22/4/11

THƯ GỬI NGƯỜI SẮP LẤY VỢ



Bạn thân mến,

Nhận được thư này qua bưu điện, bạn sẽ ngạc nhiên vì “thời @” mà lích kích viết lách, lại phải tem, phong bì, rồi mất công đi gửi, trong khi chỉ gõ phím, lích chuột là xong, nhưng lâu lâu tớ lại thích cầm cây viết mực, tâm tư, tình cảm và bao chuyện muốn trao đổi cứ hiện dần trên trang giấy trắng, thích lắm. Biết đâu bạn cũng đồng cảm với tớ.

Bây giờ tớ cũng rơi vào hoàn cảnh như mấy năm trước bạn gặp phải, nên không thể không thư cho bạn để sẻ chia.

Những kinh nghiệm trong tình yêu mà bạn truyền đạt cho tớ, tớ chỉ thấy hai kinh nghiệm là “có lý”.

Đó là khi chưa yêu, cũng như bạn, tớ vạch ra bao tiêu chuẩn, ví như không được “chân dài” thì cũng “trung dài”, da không được trắng trẻo mịn màng thì cũng sem sem, không cử nhân thì cũng phải tú tài, gia đình không giàu có thì cũng thường thường bậc trung, không thật nhanh nhẹn thì cũng phải hoạt bát...

Nhưng gặp nàng lần đầu trong khi cùng tập thể cổ vũ cho đội tuyển U23 qua tivi ở Nhà Văn hóa Thanh niên, lập tức tớ bị hút hồn mà không kịp “đối chiếu” với tiêu chuẩn chọn người yêu do chính mình đề ra!

Sau này nghĩ lại, nàng hút hồn tớ là do nàng sở hữu một khuôn mặt bầu bĩnh với làn da ngăm ngăm, mắt tròn, ngã nâu, nụ cười thân thiện. Sự nổi trội bề ngoài ấy đã làm tớ thua 0-1, trong khi đội bóng mà mình cổ vũ thắng đậm đối phương 3-1.

Cái “có lý” thứ hai là bạn đã đúng khi triết lý với tớ rằng: Người ta chỉ có thể tỉnh táo khi chưa yêu, còn một khi đã yêu thì không còn trí khôn nữa. Đúng là trí khôn của tớ bị nàng lấy mất.

Chẳng hạn, sau khi nàng im lặng trước lời yêu của mình (im lặng tức đồng ý, hình như đó là chuyện thời nay hơi bị hiếm) thì nàng bảo gì mình cũng nghe. Nàng cần một tháng 4 lần đi chơi đâu đó.

Lãng mạn thật, và tớ cũng thích sự lãng mạn ấy, nhưng ngặt nỗi túi tiền mỏng quá. Thế là phải giảm thời gian làm học trò ở giảng đường để làm thầy giáo tại gia.

Nàng giận dỗi vì bó hoa tớ tặng không “hoành tráng”, chẳng hạn sinh nhật năm thứ 22 thì phải 22 bông hồng thật to, thật tươi, mà tớ thì chỉ đủ sức mua hai bông tượng trưng, nên phải cố.

Lâu lâu nàng hẹn shopping, cố không để choáng váng quật ngã, tớ lại “cày”, lại mì tôm, để có thể xăng xái trả tiền cái áo thun năm bảy trăm ngàn mà nàng chọn.

Hôm sau nàng hỏi mà như khoe “Đẹp không anh?”, tất nhiên là tớ phải “Ôi, nàng tiên của anh!”. Rất may là đến ngày thành hôn thì tớ bỗng dưng “phục hồi trí khôn”.

Nàng bày ra một lễ cưới với một đoàn xe “mẹc” mui trần đón dâu, với nhà hàng Rex, với thiệp hồng cả trăm ngàn một tấm, trước đó thì Hạ Long, Đà Lạt (may mà chưa Paris, New York) quay phim, chụp ảnh.

Tớ chia sẻ với nàng ước mơ ấy, kiểu như chia sẻ tiệc tùng linh đình với các nhân vật ảo trong các trò chơi điện tử, chớ không thể vay mượn để tổ chức đám cưới “5 sao” rồi đến già chưa chắc trả xong nợ. Nghe nợ, nàng sợ, thế là tớ thoát nạn!

Nhưng tớ lại gặp rắc rối chuyện khác. Đó là hình như nàng là một phần của bộ não tớ, bởi tớ nghĩ gì, vì sao lo lắng hay vui buồn, nàng đều tỏ tường, tỏ tường để chia sẻ thì có thể được, nhưng để vặn hỏi, lại vặn hỏi quá nhiều lần thì chẳng thằng đàn ông nào chịu nỗi.

Chẳng hạn, một lần tớ cùng nàng đi chợ, gặp cô bán hàng vừa trẻ vừa xinh, tớ chuyện phiếm mấy câu, vậy mà nàng cứ cằn nhằn mãi: “Trong đầu anh luôn luôn có hình ảnh cô ta”.

Hình ảnh cô ta có xuất hiện trong đầu tớ thật, nhưng chỉ lúc ấy thôi, chứ đâu phải luôn luôn! Tớ chỉ cần nàng yêu chứ không cần hiểu tớ đến từng ý nghĩ, hiểu nhiều như thế, khó sống lắm!

Người ta nói, mấu chốt của hạnh phúc trong hôn nhân là sự tương hợp. Từ điển tiếng Việt định nghĩa tương hợp là chịu đựng được nhau, không mâu thuẫn, loại bỏ nhau. Nếu thế thì tớ và nàng ngày càng không tương hợp, tức là khó mà chịu đựng được nhau mãi.

Vì sao ư?

Tính thích xài sang luôn hiện hữu trong người nàng. Tỷ như cái tủ lạnh còn chạy ngon vì mới mua được hơn năm, nàng gom lương tháng của hai vợ chồng mua cái khác cho “mô đen” như nhà người ta.

Cái tivi “siêu phẳng”, hình ảnh và âm thanh chưa có gì đáng phàn nàn, nàng bắt thay loại LCD mười mấy triệu đồng, tớ phải méo mặt mượn tiền ông bà già tớ, mượn mà không biết có trả được không.

Áo quần mình đang mặc, còn tốt nguyên, tự dưng nàng bắt thay toàn đồ mới cho nó bằng anh bằng em. Nhưng sâu xa, có thể nàng muốn tớ phải diện hàng hiệu cho xứng với những bộ đồ sang trọng của nàng. Đúng là các ông bà nông dân sống với nhau yên ổn hơn giới trí thức tụi mình thật!

Tớ nghĩ, trong cuộc sống chung, người ta ít quan tâm đến trình độ học vấn mà quan tâm nhiều đến trình độ giáo dục, nghĩa là anh ấy (hay chị ấy) đã được giáo dục như thế nào.

Một người được giáo dục tử tế, lối sống của họ khác với người ít được giáo dục từ bé. Nàng được giáo dục tử tế nhưng theo cách của con nhà giàu xổi, tức buôn bán bất động sản trúng một vài lô đất khá lớn, thừa sức xây biệt thự vườn, thừa sức tiêu pha đồ ngon vật lạ, nên bây giờ dù đã có gia đình riêng, sống bằng đồng lương, vẫn quen ăn xài thoải mái.

