hề từng nghe Quốc ca Việt Nam (này) trong khung cảnh thể thức như thế. Từ ấu thơ đến bây giờ, tôi từng hát Quốc ca của miền Nam, trước năm 1963 thì cùng với bài hát buồn cười “Suy tôn Ngô Tổng thống.” Ba mươi bốn năm qua là Quốc ca Hoa kỳ xa lạ, Star Spangled Banner. Nay thì tôi lại nghe và chào Quốc ca Việt Nam và lá cờ đỏ sao vàng. Con người là con vật của biểu tượng. Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước. Tôi cảm nhận được một giòng điện chạy từ đáy lưng theo xương sống lên trên cổ trên đầu như là khoảnh khắc thức dậy và chuyển mình của năng lực Kundalini. Tôi nhìn lên phía trước, khi vừa hết bài Quốc ca, mấy chục cô và bà đại biểu từ Pháp đang chạy ùa lên sân khấu, vỗ tay đồng ca bài Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ – đang vổ tay hào hứng la to, Việt Nam! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước.

Trong không khí vang ầm của lời ca, tôi lại lắng nghe từ Paul Ricoeur, “Đây là ý chí hồn nhiên thứ hai, khi con người đã bước ra khỏi hồn nhiên thứ nhất, trở về lại để tìm ra nó như là một niềm hạnh phúc nguyên sơ.” Tôi thầm cảm thấy mình thật sự bình an khi đất nước này đã mở rộng vòng tay đón tôi trở về – dù tôi đã ý thức rõ ràng về sự khác biệt nhiều tương phản giữa quê hương và thể chế chính trị. Tôi biết và cảm thông được nỗi buồn vô hạn của những người trí thức đã từng bị trục xuất khỏi quê nhà khi về đến sân bay. Ôi tổ quốc ơi! Sao mà ngươi khó khăn và khắc nghiệt thế? Cho dù tôi có cố gắng khách quan hóa ý thức đầy sử tính của mình, cái tinh chất thuần ý thức mà hiện tượng luận muốn đi tìm vẫn chỉ còn là một ẩn số lớn.

Ngày hôm sau, thứ Ba, 24 tháng 11, trên suốt chuyến bay để “đi” California – không phải là “về” như bao lần – tôi thấy chính mình đang mang tiếp được một nỗi bình an ngày hôm trước. Quê nhà đã đón mừng và nhận lại mình. Tôi không còn sợ tổ quốc, sợ chế độ, sợ công an, sợ cộng sản. Bạn thấy không? Con người tôi vẫn là của thời quán thứ nhất – một anh nông dân trong làng chưa bước qua được giai thoại của một thứ dân tộc chủ nghĩa thô sơ và đầy uẩn khúc. Tôi chưa phải là con người tự do.

Xin chân thành cảm ơn tất cả. Ôi hỡi quê hương Việt Nam. Lần này, tôi đã thực sự trở về!

Nguồn: Blog Trương Thái Du
Ảnh: VNN, VNE

26/11/2009

THẬP KỶ TỒI TỆ NHẤT TRONG LỊCH SỬ



Tạp chí Time (Mỹ) gọi thập niên 2000-2009 là "thập kỷ tồi tệ nhất trong lịch sử".

Tại sao lại như vậy? Bởi thế giới đã phải chứng kiến những thảm kịch chưa từng thấy trong lịch sử.

Đó là:

1. Cuộc tấn công khủng bố nước Mỹ vào Trung tâm Thương mại Thế giới (World Trade Center) ở New York và Lầu năm góc ở Washington D.C. ngày 11.9.2001.

2. Sóng thần ngày 26.12.2004. Động đất ngoài khơi Sumatra (Indonesia) gây ra những cơn sóng thần khủng khiếp trên Ấn Độ Dương, cướp đi mạng sống của gần 300 nghìn người ở hàng chục quốc gia Đông Nam Á và Nam Á.

3. Bão Katrina đổ bộ vào nước Mỹ ngày 1.9.2005. New Orleans - một trong những thành phố đẹp nhất nước Mỹ, bị tàn phá. Sự chủ quan của người Mỹ đã khiến 1.836 người tử nạn.

4. Khủng hoảng tài chính toàn cầu, bắt đầu từ sự sụp đổ của thị trường chứng khoán ngày 13.9.2008.

Những cuộc chiến tranh ở Afghanistan, Iraq; những cuộc xung đột ở Lebanon, Israel, Palestine, Thái Lan, Tân Cương, Tây Tạng...; những cuộc khủng bố ở Mumbai, Beslan...; những vụ thiên tai khủng khiếp ở khắp nơi trên thế giới tô thêm màu sắc đen tối cho thế giới.

Nhưng chúng ta vẫn đang sống...

Ảnh: Một phụ nữ khóc than người thân bị chết trong thảm họa sóng thần.


25/11/2009

BẤT NGỜ VỀ MÚA


Vọng nguyệt

Có ai chủ tâm đi xem múa ở Việt Nam bao giờ không? Chắc là rất ít. Hôm kia tôi được mời đi xem múa. Không định đi, nhưng bà chị con bác (thân thiết với tôi hơn cả chị em ruột), hiện đang làm việc tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam (CĐMVN) , tha thiết mời, nên không nỡ từ chối.

Chẳng là trường kỷ niệm 50 năm ngày thành lập. Đây chính là ngôi trường mà Lê Vân nói tới trong hồi ký "Yêu và sống" gây xôn xao dư luận mấy năm trước. Trường này còn nổi tiếng vì một vài em chân dài xinh đẹp liên quan đến những vụ bê bối của các đại gia.