Đứa con đầu lòng của vợ chồng tớ cứ ốm đau hoài một phần cũng do chế độ ăn. Nàng tìm mua những loại sữa đắt tiền nhất qua quảng cáo, ruột gan thằng bé chưa kịp thích nghi, mẹ đã đổi sữa mới vì xem tivi thấy có loại ăn vào vừa cao to vừa thông minh.

Kết quả là thằng bé còi cọc hoài do không quen thay đổi sữa liên tục nên cứ uống vào là nôn. Hộp sữa, loại sữa cho con, coi đơn giản vậy mà vì nó mà vợ chồng có thể “bất đồng quan điểm”, chẳng khác nào các quan chức bất đồng quan điểm trên chính trường.

Tớ thì như bạn biết, không phải nhà nghèo, nhưng quyết tự lập từ thời sinh viên, nên tiêu pha vừa phải để không phải xin tiền ba má hay vay mượn người quen.

Người ta khó chịu với nhau về lối sống khác biệt là vì vậy. Nói thì nói thế nhưng con người ta sinh ra, tính tình, tư cách một phần còn do “trời định”, cái gì thành thói quen thì khó sửa lắm, trừ khi vì một mục đích nào đó, như để vợ chồng tương hợp chẳng hạn. Tiếc rằng nàng không có mục đích đó.

Mỗi người tự đặt cho mình những tiêu chuẩn cần có của bạn đời mà về sau hầu hết đều nhận thấy những tiêu chuẩn ấy chẳng có gì đảm bảo cho hạnh phúc. Và sự tỉnh ngộ muộn màng khiến người ta đau khổ. Phải thế không bạn?

Thân thiết,

VĂN BÌNH

Nguồn:
Tương hợp



21/4/11

CÂU HỎI



Bình nguyên này lúa không trổ bông mà trổ hoa
Bởi nông dân toàn là thi sĩ

Con đường này ngựa xe tan hoang
Bởi xe ngựa chở toàn thi sĩ

Con sông này đục khiến cá vỡ mắt
Bởi xác thơ phơi trắng mặt dòng

Dải núi này cỏ không mọc nổi
Bởi dấu chân chằng chịt hội tao đàn

Đành ném lên trời xanh câu hỏi:
Có thật đất này nhiều thi sĩ thế không?

NGÔ MAI PHONG



20/4/11

TẢN MẠN VỀ LỀU CHÕNG



LÂM VIỆT

Người học ngày nay vẫn nơm nớp với những gì không thật sự giá trị như nhớ đúng, thuộc đủ những công thức, những ý tứ máy móc để quên mất điều quan trọng hơn là sự chủ động trong tư duy và hứng thú sáng tạo. Sự thiếu hụt, bỡ ngỡ bị xem là tối dạ; cách sao chép, mô phỏng được cho là cứng cáp, là tiềm năng.

Thú thực, xem xong bộ phim Lều chõng của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân (Hãng phim TFS sản xuất) dễ đến cả tuần lễ sau tôi vẫn bị ám ảnh. Bộ phim dựa trên một truyện dài cùng tên của nhà văn Ngô Tất Tố xoay quanh câu chuyện về anh học trò tài năng Đoàn Vân Hạc bị hỏng thi hết lần này lần khác vì nhiều lí do khác nhau. Có điều, tất cả những lần thi hỏng ấy đều từ những lí do khách quan như ốm đau, hay quy phạm ngặt nghèo của trường thi mà tài năng kiệt xuất ấy đã không được trân trọng và lựa chọn. Không chấp nhận những rủi ro liên tiếp như định mệnh, Đoàn Vân Hạc vẫn bản lĩnh vượt qua tất cả trong lần dự thi cuối cùng. Tưởng như đã chạm được một tay vào danh vị thủ khoa năm ấy thì bỗng dưng anh biến thành kẻ trắng tay trong phút chốc.

Giấc mộng công danh biến mất, màn ảnh nhỏ khép lại, người xem thấy tiếc cho một tài năng, thấy bức bối với quy định nghiệt ngã của xã hội cũ và có thêm một suy cảm mới mẻ: Nhìn lại chuyện bút nghiên ngày nay, vẫn còn quá nhiều rào cản và thử thách không đáng có ngăn trở bước tiến của những tài năng trong cuộc sống hiện đại.

Trong suốt gần một ngàn năm tồn tại, các kì thi này đã tuyển chọn, cất nhắc được nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng mà không câu nệ vào tuổi tác như trạng Nguyễn Hiền 13 tuổi hay tướng mạo xấu xí, quái dị như Mạc Đĩnh Chi. Tuy nhiên, ở giai đoạn thoái trào của các tập đoàn phong kiến, đã xuất hiện những quy định phiền hà, oái oăm đánh trượt nhiều tài năng. Trước sự vận động của thời cuộc, đòi hỏi tìm kiếm những người có tài năng, cá tính mạnh mẽ. Có tư duy linh hoạt bứt phá thì những chuẩn mực lạc lõng kia thực sự là những rào cản nghiệt ngã. Sự tồn tại của nó xuất phát từ quan niệm ấu trĩ về cách đánh giá và lựa chọn hiền tài dựa trên những tiêu chí máy móc. Nó buộc người ta phải vượt qua những may rủi của con đường thiên lý đến những sự tránh né, kiêng kị trong câu cú, gò mình trong khẩu khí.

Chuyện lều chõng tưởng cũng đã xưa. Vậy mà bất giác lại khiến tôi nghĩ đến một kỷ niệm. Nhớ lại cái ngày còn bé, gia đình tôi còn ở một bản miền núi. Tôi hiểu vào đời lập nghiệp thiêng liêng thế nào khi chứng kiến anh trai mình dậy từ gà gáy khăn gói về Hà Nội thi đại học. Hai giờ sáng xe chạy, mất gần hai ngày rong ruổi đủ cả ngủ trọ, cơm nắm, cơm đùm, qua bao đèo dốc quanh co… Đêm trước ngày thi, Hà Nội lại có cơn giông lớn, cây đổ gây ách tắc nhiều ngả đường, phố xá ngập lụt. Đường đến cổng trường đại học của những thí sinh năm đó lại đằng đẵng thêm một quãng nữa. Có phải số anh tôi vất vả hay cái nghiệp thi cử thời nào cũng gian nan thế ư? Sau này lớn lên tôi hiểu, điều ấy được đổi lại bằng sự công tâm của những kì thi mà nếu đưa về các địa phương hay lồng ghép "2 trong 1" thì thật là khó…

Vài năm sau gia đình tôi chuyển về gần Hà Nội. So với anh cả, tôi và các em tôi được làm “người phố xá” nên thấy cái gì cũng lợi, cũng tiện, hơn hẳn những học trò vùng xa xôi. Quá khứ thi cử nhọc nhằn của anh giờ chỉ còn là chuyện kể vui tai trong bữa cơm của đại gia đình. Có lẽ, những con đường mòn lầy lội kia đã vĩnh viễn nằm dưới lớp bê tông, chiếc xe khách cà tàng ba ngày chạy về Hà Nội một chuyến đã vào một bãi sắt vụn nào đó. Nhưng hoá ra không phải, những phương tiện hiện đại đã giúp người học bớt đi một phần sức lực nhưng vẫn còn đó quá nhiều những rào cản không đáng có bởi những quan niệm cũ kĩ.

Thời phổ thông, học trò căng sức với các môn thi đại học. Kiến thức đa phần nằm trong quyển vở ghi lời lẽ của thầy. Thế mà vào đại học chúng tôi cứ vấp hết thứ này đến thứ khác. Những thứ khó vì lạ chứ không phải vì đòi hỏi trình độ tư duy. Nào là: cách đọc sách, cách lập dàn ý, cách viết tiểu luận, làm việc theo nhóm, seminar… mà lần đầu tiên đã là lần đánh giá trình độ.

Có phải vì đã là sinh viên (được coi là có học) là phải biết rồi chứ! Phải sẵn từ trước đó. Người phương Tây cho rằng, để chuẩn bị cho toàn cầu hoá nền giáo dục, họ sẽ bắt đầu xây dựng từ cấp phổ thông. Bởi lẽ, họ muốn trang bị cho học trò những kĩ năng trước khi vào cuộc đua tri nhận kiến thức và tư duy ở các cấp học cao hơn. Nói cách khác, mọi học sinh đều ngang tầm nhau về trang bị và hồ hởi đua sức. Khi đó việc đánh giá, phân loại sẽ dễ dàng và chính xác biết bao. Thế mà học trò của ta lắm khi cứ bị “bé đi”, bị “trầy xước” bởi việc làm quen với những thao tác kia trước khi nhập cuộc đua tri thức.

Ngẫm lại mới thấy sự ám ảnh với chiếc lều chõng là có lí thật. Dẫu rằng, ngót trăm năm qua những thứ gianh tre kia đã mục nát lâu rồi. Đó là một gánh nặng khác. Gánh nặng của những quy tắc đã lỗi thời mà ở những nền giáo dục tiên tiến không còn tồn tại. Đó là người học vẫn nơp nớm với những gì không thật sự giá trị như nhớ đúng, thuộc đủ những công thức, những ý tứ máy móc để quên mất điều quan trọng hơn là sự chủ động trong tư duy và hứng thú sáng tao. Sự thiếu hụt, bỡ ngỡ bị xem là tối dạ, cách sao chép, mô phỏng được cho là cứng cáp, là tiềm năng. Như thể ta mãi chú ý cái tầm cao của tên lửa mà quên nhìn lại cái mấp mô, lổn nhổn của từng bệ phóng cho tri thức.

Cũng như muôn vàn bình diện khác của cuộc sống, giáo dục đang tự làm mới mình bằng những thay đổi đáng kể trong những năm gần đây. Công bằng mà nói chuyện thi cử của chúng ta ngày nay cũng rất nghiêm túc. Nhưng cớ sao chuyện tìm kiếm và đào tạo nhân tài vẫn còn nhiều điều bất cập. Có lẽ chỉ khi nào chúng ta dũng cảm từ bỏ được những quan niệm cũ thì nỗi ám ảnh ấy không còn nữa. Như thế con đường lập nghiệp bằng chữ nghĩa mới thật sự rộng mở với mọi người.

Ảnh: Các cảnh trong phim "Lều chõng"

Nguồn:
Tản mạn về lều chõng



19/4/11

SỨC QUYẾN RŨ CỦA VĂN HỌC MỸ LATINH


Gabriel Garcia Márquez

TRẦN NGHI HOÀNG

Có thể nói sự thành tựu của văn học Mỹ Latinh hiện nay đã có một quá trình lâu dài mà cốt lõi là khởi đi từ văn học truyền khẩu qua những truyền thuyết bí nhiệm. Tuy nhiên, để chứng minh sự hiện diện hết sức nghiêm túc của nó trong nền văn học toàn cầu, và tạo nên một sức hút đáng kinh ngạc, văn học Mỹ Latinh đã phải trải qua nhiều biến động lớn trong một lịch sử phức điệu.

Khởi đi từ văn học truyền khẩu

Vì sao văn học Mỹ Latinh có một sức hấp dẫn lạ kì như vậy? Tôi tin không hiếm người đã có lần bần thần tư lự với câu hỏi này. Từ nửa sau của thế kỷ 20, văn học Mỹ Latinh bừng sáng lên với tính toàn cầu do sự thành công quốc tế của phong cách được gọi là magical realism (chủ nghĩa hiện thực huyền bí). Như vậy, văn học Mỹ Latinh hiện đại thường được liên kết hầu như duy nhất với phong cách này. Và tiêu biểu lẫy lừng hơn hết là Gabriel Garcia Márquez, nhà văn người Colombia, Nobel Văn chương 1982.

Gabriela Mistral

Tuy nhiên, trước Gabriel Garcia Márquez và chủ nghĩa magical realism, văn học Mỹ Latinh cũng đã xuất hiện những tài năng kiệt xuất, như nhà văn, nhà thơ người Argentina Jorge Luis Borges (1899 –1986), được giới văn học thế giới xem như một nhà văn surrealist (siêu thực) rất thế giá. Hay nhà thơ người Chile Gabriela Mistral (1889 – 1957), nữ tác giả Mỹ Latinh đầu tiên thắng giải Nobel năm 1945.

Và sau Márquez, văn học Mỹ Latinh vẫn tiếp tục rực rỡ trong văn học thế giới với ba giải Nobel cho nhà thơ Chile Pablo Neruda 1, nhà thơ - nhà văn Mexico Octavio Paz, và nhà văn Peru Mario Vargas Llosa.

Trước đây, người ta biết đến văn học Mỹ Latinh như một tổng hợp của văn học truyền khẩu và văn học văn bản với ngôn ngữ chủ yếu là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, còn lại là một vài ngôn ngữ bản địa của châu Mỹ.

Từ thời kỳ văn hóa tiền Columbus, văn học Mỹ Latinh chủ yếu là truyền khẩu, mặc dù có những dân tộc như người Aztec và Maya đã có những cuốn kinh thánh chép tay hết sức tỉ mỉ công phu. Văn hóa truyền khẩu thời này hầu hết nằm trong hai lãnh vực thần thoại và tín ngưỡng tôn giáo, đã được ghi chép lại từ sau sự xuất hiện của những người thực dân châu Âu. Như là trường hợp với Popol Vuh 2. Truyền thống chuyện kể bằng miệng vẫn tồn tại đến ngày nay trong vài dân tộc như số cư dân nói tiếng Quechua ở Peru và Quiché của Guatemala.

Jorge Luis Borges

Từ lúc Columbus tìm ra Tân Thế Giới, những nhà thám hiểm đầu tiên sau Columbus và những conquistadores 3 đã có những văn bản giống như sử biên niên và ghi chép sự kiện kinh nghiệm. Như những bức thư của Columbus về chuyến phiêu lưu của ông ta và việc tình cờ khám phá ra lục địa châu Mỹ hay Bernal Díaz del Castillo mô tả cuộc chinh phục Mexico.

Chuyện khôi hài là, thi thoảng, đám thực dân lại khuấy động những cuộc tranh luận sôi nổi về “đạo đức” của thực dân và tình trạng của các “con dân” bản-thuộc-địa, thí dụ như những ghi chép trong A Short Account of the Destruction of the Indies của Bartolomé de las Casas, nhà sử học, nhà cải cách xã hội người Tây Ban Nha, đồng thời là thầy dòng Dominican. A Short Account of the Destruction of the Indies biên niên những thập kỷ đầu tiên của thực dân Tây Ban Nha trên vùng phía Tây của người Da Đỏ bản địa, tập trung đặc biệt vào các hành động tàn bạo của thực dân áp đặt trên các dân tộc bản địa. Những Mestizos 4 và người bản địa cũng đóng góp không ít vào một nền “văn học thuộc địa”.

Những tác giả như El Inca Garcilaso de la Vega và Guaman Poma đã có những ghi chép về các cuộc chinh phục của Tây Ban Nha cho thấy những sự thực thường tương phản với những ghi chép của phía thực dân cầm quyền. Trong thời kỳ thuộc địa, văn hóa văn bản thường nằm trong tay các nhà thờ, trong đó có Sơ Juana Inés de la Cruz 5 đã viết những tiểu luận triết học đáng nhớ và những bài thơ nhân bản.

Cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, một truyền thống văn học đặc biệt gọi là Criollo 6 xuất hiện. Criollo đã cho ra đời những cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong đó có José Joaquín de Fernández Lizardi của El Periquillo Sarniento (1816). Nhiều “Libertadores” (giải phóng quân) đồng thời cũng là những nhà văn đặc sắc, như nhà quân sự và chính trị gia Simón Bolívar hay nhà lập pháp và chính trị gia Andrés Bello, đều là người Venezuela.

Carlos Fuentes

Thế kỷ 19 là thời kỳ của “foundational fictions” (chữ của nhà phê bình, GS Doris Sommer, Đại học Harvard), những tiểu thuyết thuộc các truyền thống lãng mạn và tự nhiên, trong chủ tâm thiết lập một ý thức về bản sắc dân tộc hay nguồn cội. Tập trung vào vấn đề bản địa hay sự phân đôi của “nền văn minh hay man rợ” để tìm kiếm những nhận diện, có thể kể đến nhà văn Colombia Jorge Isaacs với tiểu thuyết duy nhất María (1867); nhà văn, cũng là Tổng thống thứ bảy của Argentina Domingo Sarmiento với Facundo (1845); nhà văn, cha đẻ của nền văn học Ecuador Juan León Mera Martínez với Cumandá (1879); hoặc nhà văn Brazil Euclides da Cunha với O Sertões (1902).

O Sertões là một tác phẩm ghi chép phi hư cấu quan trọng về các cuộc viễn chinh quân sự được Chính phủ Brazil thúc đẩy đối với các làng nổi loạn của Canudos, được gọi là War of Canudos (Chiến tranh Canudos). Cuốn sách này là tác phẩm yêu thích của nhà thơ danh tiếng người Mỹ Robert Lowell, người đã đặt nó ở trên cả tác phẩm của Lev Tolstoy, nhà văn Nga vĩ đại. Cuốn sách đã được dịch sang tiếng Anh nhờ Samuel Putnam và do NXB ĐH Chicago ấn hành năm 1944. Đến nay, công trình này vẫn còn là nền tảng của giáo luật quốc gia và nằm trong danh sách những tác phẩm được giảng dạy trong các trường trung học.

Một điển hình khác trong văn học Mỹ Latinh thế kỷ 19 là José Hernández, người Argentina, tác giả trường ca Martin Fierro (1872). Đây là một cuốn sử thi kinh điển của văn học gauchesque, thể loại văn học nói về những cuộc chiến đấu của tầng lớp “chăn bò” khốn cùng. José Hernández bắt đầu viết Martin Fierro trong thời gian lưu vong ở Brazil sau thất bại ở cuộc chiến tại Naembé (1870).

Rubén Darío

Văn học Mỹ Latinh thời kì Modernismo (hiện đại) cuối thế kỷ 19 xuất hiện tập thơ Azul (1888) của Rubén Darío 7 người Nicaragua. Đây là tác phẩm Mỹ Latinh đầu tiên trong phong trào văn học chịu ảnh hưởng ngoài biên địa. Và cũng có thể xem như là tác phẩm “thực sự” Mỹ Latinh đầu tiên, mà trong đó sự khác biệt quốc gia không còn là vấn đề đáng quan tâm.

Một hiện diện nghiêm túc trong văn học toàn cầu

Hành trình của văn học Mỹ Latinh còn rất nhiều những biến động và vô số những tác giả quan trọng kỳ thú khác mà người viết không thể hoàn tất qua giới hạn của một bài báo. Có thể nói sự thành tựu của văn học Mỹ Latinh hiện nay đã có một quá trình lâu dài mà cốt lõi là khởi đi từ văn học truyền khẩu qua những truyền thuyết bí nhiệm. Tuy nhiên, để bước vào văn học hiện đại, và tạo nên một sức hút đáng kinh ngạc qua chủ nghĩa hiện thực huyền bí, văn học Mỹ Latinh đã đi vào thời kỳ Modernismo rồi Boom 8 và Post-Boom 9. Đó là những biến động cận đại của văn học Mỹ Latinh mà chắc rằng có nhiều người đã biết.

Nhà văn Argentine Jorge Luis Borges sáng tạo ra hầu như là một thể loại mới trong văn học, với những truyện ngắn có tính triết học. Ông trở nên nhà văn có tầm ảnh hưởng rất lớn chẳng những với tất cả những nhà văn Mỹ Latinh, mà còn với cả những nhà văn châu Âu và châu Mỹ. Nhà phê bình văn học nổi tiếng người Mỹ Latinh Harold Bloom viết như sau: “Trong số tất cả các tác giả Mỹ Latinh của thế kỷ 20 này, Luis Borges là người phổ quát nhất... Nếu bạn đọc một cách thường xuyên và chặt chẽ Borges, bạn trở thành một cái gì đó của một Borgesian, vì đọc Borges là kích hoạt một nhận thức về văn học, trong đó ông ấy đã đi xa hơn so với bất cứ ai.”

Pablo Neruda

Vào thế kỷ 20, thơ ca trong văn học Mỹ Latinh thường bộc lộ cùng lúc tình yêu và sự quyết tâm chính trị. Đặc biệt nhất và có thể coi như mẫu mực là nhà thơ Chile được giải Nobel, Pablo Neruda, người mà Gabriel García Marquez từng tuyên xưng là “nhà thơ vĩ đại nhất của thế kỷ 20, trong bất kỳ ngôn ngữ nào.”

Thơ của Neruda gợi mở tính dục như một cái đẹp của sự bi thương… Thử đọc một bài thơ của Pablo Neruda:

Carnal apple, Woman filled, burning moon
Carnal apple, Woman filled, burning moon,
dark smell of seaweed, crush of mud and light,
what secret knowledge is clasped between your pillars?
What primal night does Man touch with his senses?
Ay, Love is a journey through waters and stars,
through suffocating air, sharp tempests of grain:
Love is a war of lightning,
and two bodies ruined by a single sweetness.
Kiss by kiss I cover your tiny infinity,
your margins, your rivers, your diminutive villages,
and a genital fire, transformed by delight,
slips through the narrow channels of blood
to precipitate a nocturnal carnation,
to be, and be nothing but light in the dark.

Xác thịt táo, no nê đàn bà, trăng cháy
Xác thịt táo, no nê đàn bà, trăng cháy,
Mùi rong biển tối ám, vầy vò lòng bùn và ánh sáng,
Tri ​​thức thầm kín gì bị siết chặt giữa các trụ cột của em?
Đêm ban sơ nào mà Con Người đã chạm vào bằng các giác quan của hắn?
À, Tình yêu là một cuộc hành trình xuyên lòng biển và các ngôi sao,
Thông qua không khí ngột ngạt, cơn bão sắc bén của bản chất:
Tình yêu là một cuộc chiến tranh của sấm sét,
Và hai thân xác bị hủy hoại bởi một vị ngọt duy nhất.
Từng nụ hôn từng nụ hôn tôi phủ trùm lên sự vô cùng nhỏ bé của em,
Những mép bờ của em, các con sông của em, những làng mạc xíu tị của em,
Và một đám cháy tình dục, chuyển đổi bởi niềm khoái cảm,
Trượt trôi qua các kênh hẹp của máu
Để kết tủa thành một đóa cẩm chướng đêm,
Để được, và không là gì, chỉ ánh sáng trong bóng tối.

(TNH chuyển ngữ)

Gabriel García Márquez tất nhiên là tiểu thuyết gia vĩ đại hàng đầu của châu Mỹ Latinh trong thế kỷ 20. Chẳng những thế, One Hundred Years of Solitude (Trăm năm cô đơn, 1967) là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của văn học thế giới thế kỷ 20. Luis Borges cho rằng “One Hundred Years of Solitude là Don Quixote của châu Mỹ Latinh.”

One Hundred Years of Solitude (tiếng Tây Ban Nha: Cien años de Soledad) của Gabriel García Márquez là một cuốn tiểu thuyết kể câu chuyện về nhiều thế hệ của gia đình Buendía, người tộc trưởng, José Arcadio Buendía, sáng lập thị xã Macondo, và các ẩn dụ Colombia. Câu chuyện phi tuyến tính là thuật thông qua các khung thời gian khác nhau, một kỹ thuật xuất phát từ nhà văn người Argentina Jorge Luis Borges. Cuốn sách biểu trưng cho phong cách hiện thực huyền bí được nồng nhiệt đón nhận khắp nơi, được tôn xưng là một kiệt tác, đã được dịch sang 37 thứ tiếng, bán hơn 20 triệu bản.

Mario Vargas Llosa

Và năm ngoái, thêm một lần, văn học Mỹ-Latinh lại thể hiện sự quyến rũ và chứng minh sự hiện diện hết sức nghiêm túc của nó trong nền văn học toàn cầu với giải Nobel dành cho nhà văn Peru Mario Vargas Llosa, người được một số nhà phê bình đánh giá là có ảnh hưởng lớn với độc giả thế giới hơn bất kỳ nhà văn nào khác của Mỹ Latinh trong thời kỳ Boom. Ông được trao giải Nobel cho “những lí giải về cấu trúc quyền lực và hình ảnh sắc bén về sự kháng cự, nổi dậy và thất bại của con người cá nhân”.

Như vậy, sự thành tựu hiện nay của văn học Mỹ Latinh cũng đã trả cái giá rất trường kỳ và tận tụy nhiêu khê của nó. Nó xứng đáng để toàn thế giới chiêm ngưỡng và chiêm nghiệm.
-----------
CHÚ THÍCH:
1 Pablo Neruda (1904 – 1973) là bút danh của nhà thơ, chính trị gia người Chile Ricardo Reyes Basoalto Neftalí. Ông chọn bút danh này để tưởng mộ nhà thơ Czech, Jan Neruda. Neruda luôn luôn viết bằng mực màu xanh lá cây vì nó là màu của hy vọng.

2 Popol Vuh là ngữ liệu thần thoại lịch sử về vương quốc cổ Quiché, ở phía tây cao nguyên Guatemala. Popol Vuh có tính năng nổi bật là đã tạo ra những huyền thoại như câu chuyện sử thi về các anh hùng như cặp song sinh Hunahpú và Xbalanqué và các sinh vật lạ lùng trong đó.

3 Conquistadores: chữ dùng chỉ những người Tây Ban Nha đi xâm chiếm Trung và Nam Mỹ.


4 Mestizo là thuật ngữ được sử dụng ở châu Mỹ Latinh và Tây Ban Nha cho những người pha trộn, bố mẹ là một người châu Âu và một người Mỹ bản xứ.


5 Sơ Juana Inés de la Cruz (1648 (tồn nghi 1651) – 1695), là nữ học giả tự học và nhà thơ của trường phái Baroque. Mặc dù sống trong thời kỳ khi Mexico là một phần của Đế quốc Tây Ban Nha, ngày nay bà được xem là một nhà văn hàng đầu của lịch sử văn học Mexico viết bằng tiếng Tây Ban Nha.


6 Các Criollos (số ít: Criollo) là một tầng lớp xã hội trong hệ thống đẳng cấp của các thuộc địa ở nước ngoài được thành lập bởi Tây Ban Nha vào thế kỷ 16, đặc biệt là ở châu Mỹ Latinh. Họ là những người dân sinh tại địa phương thuộc địa nhưng nguyên gốc bố mẹ tổ tiên là thuần hoặc đa số là Tây Ban Nha.


7 Rubén Darío (1867 - 1916), nhà thơ Nicaragua, người khởi xướng phong trào văn học Tây Ban Nha - Mỹ, là một tên tuổi Modernismo lừng lẫy vào cuối thế kỷ 19. Ông đã được ca ngợi là “Prince of Castilian Letters” tức là “Hoàng tử của ngôn ngữ Castilian”, thứ ngôn ngữ Tây Ban Nha mẫu mực; và là bậc thầy không thể tranh cãi của phong trào văn học Modernismo. Darío còn được kính trọng như một nhà ngoại giao lớn của Nicaragua.


8 Phong trào văn học của những năm 1960 và 1970 khi tác phẩm của một nhóm tiểu thuyết gia người Mỹ Latinh tương đối trẻ được xuất bản rộng rãi ở châu Âu và trên toàn thế giới. Phong trào này gắn liền với tên tuổi của các nhà văn như Julio Cortázar (Argentina), Carlos Fuentes (Mexico), Mario Vargas Llosa (Peru), và Gabriel García Márquez (Colombia)...


9 Thời kỳ một số nhà văn cảm thấy thành công của thời kỳ Boom là gánh nặng và muốn thoát ra khỏi ảnh hưởng áp đảo của chủ nghĩa hiện thực huyền bí trong văn học Mỹ Latinh thời kỳ Boom.



Nguồn:
Sức quyến rũ của văn học Mỹ Latinh

Entries liên quan:
NHÀ VĂN PERU ĐOẠT GIẢI NOBEL
CHẤP NHẬN NHỮNG CON QUỶ TRONG MÌNH



18/4/11

NGOẠI ẤM NỘI LẠNH



(Trích truyện ngắn của HỒ ANH THÁI)

Ông nhà văn là một người bạn khác của tôi. Thời chiến, ông đi lính sang Việt Nam mười tám tháng, và khi trở về Mỹ ông viết sách chống chiến tranh. Thế rồi cách đây dăm năm, một cựu binh Mỹ tìm đến nhà văn kể câu chuyện của mình. Gần bốn mươi năm trước, người ấy đã bắn chết một chiến sĩ của quân đội nhân dân Việt Nam trong một cuộc chạm trán bất ngờ. Anh ta mang cuốn sổ tay của người lính Việt về Mỹ, cất giữ từ bấy đến nay, bây giờ nhờ nhà văn mang sang Việt Nam trả lại.

Cuộc tìm kiếm gia đình người lính Việt Nam, sau đó là việc đi tìm hài cốt người lính Việt ở nơi chiến trường xưa đã được nhà văn kể lại trong cuốn sách mới nhất của ông. Đám bạn bè Việt chúng tôi cho rằng ông không nên trực tiếp gặp gia đình liệt sĩ. Ông có thể nhờ hội cựu chiến binh chuyển giúp.

Không ai có thể nói trước gia đình liệt sĩ sẽ phản ứng thế nào trước một người đến từ đất nước đã gây ra chiến tranh và giết chết con em mình. Kẻ sát nhân có thể khuất mắt đâu đó. Đằng này hắn ta sẽ hiện diện ngay trong nhà người bị giết. Mặc dù nhà văn chỉ là người đem trả giúp cuốn sổ, nhưng điều đó có thể gây tổn thương trầm trọng cho gia đình.

Đời sống thực có thể làm nên những chuyện lạ lùng. Và kỳ diệu. Nhà văn mang cuốn sổ tìm về quê hương của người đã chết, trả lại cho gia đình. Ba năm sau, ông thu xếp cho người cựu binh Mỹ kia trực tiếp đến. Gia đình người đã hi sinh cho phép kẻ giết con em mình đến. Sau đó lại cho phép đi cùng gia đình lên Tây nguyên tìm mộ liệt sĩ và đưa hài cốt anh về quê.

Khi hai người Mỹ đến làng, dân làng đội khăn tang, đổ ra khóc như làm tang cho một người vừa mới chết hôm qua. Người vợ của liệt sĩ, bây giờ đã đi bước nữa, cũng trở về chịu tang. Anh cưới chị mới được có bốn ngày thì lên đường chiến đấu, rồi không bao giờ trở về nữa.

Gia đình liệt sĩ không hài lòng với người vợ của anh. Đến giờ họ vẫn còn lạnh lẽo với chị. Dạo anh mới nhập ngũ, có lần đơn vị anh đóng không xa. Gia đình gợi ý chị lên thăm chồng, hi vọng chuyến ấy chị sẽ có thai. Đã thúc giục hẳn hoi. Nếu hồi ấy chị đi thăm chồng thì biết đâu bây giờ giọt máu của anh vẫn còn lại với gia đình.

Nhà văn Mỹ có hỏi chuyện chị, bây giờ đã là một người đàn bà hơn sáu mươi tuổi. Lúc cưới nhau, cả hai anh chị mới mười tám. Mới hẹn hò nhau vài ba lần, mới chỉ dám hôn nhau mỗi một lần phía sau cái miếu thành hoàng làng mà đã có người nhìn thấy. Tin đồn lan khắp làng là đôi ấy thế nào cũng phải lấy nhau. Một đồn mười, mười đồn trăm thế nào mà ra chuyện hai anh chị đã ăn cơm trước kẻng, đã hủ hóa với nhau rồi. Thành ra cưới cho anh lên đường nhập ngũ mà như là cưới chạy.

Mấy tháng sau nghe tin đơn vị anh chuyển về đồng bằng. Một chị bạn cùng làng lên đấy thăm chồng về kể chuyện rộn ràng cả lên. Chị ấy một mình đạp xe tám chục cây số lên thăm chồng. Đơn vị có khu nhà tạm dành cho khách hẳn hoi. Khách nào đâu, toàn là vợ lính. Hầu hết toàn chị sồn sồn cưng cứng cả rồi. Mỗi cặp được phân cho một buồng. Buổi tối, chồng ra đấy gặp vợ mà tranh thủ. Tranh thủ. Ngôn ngữ lính thời chiến đấy. Có cả chú lính chưa tròn mười tám, lần đầu hoảng cả lên, nửa đêm phải chạy sang đập cửa nhờ đồng đội chỉ vẽ. Đồng đội ở phòng bên cạnh thì đã có hai con, gái cả, lần này hi vọng vợ lên sẽ có thằng cu.

Nghe chị bạn tả mà khiếp. Cả một dãy nhà khách suốt đêm giường chiếu cứ cót két cọt kẹt râm ran. Mình mà lên đấy, nữ thanh niên mười tám tuổi, nhìn mặt là người ta đã biết lên để xin con. Thì con chồng mình chứ con ai, nhưng thanh niên thời đại mới xã hội chủ nghĩa, nó vẫn cứ thế nào. Chị tự bảo thôi, để hôm nào đấy anh ấy về nghỉ sẽ tranh thủ. Tranh thủ. Lúc ấy thì tha hồ mà con.

Nhưng anh không có dịp nào tranh thủ. Anh đi luôn. Gia đình anh bốn chục năm qua vẫn như là hờn trách chị.

Nhà văn Mỹ sau đó có nói lại chuyện của chị với mấy anh chị em của người liệt sĩ. Bữa giỗ cải táng hài cốt liệt sĩ trở thành bữa cơm hòa giải. Nghĩ mà thương lắm chị dâu, một anh đọc câu thơ (*). Mấy anh em gọi, chị dâu ơi, đàn bà không uống rượu, nhưng chị lên đây nhấp với linh hồn anh, nhấp với chúng em một chút. Chén cay chén đắng chén ngọt chén bùi.

Chuyện thế là có hậu. Nhưng về sau ông nhà văn vẫn đôi lúc băn khoăn tự hỏi. Tại sao? Gia đình liệt sĩ đã có thể bỏ qua hận thù, tha thứ cho người lính Mỹ đã bắn chết con em họ. Vậy mà tại sao mấy thập kỷ họ không thể xua đi sự lạnh lẽo với người vợ của anh?

Nhiều khi giữa đồng bào với nhau lại không hề dễ dàng như dàn xếp với bên ngoài. Có hai ông người Việt định cư ở Mỹ đã lâu, nhất định không nhìn mặt nhau, ác cái họ đều là bạn tốt của nhà văn Mỹ, phải nhờ đến ông Mỹ làm trung gian. Cái sự không dễ với nhau ấy có phải là một trong những điều dai dẳng nhất mà đám ngoại bang đã để lại ở nơi chiến trường xưa.
____

(*) Nghĩ mà thương lắm chị dâu/ Chiều mưa, gạo hết, mẹ đau cuối giường (thơ Vương Trọng, trong bài Chị dâu)

Minh họa của Hoàng Tường

Xem toàn bộ truyện ngắn tại đây



17/4/11

NGƯỜI GIÀ HI-TECH



Vừa về đến nhà, chị Thu thấy khói bay mù mịt trước sân. Bà Sáu, mẹ chị mồ hôi lấm tấm, hì hục quạt lửa nhóm bếp làm món thịt nướng. “Nhà có lò nướng điện sao má không xài?”, “Nướng lò điện còn cực hơn”, bà Sáu trả lời con.

Tụi nhỏ nhà chị Thu rất thích ăn món bún thịt nướng do bà ngoại làm. Nhưng mỗi lần làm món này là bà ngoại phải mang bếp ra sân nhóm rồi nướng thật vất vả. Hôm rồi, siêu thị điện máy bán hàng khuyến mãi nên chị Thu mua ngay cái lò nướng. Bà Sáu loay hoay làm đúng theo chỉ dẫn của con gái mấy ngày trước. Vậy mà… “Thịt thà ướp ngon lành vậy mà bị cái bếp quái quỷ đó làm cháy khét hết. Hiện đại kiểu gì, chịu khó nướng than như từ trước giờ là ngon nhất”, bà Sáu than phiền.

Con cái có lòng

Con cái thường có xu hướng muốn trang bị những thiết bị tiện ích giúp cha mẹ già thoải mái hơn trong sinh hoạt. Thế nhưng, có nhiều chuyện lòng muốn nhưng sự không thành. Chẳng hạn như bà Thanh ở quận 11, chỉ biết sử dụng điện thoại bàn. Tính bà lại thích đi đây đó thăm bà con. Con cái không an tâm, bèn mua cho bà một chiếc điện thoại di động để tiện liên lạc. Sau một tuần “tập huấn” bài bản, lưu vào danh bạ số điện thoại cần thiết, gọi đi gọi lại cho quen. Vậy mà, các con bà nhiều phen tá hoả vì không thấy mẹ đâu, điện thoại không nghe máy, có khi lại không liên lạc được. Mỗi “sự cố” là một lý do khác nhau. Khi thì bà gói kỹ chiếc điện thoại trong mấy lớp vải rồi nhét kỹ dưới túi đồ vì sợ mất. Khi thì điện thoại hết pin, không nghe chuông reng…

Cuối cùng, bà trả điện thoại cho con: “Má không thèm xài cái điện thoại này nữa. Thứ đồ gì đâu mà khó xài. Đang nói chuyện thì tắt ngang, hư luôn rồi”.

Bà Hồng, 60 tuổi, ở quận Tân Bình được con mua tặng nào là nồi cơm điện, máy giặt, tủ lạnh… Nhưng hàng ngày bà vẫn lọ mọ giặt quần áo bằng tay vì máy giặt hao tốn điện, nước, giặt không sạch, khó xài. Trễ giờ cơm vì bà quên bấm nút nấu. Thỉnh thoảng, tủ lạnh lại có sự hiện diện lạ của vài món đồ do bà bỏ quên.

Cha mẹ lạc lõng

Ông Quảng, 66 tuổi, ở Vĩnh Long lên Sài Gòn thăm gia đình con trai. Con trai, con dâu đi làm suốt, đứa cháu trai năm tuổi ở nhà chơi với ông. Cháu ông mê game, suốt ngày ngồi ôm máy vi tính. Ông chỉ còn cách ngồi cạnh xem cháu chơi. Đang chơi, đột nhiên thằng bé quay sang ông nói: “Con phải đi tiểu, ông nội chơi giùm con một chút. Ông nội cứ cầm con chuột nhấp nhấp như vầy nè”. Một lát sau thằng bé quay ra, nhìn màn hình khóc ngất: “Ông nội làm con chết rồi nè!” Ông Quảng lúng túng: “Nội có biết gì đâu”. Bị tù túng, đụng cái gì cũng sợ bị hư nên ở nhà con được hai ngày ông Quảng về quê cho thoải mái.

Các chuyên gia tâm lý cho rằng, người càng lớn tuổi thì khả năng tiếp thu cái mới càng kém. Công nghệ hiện đại phục vụ đời sống càng nhiều khiến không ít người lớn tuổi lâm vào tình trạng lạc lõng ngay trong chính ngôi nhà của mình.

Nấu một nồi cơm bằng bếp điện hay đơn giản gọi một cú điện thoại cũng khiến cha mẹ già phải chật vật. Bà Thuỷ, 70 tuổi, ở quận Phú Nhuận rất thích xem phim bộ tình cảm của Hong Kong.
Phim băng lỉnh kỉnh đã được thay thế bằng các đĩa phim nhỏ gọn hơn. Bà phải học cách sử dụng đầu đĩa thay cho đầu máy trước đây. Đứa cháu gái được giao nhiệm vụ hướng dẫn bà ngoại cách sử dụng. Nhưng, chỉ hoài mà bà vẫn không biết sử dụng. Vậy là, nó đâm bực, không thèm chỉ nữa.

Con cái cần kiên nhẫn

Khách đến nhà chị Khánh ở quận Bình Tân chơi đều tỏ ra thán phục khi thấy mẹ chị ngồi chơi trò Kawai trên máy vi tính thật “chuyên nghiệp”. Chị Khánh cho biết: “Chỉ mỗi trò này là thích hợp, vừa luyện trí nhớ, vừa luyện tay linh hoạt hơn. Cũng phải kiên nhẫn hướng dẫn lâu lắm bà mới thành thạo như vậy”.

Chị Xinh, con bà Thuỷ kể, chị không để cháu hướng dẫn bà nữa. Chị dành thời gian hướng dẫn mẹ từ từ. Ban đầu là học cách tắt mở máy, bà thành thạo rồi mới hướng dẫn các thao tác khác. Chị chia sẻ kinh nghiệm: “Nên mua thiết bị đơn giản, ít thao tác để cha mẹ dễ sử dụng. Đồng thời cũng đảm bảo an toàn cho các cụ khi xảy ra sự cố. Tuy phải hướng dẫn hơi lâu nhưng khi rành rồi thì bà cứ thế mà làm”.

Còn anh Bình ở quận 4 kể chuyện tình cảnh nhà anh như trong chuyện ngụ ngôn thời xưa. Số là, đang lúc bận rộn nhưng cứ bị cha kêu hỏi hoài về cái nút tắt mở vi tính. Anh bực mình, làu bàu. Một bữa nghe thằng con đọc truyện về người cha lú lẫn hay hỏi bị con cằn nhằn. Lúc nhỏ con trẻ hỏi thì cha vẫn luôn nhỏ nhẹ trả lời. Anh thấy mình đã không phải.

Minh Cúc

Nguồn:
Giúp cha mẹ làm quen với hi-tech



16/4/11

ĐỐM LỬA ĐỜI NGƯỜI



TRUNG TRUNG ĐỈNH

Thuở thiếu thời, thỉnh thoảng mẹ lại sai tôi sang hàng xóm “xin lửa”. Tôi cầm trên tay cây đèn Hoa Kỳ nhỏ xíu, chạy lút cút sang nhà bà Đào, thập thò ngoài ngõ, thấy bà đang ngồi giần gạo, liền tới bên: Mẹ cháu bảo cháu sang bà xin tí lửa. Bà Đào kéo tôi vào góc nhà, moi trong cái túi thắt lưng cũ kỹ cái máy lửa. Cái máy lửa! Đó là điều kỳ diệu đối với trí tưởng tượng của tôi.

Bà mở nắp thận trọng, khum tay, bật từng nhát chắc nịch. Nhưng không phải lần nào ngọn lửa cũng hiện ra ngay. Có lần bà bật đến mỏi tay mà chỉ thấy lửa lóa lên yếu ớt.

Bà lấy kim băng gại gại cái bấc, rồi tháo nắp sau, phồng má thổi, rồi lại thận trọng bật những nhát chắc nịch, ngọn lửa vàng khè, khói cay giàn nước mắt. Bà bảo hết dầu (quê tôi gọi dầu hỏa là dầu lửa).

Tôi lớn lên bằng thứ ánh sáng đèn dầu đỏ cạch. Thầy tôi là một “bác khóa”, thường bảo tôi đi ngủ sớm, sáng mai, khi con chích chòe lửa hót trên cây thị trước nhà thì thầy gọi dậy học bài. Học bài lúc đói, không học lúc no. Ngọn đèn dầu của tôi để trên cái mâm giống như chõng tre nhỏ làm bàn, tôi trùm chăn học.

Thầy tôi cũng khoác cái chăn chiên ngồi trên giường, thõng chân xuống đất, trước mặt là cái cánh cửa được kê lên hai cái niễng để làm bàn. Thầy tôi vẽ cuốn thư, vẽ tranh “Anh hùng tương ngộ”, “Tam anh chiến Lã Bố”, “Tứ quý”, “Tứ bình”, “Cuốn thư” , “Câu đối”... Ai đặt gì vẽ nấy. Vừa vẽ vừa trông tôi học. Tôi học bài gì đều phải đọc to lên để thầy cùng nghe, trừ khi làm toán.

Tuổi thơ tôi lớn lên bằng những chiều Đông mưa phùn gió bấc, bọn trẻ trâu rủ nhau nhặt củi ven sông rồi đốt lửa vừa để cho ấm, vừa để nướng khoai, nướng chuối, nướng cá, nướng cua. Các thứ “nướng” ấy đều tình cờ bắt được nơi ruộng đồng.

Thế rồi chiến tranh, thế hệ tôi rời những ngọn lửa chân đê vào lính. Đêm trước ngày tôi ra đi, mẹ tôi ngồi chò chõ bên bếp lửa. Sáng ra, trong hành trang của con trai mẹ có gói xôi ám khói và mấy con cá rô nướng cũng ám khói.

Chúng tôi được luyện quân trên đỉnh Yên Tử, chung quanh doanh trại, đêm đêm những đốm lửa linh thiêng trong các ngôi chùa cùng tiếng mõ gõ nhịp đều đều, tiếng tụng kinh cầu nguyện cho đất nước sớm thanh bình tạo nên sức mạnh thầm kín nuôi dưỡng tâm hồn những người lính trẻ.

Và “đêm hạ sơn” của chúng tôi mới trọng đại làm sao! Những đốm lửa đuốc dân bản đứng dọc theo bìa suối, thấp thoáng hiện lên những gương mặt, những ánh mắt lấp lánh ánh lửa tiễn đưa...

Và, ánh lửa lân tinh trên trốc ba lô đồng đội đưa chân chúng tôi trên đỉnh Trường Sơn. Đốm lửa đèn tín hiệu của má Năm trong ấp chiến lược báo cho các "con Giải phóng" biết đêm nay có địch.

Đám cháy khổng lồ mùa đốt rẫy, lửa bắt nắng hanh, bốc ngợp trời; bếp lửa nhà sàn, các bá, các mí đêm đêm chờ cánh lính Bắc về sưởi ấm sau mỗi lần đánh đồn; rừng lửa đuốc ngờm ngợp núi đồi và thảo nguyên ngày phá ấp.

Ngọn lửa dịu dàng khi em ngực trần vỗ kloongput hát những bài dân ca sâu thăm thẳm tình người, tay nắm tay, bắp vế kề bắp vế, nhảy múa điệu dân vũ bốc lửa theo men rượu cần cùng bốc lửa. Đêm lửa rừng mừng nhà rông mới, bụng trai làng gái làng có lửa quên gian khổ khó khăn.

Mắt nàng H’Bia Đá bốc lửa cùng chàng KơSorTít quay tròn bên bếp than hồng, mắt người già người trẻ trong nhà rông cũng đều rực lên ánh lửa tình yêu. Lửa từ thuở cha ông tìm ra nơi hốc đá bìa nương còn truyền tụng đến tận bây giờ; những điệu múa, những bài hát mềm như lửa. Lửa làm nên sức sống và niềm hân hoan của người lao động.

Tôi giờ đây đã hai thứ tóc, lòng luôn khắc khoải hướng về đốm lửa chân đê, đốm lửa tuổi thơ xin của nhà người hàng xóm luôn dè sẻn nhưng tốt bụng vô cùng. Tôi vẫn thường thấy bóng mẹ tôi trong bếp đun nồi cám lợn, rồi mẹ cời than trấu rấm bếp ủ cái nồi cám to cho mẹ con con lợn sề lúc nào cũng hau háu đòi ăn, rít lên rộn cả chiều.

Đôi lúc tôi lại thấy bóng thầy tôi ngồi im phăng phắc trong đêm, trước mặt người là ngọn đèn nhòe nhoẹt khuya, bất chợt bốc lên, thầy tôi vung bút múa trên tấm vải căng trước mặt, tạo nên những tuyệt tác mà chỉ có cái trong lành của hồn quê nơi thôn dã mới tạo ra được vẻ đẹp huyền bí nhưng cũng gần gũi xiết bao với một đời người.

Vâng, với một đời người, vì tuổi tôi bây giờ cũng trạc tuổi thầy tôi hồi ấy, vậy mà những khoảnh khắc tưởng như bình thường thuở thiếu thời đã theo tôi cho mãi đến bây giờ, tưởng như mới hôm qua hôm kia, mới vừa đấy thôi...

Nguồn:
Đốm lửa đời người



 

VMC Copyright © 2009 | Power by Blogger | Template redesigned by Lý Minh Triết