Tóm lại là nhân dịp tròn nửa thế kỷ, trường CĐMVN tổ chức chương trình "50 năm - Múa với thời gian" giới thiệu những tiết mục múa đặc sắc do các thầy cô giáo của trường biên đạo, hoặc dàn dựng lại từ những tác phẩm múa của nước ngoài: Múa dân gian VN, múa ballet, múa dân gian Nga, Trung Quốc, múa đương đại VN.


Chị tôi tất tả lo đón khách (vì có một số quan chức tới xem), đưa cho tôi vé và dặn: "Em cố xem đến hết nhé. Mấy tiết mục đầu có thể chưa hấp dẫn lắm, nhưng càng về sau càng hay đấy. Có cả Cao Chí Thành đấy". Tôi ậm ừ: "Được rồi, chị yên tâm".


Mở ngoặc đơn về Cao Chí Thành. Anh chàng này được báo chí mệnh danh là "Hoàng tử ballet Việt Nam" vì là nghệ sĩ ballet đầu tiên của Việt Nam đoạt giải tại một cuộc thi ballet quốc tế (giải tư Helsinki International Ballet Competition 2005). Cao Chí Thành là sản phẩm đào tạo 100% của Việt Nam.


Cao Chí Thành

Trong chương trình tối hôm kia, Thành trình diễn 2 trích đoạn kinh điển của múa ballet là
"Don Quixote" và "Diana và Acteon". Quả đúng là danh bất hư truyền. Tài năng đã được khẳng định của Thành lại một lần nữa tỏa sáng. Tôi thấy không có sự khác biệt lắm với các ngôi sao thế giới trong màn trình diễn của Thành. Điểm thêm một số ấn tượng nữa.

Tôi đặc biệt thích ba cô gái Kiều Anh, Tuyết Anh, Mai Linh trong tiết mục "Vọng nguyệt" (biên đạo: NSƯT Kiều Lê). Tiết mục này được dàn dựng theo phong cách "Cirque du Soleil" của Canada. Ba cô gái cho thấy họ thành thục cả kỹ năng múa dân gian (ở đây là múa dân gian Việt Nam), lẫn khả năng tạo hình của nghệ thuật xiếc để tạo thành một tiết mục đặc sắc.


Ballet Việt Nam đầu thập niên 1980 đã dàn dựng và trình diễn thành công những vở ballet kinh điển của thế giới như Spartacus. Thời đó, nam diễn viên Nga đảm nhận vai Spartacus, vai nữ do NSND Kiều Ngân. Giờ đây Kiều Ngân dựng lại trích đoạn trữ tình nhất của vở diễn với cặp đôi Hoàng Giang và Tuyết Dung. Hoàng Giang phù hợp với Startacus cả về hình thể lẫn sự mạnh mẽ, còn Tuyết Dung thì như sinh ra để múa vai này vậy. Cả hai đã chứng minh rằng họ có đủ kỹ năng và cảm xúc để trình diễn trọn vẹn một vở ballet cổ điển.

Tóc

Chương trình ghi nhận sự tiến bộ đáng kể trong trình độ biên đạo với những tiết mục đầy ngẫu hứng của các biên đạo múa trẻ. Trần Ly Ly thể nghiệm sự "đùa giỡn" với âm nhạc dân gian, nhịp điệu phóng túng với những cô gái mặc yếm trễ nải tạo nên một vũ đạo khó quên của tóc.

Một điểm yếu của múa Việt Nam đó là hình thể các diễn viên nam hơi mỏng manh, không tạo được sự mạnh mẽ đẹp mắt. Biên đạo múa Hồng Phong đã khắc phục được điều đó trong "Quốc ấn - Tâm thư" với những động tác khoáng đạt và nam tính. Tiết mục khắc họa chân dung sĩ phu Bắc Hà trong khung cảnh Văn Miếu tạo được hiệu ứng nhìn khá hiệu quả.
Quốc ấn - Tâm thư

Nhưng tạo hiệu quả sân khấu mạnh nhất phải kể đến "Gạo mới" (NSƯT Kiều Lê biên đạo). Các cô sơn nữ múa mừng hội mùa rộn ràng trong vũ khúc của tre và kết thúc với màn thoát y táo bạo và gợi cảm, nhưng lại đầy thẩm mỹ.

Tôi không bỏ về như chị tôi lo ngại lúc đầu, vì các tiết mục cuốn hút từ đầu đến cuối. Hai tiếng đồng hồ trôi qua thật nhanh và chương trình kết thúc trong sự thòm thèm của khán giả. Nếu cứ múa thế này thì ai bảo nghệ thuật múa khủng hoảng nhỉ?


Ảnh: Nguyễn Thanh Hà

24/11/2009

NGÀY MƯA Ở CỐ ĐÔ NGA


Đến Saint Petersburg đúng vào ngày mưa.
Thành phố vẫn đẹp - một vẽ đẹp não nùng, khiến ta phải nao lòng.




Những cây cầu trong mưa



Sông Neva
Đại lộ Nevsky

Chiến hạm Rạng Đông

Nhà thờ Spass na Krovi qua cửa kính xe buýt

Chú lính về phép.

Cha con anh Adrey Pyatko, từ bán đảo Kamchatka cách xa 12 nghìn km
đến thăm cố đô Nga.




 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết